Chương 5: Mạch Đất Rạn Nứt

Từng đàn ong khoái vẫn chao liệng trĩu nặng trên vòm lá mít ngàn năm, tiếng đập cánh rền rĩ như tiếng đá cuội cọ xát dưới đáy vực sâu. Cụ Côn đứng lặng bên bọng đõ trăm tuổi, lòng bàn tay áp sát vào lớp vỏ gỗ mốc thếch. Dưới thớ gỗ dày, cụ cảm nhận rõ từng đợt chấn động nhỏ li ti đang truyền lên, tựa hồ mạch đất dưới chân đang nghẹn ngào rên siết.

“Về thôi các cháu,” cụ Côn khẽ nói, bàn tay vỗ nhẹ lên bờ vai áo nâu ướt đẫm mồ hôi của An Khang. “Rừng tạm yên, nhưng lòng đất thì chưa nguôi giận đâu.”

Đêm đó, bản Vực Ong chìm trong sự ngột ngạt đến bức bối. Trở về ngôi nhà gỗ bên bờ suối Mật, cụ Côn chẳng thể chợp mắt. Suốt canh ba đến canh tư, cụ chống gậy ra khoảnh vườn sau. Ba mươi sáu bọng đõ gỗ mít treo dưới rặng tre và giàn mướp vốn là chốn đi về êm ả của bầy ong, nay lại phát ra những âm thanh râm ran kỳ lạ. Từng túm ong thợ bu bám ken đặc ngoài cửa đõ, quạt cánh liên hồi nhưng tuyệt nhiên không chịu chui vào trong xây cầu sáp hay trữ mật. Bầy ong chúa bồn chồn phát ra chuỗi âm thanh the thé giục giã, như muốn dứt áo bỏ tổ mà bay đi lánh nạn.

Mộc linh căn trong lồng ngực cụ Côn nhói buốt theo từng nhịp đập của đàn ong. Lão thợ mộc ngoài trăm tuổi ngước nhìn vầng trăng khuyết mờ mờ sau màn sương xám, lòng trĩu nặng âu lo. Đàn ong vốn mẫn cảm nhất với sự suy thịnh của đất trời; khi chúng từ chối đan sáp dệt tổ, ắt hẳn sinh khí của mảnh đất này đang bị đục khoét đến tận tủy xương.

Trời vừa hửng sáng, tiếng la khóc thất thanh từ phía đầu làng đã xé toạc màn sương sớm.

“Trời phật ơi! Giếng khơi làng mình bị ma ám rồi!”

Cụ Côn rảo bước thật nhanh ra ngõ, theo sau là An Khang đang xách theo chiếc gàu sòng bằng tre cật. Tại bãi đất chung đầu bản, hàng chục người dân tụ tập quanh chiếc giếng khơi đá ong cổ kính. Tiếng xì xào, than khóc xen lẫn những ánh mắt bàng hoàng, khiếp đảm.

“Cụ Côn đã đến! Xin bà con dãn ra cho cụ thợ vào xem!” An Khang lên tiếng mở lối cho cụ nội.

Cụ Côn bước đến bên thành giếng rêu phong, cúi đầu nhìn xuống lòng sâu. Mặt nước giếng vốn trong vắt nhìn thấu tận đáy sỏi cuội bao đời nay, giờ đây sủi tăm lục bục như nồi nước xáo đang sôi dở. Màu nước ngả sang sắc xám tro đục ngầu, quánh đặc và bốc lên một luồng khí nồng nặc mùi hôi khét lẹt tựa như bột đá bị lửa thiêu cháy. Luồng âm khí tanh tưởi bốc thốc vào mặt khiến cụ Côn phải nén một tiếng ho khan, lồng ngực thắt lại trước sự giá buốt dị thường.

Bác tuần bản quỳ sụp bên thành đá, mặt mày tái mét “Sáng sớm nay nhà tôi ra múc nước thổi cơm, vừa kéo gàu lên thì thấy nước nhớt như mỡ lợn, lại nồng nặc mùi bùn thối. Cả xóm Đoài mấy nhà sớm nay lỡ nấu cháo cho con trẻ ăn, giờ chúng nó đang lăn lộn đau bụng, người rét run cầm cập!”

Lời bác tuần bản chưa dứt thì hai người đàn bà xóm Đông đã hớt hải chạy tới, vừa thở vừa mếu máo “Cụ Côn ơi, cứu với! Bệnh ho buốt xương lại bùng lên rồi! Không chỉ người lớn mà cả lũ trẻ con uống phải nước giếng sớm nay đều lên cơn sốt rét, chân tay co quắp, kêu đau thấu tận trong tủy xương! Đến bà cụ thân sinh cháu Lan bán thuốc đầu ngõ cũng mê man bất tỉnh từ canh năm, người lạnh ngắt như tảng băng trôi!”Tiếng than khóc dậy lên khắp bờ giếng. Nỗi kinh hoàng về chứng ho mục cốt từng gieo rắc đau đớn cho anh thợ mộc Trịnh Sinh hôm trước nay đã lan tràn như một cơn đại dịch, bủa vây lấy từng mái nhà tranh của bản Vực Ong.

“Bà con bình tĩnh!” Cụ Côn trầm giọng, thanh âm mộc mạc mà đanh thép như tiếng đục gõ vào thớ gỗ lim, lập tức trấn an đám đông đang hoảng loạn. “Tuyệt đối không ai được múc nước giếng này để uống hay nấu nướng nữa. Ai đã trót uống thì tạm dùng nước lá ổi chát đun sôi để cầm cự. Khang, theo cụ ra suối Mật!”

Hai cụ cháu rảo bước men theo con đường mòn phủ đầy lá mục dẫn ra thượng nguồn suối Mật. Cụ Côn lội chân trần xuống lòng suối cạn. Dòng nước từng ngọt mát, tưới tắm cho mùa màng và là nơi đàn ong tìm về uống giọt sương mai nay lờ đờ chảy một cách mệt nhọc. Cụ vục một vốc bùn dưới đáy nước lên ngửi. Mùi tanh nồng của quặng hắc thạch cực âm đã ngấm sâu vào từng hạt cát, rễ cây seo gà ven bờ đều rũ liệt, đen đúa như vừa bị một bàn tay tà ma bóp nghẹt mầm sống.

“Cụ nội ơi,” An Khang siết chặt nắm tay, mắt long lên căm phẫn. “Nước giếng khơi ăn thông với mạch ngầm suối Mật. Quân cướp ngày hôm qua không chặt được rừng mít, có khi nào chúng đã lén bỏ thứ bột đá độc hại ở Hang Đen vào đầu nguồn nước để bức tử làng mình không cụ?”

Cụ Côn nhìn làn nước xám đục trôi qua kẽ ngón tay chai sần, khẽ thở dài “Mạch ngầm bị tà khí hắc thạch đâm thủng rồi, cháu à. Độc khí từ Hang Đen đang men theo các đường rạn nứt dưới lòng đất mà trồi lên, biến nguồn sống thành nguồn chết. Chúng muốn dồn bà con vào bước đường cùng để phải bỏ xứ mà đi, hoặc chịu cúi đầu dâng rừng cho chúng.”

Trở về căn nhà gianh ba gian, không khí nặng nề như ngưng đọng lại. Ngoài ngõ, tiếng ho rũ rượi xé ruột xé gan của người già và tiếng trẻ thơ khóc ngặt vì rét buốt từ xóm Đông vọng lại, từng chập từng hồi cứa vào tâm can lão thợ mộc. Chứng ho mục cốt do cực âm tà khí gây ra chẳng thể dùng các vị gừng gió hay quế chi tầm thường mà áp chế. Nếu không tìm được phương thuốc thuần dương để giải trừ tận gốc rễ độc tính trong huyết mạch, chỉ e không quá bảy ngày, sinh mạng của cả trăm con người bản Vực Ong sẽ hóa thành tro bụi.

Cụ Côn bước đến trước bàn thờ tổ nghề bách nghệ đặt trang trọng nơi gian giữa. Trên hương án bằng gỗ mít mộc mạc, cụ run run châm ba nén nhang trầm. Khói hương xanh biếc uốn lượn bay lên, hòa cùng mùi mùn cưa và hương sáp ong phảng phất khắp gian nhà. Lão già ngoài trăm tuổi quỳ xuống chiếc chiếu cói, chắp đôi bàn tay thô ráp đầy vết sẹo nghề nghiệp, hướng về bài vị tiên tổ mà khấn nguyện “Tiên tổ chứng giám, thảo dân Nguyễn Bá Côn đời thứ hai giữ nghiệp đõ ong tiên tổ, thề giữ trọn tấc đất gốc rừng thiêng liêng. Nay tà khí ngấm ngầm tàn hại sinh linh, mạch đất rạn nứt, xóm làng điêu linh khốn đốn… Dù phải đem cái thân già này đổi lấy, lão cũng quyết tìm bằng được dược thảo chí dương, mượn sức đàn ong đánh tan tà độc, trả lại sự yên bình cho bờ cõi non sông.”

Lời thề vừa dứt, cụ Côn cắm ba nén nhang vào bát sứ thì ngoài cổng giậu râm bụt bỗng vang lên tiếng bước chân dồn dập, hổn hển.

“Cụ Côn ơi! Khang ơi!”

Đinh Thảo Lan hớt hải lao vào sân nhà, tà áo chàm sũng nước sương rừng, mái tóc rối bời bám đầy mạng nhện và gai cào. Đôi mắt bồ câu của cô gái nhỏ đỏ hoe vì thức trắng đêm chăm mẹ, nhưng trong con ngươi lại rực lên một tia sáng quật cường. Trên tay Thảo Lan ôm khư khư một chiếc hộp gỗ trắc cũ kỹ đã ngả màu thời gian. Cô bé vịn tay vào bậu cửa gỗ, vừa th* d*c vừa nghẹn ngào cất tiếng “Cụ Côn… cháu tìm thấy rồi! Gia bảo dòng họ Đinh nhà cháu có ghi chép… Có một phương thuốc duy nhất giải trừ được tận gốc chứng ho mục cốt này, nhưng… nhưng nó nằm ở tận đỉnh vách đá Tử Thần ngàn trượng!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.