Chương 8: Oán Khí Đầm Cầu Hai
Luân vẫn ghì chặt hai bàn tay chai sạn lên mép bàn mộc, mười đầu ngón tay trắng bệch dưới ánh đèn dầu leo lét. Trước mắt anh, sơ đồ trận địa “Cửu Đinh Trấn Hồn” mà cụ tổ họ Phùng lưu lại dưới tròng kính lúp hiện lên như một tấm lưới tử thần. Sự im lặng nghẹt thở bao trùm chái đông, chỉ còn tiếng thở gấp gáp của Huy hòa cùng tiếng mưa dầm rền rĩ đập vào mái ngói liệt. Từng dòng nước mưa từ bờ hiên chảy xối xả xuống doi đất, cuốn theo bùn đỏ cuồn cuộn trôi ra đầm Cầu Hai. Mặt nước đầm sau trận giông gió đã dâng cao ngập ngụa, mấp mé thềm hiên gian chái.
Bỗng nhiên, cánh cửa liếp bật mở đánh rầm. Chú Cường cùng Thanh bước xộc vào, toàn thân ướt sũng, nước mưa chảy ròng ròng từ gấu quần xuống sàn gạch ẩm mốc. Chiếc tẩu thuốc cẩm lệ trên môi chú Cường đã tắt ngấm từ bao giờ, chỏm râu quai nón bết dính nước mưa run rẩy từng chập. Thanh đứng nép phía sau, mặt cắt không còn giọt máu, đôi mắt trũng sâu vì cơn sốt đêm qua vẫn dại đi vì hoảng sợ.
“Thầy Luân à... không ổn rồi!” Chú Cường run giọng, đưa bàn tay thô ráp quệt ngang mặt. “Nước đầm dâng sát ngạch cửa rồi. Đêm qua tiếng gõ đinh như sấm nổ trên nóc, sáng nay chín chiếc đinh lại rỉ máu tươi ròng ròng, rồi tiếng rên xiết dưới lòng đất nữa... Tui với thằng Thanh bàn nhau rồi. Tiền công mấy bữa rày coi như bỏ, tụi tui xin rút lui về Kim Long trưa nay. Ở lại đất này có ngày bỏ mạng mất xác!”
Thanh run lẩy bẩy, lí nhí phụ họa “Anh Luân ơi... em sợ lắm. Hồn ma áo nhật bình cứ lởn vởn trên kèo nóc đòi mạng em. Em xin anh cho em về với mẹ...”
Luân nhìn hai người thợ, lòng chùng xuống nhưng ánh mắt vẫn giữ trọn vẻ trầm tĩnh. Anh hiểu nỗi khiếp đảm tột cùng của họ; đối diện với tà thuật tàn khốc của tiền nhân, người trần mắt thịt khó lòng giữ nổi can trường. Không một lời trách móc, Luân chậm rãi bước lại góc phòng, mở chiếc rương gỗ kỷ vật. Anh lấy ra một bọc vải dù sờn rách đựng toàn bộ số tiền túi tích cóp bấy lâu—khoản vốn liếng anh chắt bóp từng đồng định dành dụm mở xưởng mộc từ thiện cùng em trai.
Luân đếm phân nửa số tiền, bước lại đặt trọn vào lòng bàn tay lạnh ngắt của chú Cường rồi nắm chặt lấy “Số tiền này là tiền túi của cháu, cháu tạm ứng thêm ngoài phần của ông Trực coi như bồi dưỡng sự nguy hiểm cho chú và Thanh. Cháu biết nơi này dữ lành khó đoán, nhưng xin chú và Thanh hãy tin cháu. Bộ giàn trò này do chính tay cụ tổ họ Phùng thiết kế, từng đường mộng nêm, mộng thắt cháu đều đã thấu suốt. Cháu lấy danh dự của một người thợ mộc, lấy cả tính mạng của anh em cháu ra cam kết: cháu tuyệt đối không để bất kỳ ai trong đoàn phải đổ máu hay gặp nạn.”
Anh nhìn thẳng vào mắt chú Cường, giọng trầm ấm mà đanh thép “Cháu không ép hai người phải trèo lên giàn giáo hiểm nguy nữa. Chú và Thanh chỉ cần ở lại giữ lán chái đông, nấu giúp nồi nước nóng và trông coi dây rọi dưới đất cho cháu. Xin chú giúp cháu nốt ba ngày này.”
Chú Cường sững sờ nhìn xấp tiền trong tay, rồi ngước nhìn cánh tay phải co quắp đầy sẹo lồi của Huy đang lặng lẽ đứng bên bàn vẽ. Người thợ già thở dài một tiếng sườn sượt, cất bọc tiền vào túi áo trong rồi vỗ mạnh lên vai Luân “Được rồi! Thầy Luân đã nói tới nước này, già này mà bỏ chạy thì còn mặt mũi nào nhìn tổ nghề Lỗ Ban. Tui với thằng Thanh ở lại!”
Thanh thấy chú Cường quyết định thì cũng gạt nước mắt, cúi đầu gật dạ.
Khi hai người thợ phụ lui về góc sưởi ấm, Luân lập tức bắt tay vào việc chuẩn bị. Anh trải phiến đá mài bùn xám mịn ra chậu nước mưa. Rút chiếc đục gỗ trắc gia bảo giắt bên thắt lưng—cây đục thép rèn nguội bóng loáng mà phần chuôi gỗ trắc đã ngả màu mun bóng, thân cán chạm khắc chìm ấn ký hoa sen cách điệu của phường thợ mộc họ Phùng niên hiệu Thành Thái—Luân tỉ mẩn liếc lưỡi đục trên mặt đá mài. Từng tiếng xoẹt... xoẹt... đanh gọn vang lên đều đặn trong gian phòng ẩm thấp, mài giũa lưỡi thép thành một đường chỉ sắc lạnh bén ngót.
Tiếp đó, Luân bắc chiếc nồi đồng nhỏ lên kiềng bếp than hồng ở góc chái. Anh lấy những mẩu rễ cây bồ đề cổ thụ mang theo từ Kim Long, dùng chày gỗ giã nát tơi rồi thả vào nồi nước mưa đang sôi sùng sục cùng vỏ bời lời nghiền mịn và vài vị thảo mộc khô. Một làn khói ngai ngái, nồng ấm bốc lên nghi ngút, quyện thành thứ dung dịch đặc sánh như hồ dầu. Đây là phương thuốc mộc cổ truyền dùng để thẩm thấu, làm mềm những thớ gỗ mun đã hóa đá sau hơn trăm năm bị ten đồng và chu sa gặm nhấm, giảm thiểu lực giằng nén trước khi tính chuyện rút đinh.Trời sẩm tối, gió bấc thổi qua đầm Cầu Hai càng lúc càng dữ dội. Từng đợt sóng trắng đục gầm réo đập liên hồi vào móng đá Ý Thảo Cổ Viên. Luân khoác chiếc áo tơi lá cọ dày cộp, dặn Huy gài chặt then cửa rồi một mình bước ra màn mưa buốt giá. Anh bấm từng ngón chân trần xuống con đường mòn bùn nhão ngập nước, lội bì bõm men theo triền đầm để hướng về phía ngã ba đò.
Quán nước chè xanh của mệ Nhã lọt thỏm dưới bóng cây đa cằn cỗi ven bến nước, ngọn đèn dầu vặn nhỏ leo lét hắt bóng bà lão mù lưng còng lên vách nứa dột nát.
Nghe tiếng bước chân lẹp bẹp trên bùn, mệ Nhã ngừng tay têm trầu, cất giọng khàn đục “Thầy mộc họ Phùng đấy phải không? Mưa gió ngập đầm thế này còn lặn lội ra đây làm chi con?”
Luân bước vào dưới mái hiên xiêu vẹo, cởi chiếc nón lá sũng nước rồi ngồi xuống chiếc chõng tre đối diện “Cháu chào mệ. Cháu đến để hỏi mệ cặn kẽ về người con gái năm xưa... về cô Cúc Lan.”
Mắt mệ Nhã giật nhẹ. Đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt gân xanh của bà lão run rẩy s* s**ng lần vào trong bọc áo bà ba sờn rách, cẩn thận lấy ra một bọc vải điều đã ngả màu ố vàng vì thời gian. Mệ lần giở từng lớp vải, để lộ một chiếc vòng tay bằng ngọc cẩm thạch màu xanh lục biếc, nhưng một góc vòng đã bị mẻ vỡ nham nhở.
“Cầm lấy đi con,” mệ Nhã run run chìa chiếc vòng về phía Luân. “Năm xưa, sau đêm đại tang bên ngôi nhà rường họ Trần, mẹ mệ đi cào hến bên doi đất đầm nước thì nhặt được vật này vướng trong bụi sậy mục. Mẹ mệ dặn phải giữ kín như giữ mạng, chờ ngày có người thợ mộc chân chính đến giải mối oan khiên...”
Luân đón lấy chiếc vòng ngọc. Bề mặt cẩm thạch trơn nhẵn nhưng toát ra một luồng hàn khí buốt giá thấu tận xương tủy.
Mệ Nhã nhai trầu đỏ thắm, giọng chìm vào tiếng mưa dầm nức nở “Con bé Cúc Lan ngày ấy... nết na, thùy mị lắm con ơi. Mới mười tám tuổi đầu, hoa tay thêu thùa khắp xứ ai cũng khen ngợi. Cha nó là thợ cả tài danh, đem hết tâm can cùng cụ tổ họ Phùng dựng bộ giàn trò cho nhà quan tri phủ. Ai ngờ đâu dã tâm loài lang sói... Viên quan tri phủ sợ lộ bí mật kho vàng dưới móng, đã ngầm chuốc thuốc mê cả hai cha con. Hắn ép Cúc Lan mặc bộ áo nhật bình đỏ thẫm của bậc quyền quý, rồi sai tay chân trói sống con bé, nhét vào cỗ áo quan đá xanh dưới nền gian giữa để làm ‘thần giữ của’. Chín chiếc đinh đồng thau yểm bùa chu sa bị đóng chặt vào khung gỗ mun chính là để giam cầm linh hồn non nớt của nó, trói buộc linh khí cho dòng họ Trần hưởng trọn vinh hoa phú quý muôn đời. Cha nó tỉnh dậy thấy con gái bị chôn sống, uất nghẹn đập đầu vào chân cột cái mà chết thảm...”
Từng lời của mệ Nhã như từng nhát đục nện thẳng vào lồng ngực Luân. Nỗi đau đớn, uất nghẹn của người thiếu nữ trăm năm trước dường như đang cuộn trào trong từng đường vân thớ gỗ của ngôi nhà cổ.
Luân bọc kỹ chiếc vòng cẩm thạch vỡ góc vào lớp khăn tay, cất cẩn thận vào túi áo ngực sát bên tim rồi cúi đầu tạ từ mệ Nhã.
Anh rảo bước trở về trong màn đêm đặc quánh rợn ngợp. Gió đầm gào thét từng cơn buốt nhói như tiếng ai oán than khóc. Khi đôi chân bấm bùn của Luân vừa bước qua ngưỡng cửa gian giữa Ý Thảo Cổ Viên, chiếc vòng ngọc cẩm thạch nơi lồng ngực bỗng rung lên bần bật, tỏa ra một luồng hơi lạnh cắt da cắt thịt xuyên thẳng vào lồng ngực anh.
Dưới ánh chớp rạch ngang vòm trời đêm đen đặc, trong góc tối sâu thẳm nơi chân cột cái kê trên bệ đá hoa sen, một bóng hình thiếu nữ mặc áo dài nhật bình rách nát bỗng hiện rõ mồn một. Nàng đứng chập chờn giữa làn khói lạnh, mái tóc xõa rũ rượi, và trên gương mặt trắng bệch không còn huyết sắc, hai hàng lệ máu đỏ thẫm từ từ lăn dài qua gò má, đôi mắt u uất trừng trừng nhìn thẳng vào Luân.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
