Chương 3: Quán Nước Ngã Ba Đò

Luân nín thở, ngón tay cái miết nhẹ lên sống dao thép gia truyền. Vệt dịch sẫm màu vừa cạo ra từ ba mẩu dăm gỗ mun bết dính vào đầu ngón tay anh, để lại một vệt đỏ bầm ma quái. Mùi chu sa cay nồng quyện chặt lấy vị tanh tưởi rười rượi của máu cũ khiến lồng ngực anh thắt nghẹn lại. Trong thuật làm nhà rường cổ xứ Huế, chu sa chỉ được dùng để điểm nhãn đầu rồng hoặc vẽ bùa an vị long cốt khi phạt mộc cất nóc; tuyệt nhiên chưa từng có hiệp thợ chân chính nào lại tẩm máu tươi vào thớ gỗ mun của bộ giàn trò. Máu và chu sa thấm sâu vào thịt gỗ chỉ có thể là dấu tích của một tà thuật tàn bạo nhằm giam hãm u linh.

Luân cẩn thận dùng một mảnh giấy dầu gói kín ba mẩu vụn gỗ rồi nhét sâu vào túi áo dạ. Anh đứng lặng hồi lâu bên chân tảng đá xanh chạm hình hoa sen, lắng nghe tiếng gió bấc rít qua từng khe ngói liệt rêu phong. Cảm giác lạnh lẽo bốc lên từ lòng đất dưới chân cột cái vẫn cuồn cuộn buốt giá, tựa như có một ánh mắt u uất đang dõi theo từng cử động của anh từ vòm mái cao gần năm mét.

Trở lại chái đông, không khí vẫn đặc quánh mùi khói củi ẩm ướt. Huy đang ngồi co ro bên góc phản, bàn tay trái cặm cụi gọt lại đầu bút chì gỗ, trong khi cẳng tay phải co quắp đầy sẹo lồi tì chặt lên mép bản vẽ giàn trò. Chú Cường ngồi rít tẩu thuốc cẩm lệ, chốc chốc lại nhìn Thanh bằng ánh mắt ái ngại. Gã thợ phụ trẻ tuổi vẫn ngồi rúm ró trong góc, hai hàm răng va vào nhau lập cập sau cơn ác mộng rạng sáng.

“Chú Cường trông nom chái nhà giùm cháu,” Luân gài lại nút áo dạ, trầm giọng nói. “Dây thừng của đoàn mình mục cả rồi, không thể dùng để leo lên xà giàn giáo kiểm tra bộ vì nóc được. Dầu hỏa thắp đèn bão cũng sắp cạn. Cháu dắt Huy ra ngã ba đò tìm mua ít đồ nghề chịu lực với can dầu đốt.”

Chú Cường nhả một làn khói xám mờ đục, gật đầu dặn dò: “Ừ, đi nhanh rồi về sớm nghe chú Luân. Mặt đầm mù mịt rứa ni dễ trở trời lắm. Cẩn thận đường trơn.”

Hai anh em men theo con đường mòn đất đỏ ngoằn ngoèo ven bờ đầm Cầu Hai. Mưa dầm xứ Huế cuối năm không trút nước xối xả mà rây từng hạt buốt lạnh li ti, bám chặt vào da thịt như kim châm. Gió bấc từ biển Đông luồn qua cửa Tư Hiền thổi thốc vào mặt nước đục ngầu phù sa, dâng lên những con sóng màu xám chì vỗ bì bọp vào các bãi sậy xơ xác ven bờ. Phía sau lưng họ, Ý Thảo Cổ Viên ngự trị trơ trọi trên doi đất bùn lầy, trông tựa một nấm mồ đá xám xịt khổng lồ bị vây hãm giữa bốn bề sóng nước cô liêu.

Đi chừng một cây số, ngã ba đò Cầu Hai hiện ra lờ mờ sau màn mưa trắng đục. Đây là nơi giao nhau giữa lạch nước từ đầm phá đổ ra và lối mòn dẫn vào các xóm vạn chài nghèo. Dưới rặng bần cằn cỗi trơ trụi cành nhánh vì gió muối, một túp lều liếp xiêu vẹo nép mình sát mép bùn lầy. Bên hiên treo một chiếc nón bài thơ rách nát phủ lớp rêu phong, đóng vai trò tấm biển hiệu của quán nước chè xanh duy nhất nơi bến vắng.

Bên trong quán, trên chiếc chõng tre ọp ẹp đã lên nước nâu bóng theo năm tháng, một bà lão mù lưng còng rạp đang ngồi co ro nhóm đóm hút thuốc lá cẩm lệ. Mái tóc bà trắng xóa như cước búi củ hành sau gáy, hai tròng mắt phủ một lớp màng đục nhờ nhờ, khóe miệng đỏ thắm màu bã trầu cay.

Luân bước vào quán, đưa tay gạt bớt nước mưa đọng trên vành nón mê, cất giọng trầm ấm: “Dạ, cháu chào mệ. Cho hai anh em cháu xin hai bát nước chè tươi nóng. Tiện thể mệ cho cháu hỏi quanh ngã ba đò ni có ai bán dầu hỏa với dây thừng bện chịu lực không ạ?”

Bà lão dừng tay châm đóm, nghiêng tai về phía cửa quán. Đôi mắt mù lòa không tiêu cự khẽ chuyển động, như thể đang dùng thính giác và khứu giác để đo lường người đối diện: “Nghe giọng nói trầm trầm... không phải dân vạn đò quanh đầm ni rồi. Người mấy chú sực nức mùi mùn cưa với gỗ kiền kiền nồng nặc. Thợ mộc ở mô tới vùng Cầu Hai mùa mưa bão ni rứa?”

Luân ngồi xuống mép chõng tre đối diện, kéo Huy ngồi sát vào phía trong để che bớt những luồng gió buốt đang lùa qua khe liếp: “Dạ, tụi cháu là thợ mộc ở Kim Long về. Cháu nhận hợp đồng phục dựng lại ngôi nhà rường cổ ngoài doi đất đầm cho ông Trần Đăng Trực. Mấy hôm nay trời mưa gió, gian giữa tối tăm quá nên cháu tính mua thêm ít dầu hỏa thắp đèn và cuộn dây thừng chắc chắn để bắc giàn giáo khảo sát vì nóc.”

Vừa nghe Luân nhắc đến ba chữ “Ý Thảo Cổ Viên” và cái tên “Trần Đăng Trực”, bàn tay khẳng khiu đầy vết đồi mồi của mệ Nhã bỗng nhiên giật thót dữ dội.

“Choang!”

Chiếc bát đất nung đựng nước chè tươi bốc khói nghi ngút trượt khỏi những ngón tay gầy guộc, rơi trúng mép chõng tre rồi nảy xuống nền đất nện, vỡ toác làm đôi. Nước chè vàng sánh cùng những mảnh gốm vỡ vụn bắn tung tóe vào ống quần của Luân.Mệ Nhã không buồn cúi xuống nhìn, hai hốc mắt mù lòa mở trừng trừng vào khoảng không mờ mịt ngoài cửa quán. Lồng ngực gầy guộc của bà phập phồng gấp gáp dưới lớp áo bà ba nâu bạc màu: “Mấy chú... mấy chú vừa nói nhận trùng tu cho ai? Cho thằng Trực họ Trần? Vô căn nhà ma quái ngoài doi đất hoang nớ thiệt sao?”

Luân khẽ cau mày, nhận ra sự hoảng loạn dị thường ẩn hiện trong từng thớ cơ co rúm trên gương mặt bà lão: “Dạ phải, thưa mệ. Có chuyện chi hệ trọng với ngôi nhà rường nớ sao mệ?”

Mệ Nhã run rẩy lần tay trên mặt chõng tre, nắm chặt lấy chiếc khăn rằn lau vội dòng nước trầu vương bên khóe miệng. Giọng bà khàn đặc, trầm xuống như thể vọng lên từ đáy huyệt sâu: “Bỏ đi con ơi... Mau cuốn gói đồ nghề mà trốn về lại Kim Long ngay trong ngày đi! Chớ có dại dột mà rước họa vào thân. Ý Thảo Cổ Viên... nơi nớ không phải là nhà để người sống ở. Đó là đất dữ, là nơi chôn sống tiền nhân, ngậm máu ngậm hờn hơn trăm năm ni rồi!”

Huy ngồi bên cạnh nghe vậy thì khẽ rùng mình, bàn tay co quắp tật nguyền bất giác siết chặt lấy vạt áo của Luân. Luân khẽ đặt tay lên vai em trai trấn an, rồi nhìn thẳng vào bà lão mù, điềm đạm cất lời: “Cháu làm nghề mộc gia truyền, xưa nay chỉ nghe nói nhà rường là chốn tích phúc tụ khí cho gia tộc, cớ sao mệ lại bảo nơi đó chôn sống tiền nhân?”

Mệ Nhã buông một tiếng thở dài não ruột, tiếng gió rít qua rặng bần trơ trụi nghe thê thiết như tiếng oán hờn không tan. Bà lão trầm ngâm giây lát rồi chậm rãi kể lại bằng chất giọng Huế cổ xưa cũ: “Chuyện từ năm Quý Mão 1903, niên hiệu Thành Thái... Năm nớ vùng đầm Cầu Hai ni đói kém dữ dội, bão lụt triền miên làm chết trôi không biết bao nhiêu người. Viên quan tri phủ họ Trần khi nớ khét tiếng tham tàn, bóp nặn của dân lành cơ man nào là vàng ròng bạc thỏi. Lão cho xây cất ngôi nhà rường ba gian hai chái lộng lẫy ngay trên mũi doi đất cô lập, rồi thuê hẳn một hiệp thợ mộc tài hoa bậc nhất từ đất kinh thành về đục đẽo ròng rã suốt hai năm trời.”

Bà lão hớp một ngụm khí lạnh, ngực phập phồng như đang sống lại nỗi kinh hoàng của đời trước truyền lại: “Trong phường thợ nớ, có người con gái vừa tròn mười tám tuổi tên là Cúc Lan—con gái độc nhất của người thợ cả tài hoa. Con bé nết na, hiền thục, sớm hôm gánh cơm nước phụ giúp cha và các thợ bạn. Nào ngờ đúng vào ngày làm lễ cất nóc khánh thành, khi cây xà thượng vừa được đưa lên khớp mộng... con bé Cúc Lan bỗng nhiên mất tích bí ẩn không để lại một dấu vết. Người cha phát điên phát dại lặn ngụp khắp lòng đầm Cầu Hai gào khóc tìm con, rồi uất nghẹn thổ huyết chết gục ngay bên tảng đá chân cột cái gian giữa.”

Trái tim Luân khẽ nảy lên một nhịp. Ký ức về bóng ma thiếu nữ mặc áo dài nhật bình rách tơi tả mà Thanh chứng kiến trên xà ngang, cùng ba mẩu gỗ mun rỉ máu quyện chu sa lúc sáng sớm lập tức khớp chặt vào từng lời kể của bà lão. “Mệ... người xưa có nói vì răng cô Cúc Lan lại mất tích không?”

Mệ Nhã rùng mình, giọng bà hạ thấp xuống thành tiếng thì thào ghê rợn: “Dân chài đời trước truyền tai nhau... lão quan tri phủ nghe theo lời xúi giục của phường tà đạo, muốn giữ trọn kho báu nguyền rủa chôn sâu dưới móng nhà cho con cháu muôn đời hưởng thụ, nên đã lừa bắt sống con bé trinh nữ làm vật hiến tế phong ấn thần giữ của. Oan hồn con bé bị trói chặt vào từng thớ gỗ, không siêu thoát được. Ngay sau ngày cất nóc, gia đạo lão tri phủ liên tiếp gặp tai ương chết chóc, người phát điên kẻ chết bất đắc kỳ tử, chẳng ai dám bén mảng tới ở. Căn nhà bị bỏ phế hoang tàn từ độ nớ...”

Luân siết chặt hai bàn tay, ánh mắt sẫm lại: “Vậy còn ông Trần Đăng Trực? Ông ta với viên tri phủ năm xưa có can hệ gì?”

“Nghiệp chướng truyền kiếp đó con!” Mệ Nhã run bần bật, khóe môi méo xệch đi. “Thằng Trực chính là cháu ba đời của viên quan tri phủ tàn ác năm xưa. Dòng dõi nhà nó sa sút lụn bại, nhưng lòng tham vô đáy thì chưa bao giờ dứt. Nó thuê đoàn thợ mấy chú về trùng tu, ngoài mặt nói là phục dựng bảo tồn di sản, nhưng thực chất là nuôi dã tâm đào bới cho bằng được hầm vàng bạc chôn giấu dưới móng rường gian giữa!”

Không khí trong quán nước chìm sâu vào một sự tĩnh lặng ngột ngạt đến nghẹt thở. Bên ngoài, mưa dầm bắt đầu quất từng đợt ràn rạt lên vách liếp mục nát, sóng đầm Cầu Hai gầm gào vỗ từng đợt lạnh buốt vào bờ bùn lầy.

Bất thình lình, mệ Nhã chồm người tới phía trước. Đôi bàn tay gầy trơ xương, run rẩy quờ quạng trong không trung rồi túm chặt lấy bàn tay chai sần của Luân. Những ngón tay thô ráp của bà bấu nghiến vào mu bàn tay anh với một sức lực lạ kỳ, buốt lạnh như đá tảng ngâm nước đầm.

Bà lão nghiêng đầu, đôi mắt mù lòa trắng dã nhìn trừng trừng vào Luân, hơi thở nồng nặc mùi lá trầu cay phả thẳng vào mặt anh từng lời thì thào đanh thép: “Nhớ lấy lời mệ... Trên bộ vì nóc ngôi nhà nớ, có thứ kim loại quái gở không thuộc về nghề mộc đang ghim chặt oan hồn con bé dưới thớ gỗ mun. Chớ có đụng chạm bậy bạ! Nếu mấy chú vung búa gõ sai một nhát mộng... thì cả đoàn thợ sẽ phải bỏ mạng đền máu cho linh hồn dưới đáy đầm!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.