Chương 2: Tiếng Gõ Canh Ba
Tiếng cắc... cắc... khô khốc rền lên trên đỉnh đầu rồi đột ngột tắt ngấm, để lại khoảng không gian đặc quánh hơi lạnh rợn người. Luân nín thở, ngón tay ghì chặt chiếc đèn pin đội đầu, lia chùm sáng vàng vọt lên vòm trần cao gần năm mét. Vệt sáng quét qua những thanh xà thượng và câu đầu bằng gỗ mun đen nhánh, phủ lớp bụi thời gian mốc thếch. Không một bóng người. Không một con dơi hay bóng chuột chuyền cành. Chỉ có lớp ngói liệt rêu phong khẽ run lên bần bật dưới từng đợt gió bấc thốc vào từ mé đầm Cầu Hai.
“Anh Luân ơi! Mang đồ nghề vào chái đông thôi, mưa to quá rồi!”
Tiếng Huy vọng lại từ phía cửa ngách, cắt đứt sự ngưng đọng ma quái. Luân hít một hơi thật sâu, nén nỗi bất an xuống đáy ngực, quay gót bước về phía chái đông.
Đoàn thợ quyết định dựng lán tạm ở gian chái này để tiện cho việc khảo sát bảy ngày tới. Đây là chái phụ của ngôi nhà rường, vách ván ghép tuy đã nứt nẻ nhiều khe hở nhưng rui mè vẫn còn tương đối bằng phẳng, tránh được những chỗ dột nát nặng nề nơi gian giữa. Chú Cường cùng Thanh khiêng tấm bạt nhựa dày trải rộng trên nền gạch Bát Tràng ẩm mốc, rồi kê tạm mấy tấm ván gỗ kiền kiền lên làm sạp ngủ.
Mưa dầm xứ Huế về chiều tối càng lúc càng nặng hạt. Gió bấc từ đầm Cầu Hai thổi thốc qua các khe vách mục nát, rít lên từng hồi ghê rợn tựa như tiếng hú ai oán của loài thủy quái dưới lòng đầm lợ. Ngọn đèn dầu hỏa đỏ quạch đặt giữa gian chái chao đảo ngả nghiêng, hắt những cái bóng vặn vẹo của bốn người thợ lên vách gỗ. Không khí buốt giá thấu xương thấu thịt ngấm qua từng lớp áo vải thô, mang theo mùi tanh nồng của bùn lầy và nấm mốc trăm năm.
Đêm đầu tiên bên bờ đầm hoang vắng trôi qua trong bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở. Cơm nước đạm bạc xong xuôi, Thanh vì quá hoảng sợ trước điềm gở gãy nhang ban chiều nên vội vã trùm kín chiếc chăn chiên co ro ở góc trong cùng, thỉnh thoảng lại ú ớ giật mình mê sảng. Chú Cường ngồi dựa lưng vào cây cột con, ngậm chiếc tẩu thuốc cẩm lệ đã tắt ngóm từ lâu. Người thợ già thở dài sườn sượt, ánh mắt đăm chiêu hướng về phía tàn nhang gãy lúc chập tối, rồi cũng dần chìm vào giấc ngủ chập chờn đầy trăn trở.
Luân nằm trằn trọc trên tấm ván gỗ, hai tay gối sau gáy, đôi mắt mở trừng trừng nhìn những đường vân mờ ảo trên rui mè. Bên cạnh anh, Huy vẫn cặm cụi ngồi bên ngọn đèn dầu le lói. Chàng trai hai mươi tám tuổi tỉ mỉ dùng tay trái kẹp cây bút chì, bàn tay phải co quắp với vết sẹo lồi chằng chịt vụng về tì lên chiếc thước mộc mun cổ truyền, cẩn trọng phác thảo từng đường nét của sơ đồ mặt bằng bốn mươi tám cột giàn trò.
Nhìn từng cử động khó nhọc của em trai, lồng ngực Luân lại nhói lên một cơn đau buốt. Tám năm trôi qua, tiếng rít xé thịt của lưỡi máy cưa năm ấy vẫn là cơn ác mộng bóp nghẹt tâm can anh mỗi khi đêm về. Giá như ngày đó anh không chủ quan, giá như anh không để em cầm thanh xẻ mỏng... Luân khẽ nghiêng người, định cất lời giục Huy đi ngủ, thì bỗng nhiên ngọn gió ngoài hiên ngừng bặt.
Không gian chìm vào một cõi tĩnh lặng tuyệt đối, chết chóc đến rợn gáy.
Đúng canh ba.
Chát... cắc!
Chát... cắc!
Một chuỗi âm thanh kim loại sắc lẹm, đanh gọn đột ngột rền rĩ vang lên từ khoảng không vòm nóc gian giữa. Tiếng gõ không hề ngẫu nhiên, mà gõ thành từng nhịp đều đặn, lạnh lùng, như thể có một bàn tay vô hình đang cầm búa nện những mũi đinh dài xuyên thấu vào từng thớ gỗ cổ thụ. Mỗi nhịp va đập dội xuống không gian đặc quánh, rung chuyển cả vì nóc, đập thình thịch vào màng nhĩ rồi dội thẳng vào lồng ngực mọi người tựa như tiếng đập của một quả tim oán hận.
Chiếc bút chì trên tay Huy rơi cạch xuống mặt giấy vẽ. Chú Cường giật thót người choàng tỉnh, bàn tay chai sạn theo phản xạ chộp ngay lấy chiếc đục bén đặt ở đầu nằm. Thanh ở góc chiếu run rẩy co rúm người lại, kéo chăn trùm kín đầu, miệng lẩm bẩm cầu kinh không ngớt.
“Thầy Luân... lại là tiếng gõ đó!” Chú Cường thì thào, giọng khàn đặc, đôi đồng tử giãn ra vì kinh hãi.
“Để cháu xem.”
Luân bật dậy, vớ lấy cây đèn pin công suất lớn. Anh cùng chú Cường thận trọng bước qua bức vách ngăn, tiến thẳng vào gian giữa u tối.
Hơi lạnh ở gian giữa lạnh buốt đến tê dại, tựa như bước chân vào một căn hầm chứa xác lâu năm dưới lòng đất. Luân bấm công tắc đèn pin, luồng ánh sáng trắng sắc lạnh xé toạc màn đêm đặc quánh, chiếu thẳng lên bộ khung giàn trò ở độ cao gần năm mét.Luân nheo mắt rà soát từng tấc gỗ. Vệt sáng lướt qua xà thượng, câu đầu, rồi quét dọc theo hàng rui mè ken dày. Hoàn toàn trống không. Không có bóng người, không có bất kỳ công cụ thợ mộc nào sót lại. Chỉ có tiếng gió luồn qua khe ngói liệt rêu phong cọt kẹt từng hồi não nề.
“Lạ thật... Rõ ràng tiếng gõ nện ngay trên đỉnh nóc này!” Chú Cường ngửa cổ nhìn theo chùm sáng, trán lấm tấm mồ hôi dù trời lạnh cắt da.
Luân không đáp, đôi mắt sắc sảo của người thợ mộc hạ dần luồng ánh sáng xuống nền gạch Bát Tràng. Khi vệt đèn quét qua khoảng tối ngay dưới bóng cây cột cái gian giữa—nơi đặt tảng đá xanh chạm hình hoa sen—Luân đột ngột khựng lại.
Trên mặt gạch đỏ sẫm phủ bụi mờ, có vài mẩu vật thể lạ vừa mới rơi xuống.
Luân bước nhanh tới, ngồi thụp xuống soi kỹ. Đó là ba mẩu vụn gỗ mun nhỏ bằng đầu ngón tay. Vết gãy xơ xác còn mới tinh tươm, các góc cạnh dăm gỗ sắc nhọn như vừa bị một lực chấn động cực mạnh bẻ toạc ra khỏi thân xà. Kỳ quái hơn cả, bề mặt những mẩu vụn mun đen nhánh ấy đang rỉ ra những giọt dịch sẫm màu đặc quánh, bốc lên mùi ngai ngái khó tả.
Sáng hôm sau, mưa dầm vẫn phủ một tấm rèm xám xịt lên đầm Cầu Hai. Mặt nước đục ngầu phù sa vỗ ì oạp vào những bãi sậy xơ xác ven bờ.
Bên bếp lửa củi ướt khói um mà chú Cường vừa nhen được ở góc chái đông, Thanh ngồi co ro, hai bàn tay run rẩy bưng bát nước chè xanh nóng hổi. Mặt gã thợ phụ trẻ tuổi xám ngoét không còn giọt máu, đôi mắt trũng sâu thâm quầng lộ rõ vẻ kinh hoàng tột độ.
“Anh Luân... chú Cường ơi... đêm qua em không dám nói...” Thanh ngập ngừng, giọng lắp bắp nghẹn ngào. “Lúc canh ba... em mót quá tính dậy đi tiểu ra bờ hiên. Vừa hé mắt nhìn qua khe vách sang gian giữa... em thấy... em thấy rõ ràng lắm!”
“Mày thấy cái giống gì? Nói năng lắp bắp như gà mắc tóc!” Chú Cường gắt nhẹ, nhưng bàn tay đang nhóm củi khẽ khựng lại.
“Có... có một người con gái!” Thanh run bắn lên, nước chè sóng sánh đổ ra mu bàn tay. “Cô ta mặc chiếc áo dài nhật bình rách tơi tả, tóc xõa chấm lưng, đứng im lìm vắt vẻo trên thanh xà ngang gian giữa... Khuôn mặt cô ta cúi gằm xuống, đôi mắt tối om như hai hốc than nhìn trừng trừng xuống chỗ tảng đá hoa sen...”
“Bậy bạ!” Chú Cường vung que củi gạt phắt đi, giọng nghiêm khắc át nỗi sợ. “Mày mê ngủ rồi hoa mắt! Nhà bỏ hoang cả trăm năm, xà thượng cao gần năm mét trơn tuột như bôi mỡ, ma quỷ nào đứng được trên đó? Lo mà uống miếng nước nóng rồi chuẩn bị đục đẽo giàn giáo đi, đừng có phao tin nhảm nhí làm anh em hoang mang!”
Thanh sợ hãi im bặt, cúi đầu rúc vào chiếc áo tơi bổi.
Luân không tham gia vào cuộc tranh cãi. Anh lẳng lặng đứng dậy, bước chầm chậm ra gian giữa. Ban ngày, ánh sáng lờ mờ từ cửa lớn rọi vào càng làm lộ rõ vẻ u tịch, hoang tàn của Ý Thảo Cổ Viên. Luân tiến lại gần cây cột cái to hai người ôm, đứng bên tảng đá xanh chạm sen.
Một luồng khí lạnh đột ngột áp vào da thịt khiến anh rùng mình. Dù bên ngoài gió bấc đang thổi rét mướt, nhưng không khí ngay trong phạm vi vài sải tay quanh cây cột cái này lại buốt giá một cách dị thường, hàn khí dường như bốc lên từ lòng đất sâu hoắm, thấp hơn bên ngoài lán tạm đến vài độ. Từng thớ gỗ mun đen bóng dường như đang ngậm một thứ tử khí ngột ngạt, ghê người.
Luân thọc tay vào túi áo dạ, rút ra chiếc dao cạo mộc nhỏ bằng thép cán gỗ trắc gia truyền. Anh mở lòng bàn tay trái, nơi ba mẩu vụn gỗ mun nhặt được đêm qua vẫn còn nằm im lìm.
Lưỡi dao thép sắc lẹm khẽ cạo dọc thớ dăm gỗ mun tươi mới còn ươn ướt.
Lớp màng dịch sẫm màu vừa tróc ra, một luồng mùi hương kỳ dị lập tức xộc thẳng vào sống mũi. Luân giật mình sững sờ, đồng tử co rút lại: lẫn trong mùi ẩm mốc của gỗ ngậm nước lâu năm là thoang thoảng mùi chu sa cay nồng nặc, quyện chặt lấy mùi máu tanh tưởi rười rượi, lạnh toát cả sống lưng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
