Chương 9: Cọc Tràm Trơ Trọi Giữa Bùn Sâu

Tiếng gió chướng sớm mai thổi qua rặng dừa nước nghe xao xác, buốt lạnh như cắt vào da thịt. Đứng ở đầu chái nhà sàn của ông Chín Sậy, Trần Minh Triết cẩn thận quấn lại cuộn dây kẽm vào bẹ chuối khô, tay kia xách theo chiếc búa gỗ đẽo bằng thân mù u già. Anh nhớ như in lời hẹn tối qua với Lụa. Cơn giông trái mùa đã giật sập một mảng hiên tiệm may, mấy cây đòn tay tre bị oằn xuống, nếu không chằng néo lại cho chắc thì chỉ cần một trận gió giật nữa là giàn ngói âm dương trên mái sẽ đổ ụp xuống hai chiếc máy may gia bảo của gia đình cô.

Triết rảo bước thật nhanh qua con đường đất đỏ viền cỏ may dẫn sang tiệm may Cúc Áo. Nắng sớm vừa hé rạng ở đằng đông, rải những sợi tơ vàng vọt xuống mặt kênh Xanh đang bắt đầu rút nước.

Thế nhưng, vừa bước qua khỏi bụi râm bụt trổ bông đỏ thắm trước ngõ, Triết đã thấy có điều chẳng lành. Cánh cửa liếp đóng bằng tre nứa của tiệm may mở toang hoác sang hai bên. Bên trong gian nhà trước, chiếc đèn hột vịt vẫn còn chong leo lét trên bàn cắt gỗ mít, dầu đã cạn đến đáy tim đèn, bốc lên một làn khói khét lẹt.

“Cô Lụa!”

Triết cất tiếng gọi khẽ, nhưng đáp lại anh chỉ có sự im lìm đến rợn ngợp. Bất thần, từ bức rèm vải hoa ngăn gian nhà sau, một bóng người lảo đảo bước ra. Đó là Lụa. Gương mặt cô trắng bệch, không còn một giọt máu, đôi mắt thâm quầng sau đêm trắng sửa đồ nay đỏ hoe, mở to kinh hoàng. Hai bàn tay thon dài có vết chai mịn nơi ngón trỏ buông thõng, run rẩy bấu chặt lấy then cửa liếp. Vừa nhìn thấy Triết đứng sững ngoài hiên, đôi chân Lụa như bủn rủn hoàn toàn, cả người cô chới với khuỵu xuống nền đất nện lạnh ngắt.

“Cô Lụa! Cẩn thận!”

Triết vội quăng chiếc búa gỗ xuống đất, lao bổ tới đưa hai cánh tay rắn rỏi đỡ lấy bờ vai gầy guộc đang run bắn lên của Lụa. Người cô nhẹ bẫng và lạnh ngắt như một tàu lá chuối non vừa trải qua trận sương muối.

“Thằng... thằng Thành... anh Triết ơi!” Lụa bấu chặt lấy cổ tay áo sơ mi của Triết, giọng cô nghẹn tắc lại nơi cuống họng, nước mắt từ khóe mi trào ra giàn giụa: “Thằng Thành nó đi mất rồi! Giường chiếu trống trơn... Nón lá với đôi dép lốp mòn vẹt của nó không còn nữa... Sách vở thi Sư phạm nó để lại hết trên bàn... Trời đất ơi, nó bỏ đi đâu giữa sớm hôm thế này!”

Triết giật mình, vội vàng dìu Lụa ngồi xuống chiếc ghế đẩu cạnh bàn cắt. Bàn tay anh chạm vào đôi vai đang run rẩy của cô, cảm nhận rõ rệt từng cơn co thắt của sự hoảng loạn tột cùng. Anh nhìn nhanh vào gian buồng trong: chiếc giường tre trống không, tấm chăn dù xếp vuông vức, xấp tài liệu ôn thi đại học dày cộp vẫn nằm nguyên dưới ánh sáng nhợt nhạt của buổi sớm.

“Cô Lụa, cô bình tĩnh lại nghe tôi nói đã!” Triết ngồi xổm xuống trước mặt cô, hạ giọng thật trầm và ấm áp để xua đi nỗi kinh sợ đang bóp nghẹt tâm trí người con gái đối diện: “Thành là đứa hiểu chuyện, thương chị nó hơn cả bản thân mình. Nó tuyệt đối không dại dột làm điều gì xằng bậy đâu. Có khi nào sáng sớm nó chạy sang hàng xóm mượn đồ, hay ra đầu doi đất ngắm con nước không?”

Lụa lắc đầu quầy quậy, hai bàn tay ôm lấy mặt, tiếng nấc xé lòng bật ra: “Không đâu... Đêm qua em nhận sửa đồ gấp cho chị Sáu Mận... Em khóc... Em lỡ để nó nghe thấy chuyện tiền học phí sáu trăm ngàn với chuyện em định mang sợi dây chuyền của má đi bán... Nó thương em, nó mặc cảm gia cảnh nghèo hèn nên mới dứt áo bỏ học... Tội nghiệp em tôi, nó học giỏi nhất trường huyện, ước mơ làm thầy giáo từ hồi tấm bé... Nếu nó có bề gì, làm sao em ăn nói với ba má dưới suối vàng đây!”

Nhìn những giọt nước mắt lăn dài trên gò má hốc hác của Lụa, tim Triết như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Anh thấu hiểu nỗi đau đớn và gánh nặng oằn vai của người chị trẻ tuổi này hơn ai hết. Tự trọng của một thằng con trai mười tám tuổi lớn lên trong nghèo khó là thứ vừa đáng quý nhưng cũng vừa mong manh, dễ vỡ vụn trước những bất lực của áo cơm.

Triết đưa tay vỗ nhẹ lên mu bàn tay Lụa, ánh mắt sau tròng kính cận toát lên vẻ kiên nghị lạ thường “Cô Lụa, nghe tôi. Bây giờ cô đừng hoảng. Cô rửa mặt cho tỉnh táo, rồi chạy vội sang nhà cô Năm Búp hỏi thăm xem sáng sớm có ai thấy bóng dáng thằng Thành đi về ngả nào không. Sau đó cô rảo bộ ra bến đò ngang của bác Bảy xem nó có đón đò sớm qua chợ huyện hay không. Tôi đoán nó chưa thể đi xa khỏi cù lao này đâu.”

Lụa ngước nhìn Triết, ánh mắt ngập tràn sự cậy trông giữa cơn bão táp tinh thần. Cô run rẩy gật đầu: “Dạ... dạ, em đi tìm nó liền... Nhưng còn mái hiên...”

“Mái hiên để đó, mạng người và tương lai thằng Thành mới là chuyện hệ trọng!” Triết ngắt lời, giọng dứt khoát: “Cô đi tìm em đi. Bây giờ con nước ròng đang rút sát đáy, tôi phải tức tốc chạy ra bãi thi công cống Kênh Xanh ngoài vàm để kiểm tra hàng cọc mốc cao trình đóng chiều hôm qua. Xong việc ngoài đó, tôi sẽ lập tức chạy đi tìm thằng Thành phụ cô. Có tin tức gì, cô cứ chạy thẳng ra vàm Kênh Xanh kêu tôi!”

“Cảm ơn anh... Anh Triết...”

Lụa gạt vội nước mắt, vơ lấy chiếc khăn rằn vắt vội lên vai rồi tất tả lao mình ra ngõ, bóng dáng mảnh mai chao đảo trên con đường đất mờ mịt sương mai.

Triết đứng nhìn theo bóng Lụa cho đến khi cô khuất sau rặng chuối sau nhà bà Năm Búp. Anh thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực nặng trĩu âu lo. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Tiếng nước róc rách từ lòng kênh vọng lại nhắc nhở anh rằng con nước ròng kiệt nhất trong tháng đang bắt đầu rút ra sông lớn. Triết nhặt chiếc búa gỗ cất vào góc hiên cho Lụa, rồi rảo bước như chạy về hướng công trường vàm Kênh Xanh.

Càng đi về phía cửa vàm, không khí ngột ngạt, căng thẳng càng bủa vây lấy Triết.

Trái ngược với sự ồn ào, náo nhiệt thường nhật của một công trường thủy lợi cấp huyện, vàm Kênh Xanh sáng nay im ắng đến rợn người. Không có tiếng máy nổ xình xịch của chiếc máy xáng cạp, không có tiếng hò dô vần công đào đất của đám thanh niên lực lưỡng trong xã, cũng chẳng có làn khói bếp lam chiều bốc lên từ lán trại dã chiến.

Chiếc máy xáng cạp bánh xích cũ kỹ do Ty Thủy lợi điều về nằm trơ khấc bên bờ lở, gàu múc bằng thép hoen gỉ gác hờ hững trên đụn đất sét khô khốc. Xung quanh, cuốc xẻng vứt chỏng chơ trong cỏ dại.

Hơn ba mươi nhân công địa phương – những nông dân cù lao được hợp đồng thuê đào đắp bờ bao dẫn dòng – tuyệt nhiên không một bóng người xuất hiện. Dư âm nặng nề của buổi họp đình làng tối hôm trước, sự cấm đoán gay gắt của ông Bảy Kiên cùng những lời xúi giục, đe dọa của Sáu Rạng đã tạo nên một bức tường vô hình nhưng vững chắc, cô lập hoàn toàn công trình non trẻ này. Người ta thà chịu phạt công điểm, thà bỏ dở công xá còn hơn mang tiếng phản bội lại hương ước ngầm của các bậc bô lão cù lao.

Triết nén tiếng thở dài, rảo bước về phía mép nước nơi bãi bồi cửa vàm. Thế nhưng, khi vừa bước qua khỏi lùm ô rô gai góc, cảnh tượng đập vào mắt khiến toàn thân anh chết sững. Máu trong người như đông cứng lại.

Lòng kênh Xanh lúc này đã trơ đáy phù sa. Dòng nước ròng rút kiệt để lộ ra bãi bùn đen nham nhở, nồng nặc mùi phèn chua và xác rong rêu thối rữa. Và giữa bãi bùn mênh mông ấy, hàng trăm cọc cừ tràm định vị mốc cao trình – công sức của anh và Hoàng dầm mưa lội bùn, cặm cụi đo đạc và đóng suốt cả buổi chiều hôm qua – đã biến mất không còn một dấu vết!

Những chiếc cọc tràm dài hơn hai thước, bóc vỏ loang lổ, đã bị kẻ xấu dùng đòn bẩy nhổ sạch trơn khỏi lòng bùn. Chúng bị vứt lăn lóc, ngổn ngang khắp bãi sình lầy; hàng chục cây khác trôi bồng bềnh dập dềnh theo dòng nước ròng ra mãi tận phía sông Cái, mắc kẹt tơi tả vào những giề lục bình trôi dạt. Dấu chân giẫm đạp bùn đất hỗn loạn, dấu vết của những chiếc xà beng bẩy cọc cắm sâu vào vách đất hãy còn mới nguyên.

Bao nhiêu công sức trắc địa, bao nhiêu số liệu chuẩn xác được tính toán bằng mồ hôi và trí tuệ để chuẩn bị cho việc nạo vét lòng kênh trước mùa gió chướng... tất cả đã bị phá hủy hoàn toàn trong đêm tối tăm của định kiến.

“Thấy chưa Triết? Mày đã sáng mắt ra chưa?”

Một giọng nói khàn đặc, mệt mỏi vang lên từ phía sau lưng. Triết quay lại, thấy kỹ sư Hoàng bước ra từ căn lán tre lợp lá dừa nước. Hoàng mặc chiếc áo thun l*nh ng** cũ mòn, râu ria lởm chởm trên khuôn mặt hốc hác, đôi mắt trũng sâu quầng thâm vì một đêm thức trắng canh công trường trong vô vọng. Trên tay Hoàng là ca nước trà quao đắng ngắt đã nguội tanh.

Hoàng bước tới bên cạnh Triết, chỉ tay về phía bãi cọc tràm trơ trọi đang trôi dạt, giọng cười cay đắng đến chua chát “Tao đã nói với mày từ tối hôm qua ở đình làng rồi mà mày không chịu nghe! Người ta không cần cái cống này! Họ coi tao với mày như quân ăn cướp, cướp đất, cướp nước, cướp long mạch của họ. Tụi thằng Sáu Rạng nửa đêm kéo xuồng ra nhổ sạch cọc, tao cầm đèn bão chạy ra thì tụi nó ném đá túi bụi rồi chèo xuồng lủi mất vào rạch dừa nước. Còn đám nhân công đào đất hả? Sáng sớm nay thằng Đội trưởng nó cho người sang báo: bà con bận tỉa cành bưởi, bận đi đám giỗ, không ai thèm đi làm nữa đâu! Họ đình công hết rồi!”

Triết siết chặt hai nắm đấm, khớp ngón tay trắng bệch. Anh nhìn chăm chú vào những vết cọc tràm bị nhổ toạc nham nhở dưới đáy bùn, lồng ngực phập phồng từng cơn uất nghẹn. Nhưng anh không nói một lời giận dữ. Cơn thịnh nộ nếu có chỉ bùng lên trong chốc lát rồi nhanh chóng nhường chỗ cho sự trầm tĩnh đến lạnh lùng của một người trí thức có bản lĩnh.

Hoàng bước lại gần chiếc bàn gỗ ghép tạm trong lán, rút ra một tập hồ sơ dự án bìa xanh đã ngả màu vì ẩm ướt, cùng một tờ giấy trắng phẳng phiu đặt trước mặt Triết. Hoàng chìa cây bút máy Kim Tinh ra, giọng chùng xuống tha thiết “Viết đi Triết! Mày viết báo cáo xin rút dự án về Ty Nông nghiệp tỉnh lỵ đi! Tao với mày là kỹ sư đào tạo chính quy, tốt nghiệp loại ưu đàng hoàng. Tương lai của mày ở thành phố Cần Thơ, ở trên Viện Quy hoạch Nam Bộ, thiếu gì công trình lớn triệu đô đang chờ mày đặt bút vẽ? Mắc mớ gì mày phải chôn vùi tuổi trẻ, chôn vùi cái bằng kỹ sư danh giá ở cái xó cù lao tăm tối, bảo thủ này? Dân người ta đã xua đuổi, bô lão đã đập bàn bác bỏ, giờ cọc bị nhổ, nhân công bỏ việc... Mày định lấy tay không mà đắp đập, ngăn mặn hay sao?”

Gió chướng lại thốc một cơn mạnh từ phía sông lớn tràn vào lán trại, làm bay phần phật những góc bản vẽ kỹ thuật dán trên vách nứa.

Triết nhìn tờ giấy trắng, rồi lại ngước mắt nhìn ra dòng kênh Xanh. Xa xa bên kia bờ kênh, những rặng bần trút lá khẳng khiu, những liếp vườn bưởi da xanh đang oằn mình hứng chịu những đợt gió chướng hanh hao đầu mùa. Anh nhớ lại những con số quan trắc độ mặn mà mình đã cẩn thận ghi chép suốt hai tuần qua: nồng độ mặn ở vàm sông đang tăng từng ngày theo chu kỳ bất thường của năm 1992. Chỉ chừng hai tháng nữa thôi, khi mùa khô đỉnh điểm ập đến, lưỡi mặn từ biển Đông sẽ luồn sâu vào cuống họng của con kênh này. Toàn bộ cù lao Tân Bình sẽ biến thành một cánh đồng chết khát. Cây trái rụng đọt, lúa non cháy khô, và người nông dân lam lũ sẽ lại gánh chịu cảnh trắng tay, tan đàn xẻ nghé.

Và anh nhớ đến Lụa. Nhớ đến đôi bàn tay chai mịn khâu từng đường chỉ thâu đêm để chắt chiu từng đồng tiền lẻ, nhớ đến giọt nước mắt nghẹn ngào của cô khi nhìn đứa em trai duy nhất dứt áo ra đi vì cái nghèo bủa vây.

Triết chầm chậm đẩy tờ giấy trắng sang một bên. Anh tháo cặp kính cận gọng đồi mồi ra, dùng vạt áo lau sạch lớp sương mù đọng trên mặt kính rồi đeo lại cẩn thận. Ánh mắt anh nhìn thẳng vào Hoàng, kiên định như một tảng đá ngầm giữa dòng nước xiết “Anh Hoàng, nếu bây giờ tụi mình viết báo cáo rút lui, Ty Nông nghiệp sẽ chuẩn y ngay. Tụi mình sẽ về lại tỉnh lỵ, ngồi phòng giấy quạt trần mát rượi, lĩnh lương công chức đều đặn, không ai trách cứ một lời. Nhưng còn mảnh đất cù lao này thì sao?”

Hoàng sững người, trừng mắt nhìn Triết.

Triết bước ra mép lán, chỉ tay về phía những rặng dừa nước bạt ngàn “Bà con phản đối là vì họ chưa hiểu. Họ mang trong mình vết thương quá khứ của những đợt đắp đập sạt lở chết người mười mấy năm trước, họ sợ khoa học nửa vời của tụi mình sẽ làm tan nát mồ hôi nước mắt của họ. Cái sai không phải ở lòng dân, mà là ở chỗ tụi mình chưa chứng minh được cho họ thấy công trình này được sinh ra để bảo bọc họ, chứ không phải để tước đoạt dòng nước của họ! Nếu bây giờ tao với mày bỏ cuộc, quay lưng phủi tay áo đi về, thì ai sẽ cứu hàng trăm hécta vườn tược cù lao này trước mùa hạn mặn năm tới? Ai sẽ trả lại tương lai cho những người như thằng Thành, như cô Lụa?”

“Nhưng mày định làm bằng cách nào?” Hoàng hét lên, giọng vừa bất lực vừa xót xa: “Không có người đào đất! Không có cọc mốc! Đến cả lòng bùn kia còn muốn nuốt chửng mày!”

“Không có người thì tao tự làm!” Triết đáp bằng một giọng nói trầm thấp nhưng đanh thép: “Một cọc bị nhổ, tao đóng lại một cọc. Trăm cọc bị nhổ, tao đóng lại trăm cọc. Chừng nào chân tao còn đứng vững trên bùn đất cù lao này, Kênh Xanh nhất định phải có cống ngăn mặn!”

Dứt lời, không đợi Hoàng kịp can ngăn, Triết cúi xuống cởi phăng đôi dép rọ nhựa đã mòn vẹt. Anh xắn hai ống quần kaki sẫm màu lên quá bẹn, buộc chặt gấu quần bằng hai sợi dây lát xé vội. Anh vớ lấy chiếc búa tạ bằng thép nặng trịch ở góc lán, vai vác chiếc máy thủy bình Liên Xô cũ kỹ và cây mia trắc địa bằng gỗ thông, lầm lũi bước thẳng xuống mép kênh.*

Bùn đáy kênh Xanh là thứ bùn phù sa non quyện chặt với bùn phèn xám xịt, dẻo quánh như keo dán.

Vừa đặt chân xuống mép nước, cả người Triết đã sụt lún một đoạn dài. Lớp bùn lạnh buốt lập tức ngập đến bắp chuối, rồi chìm sâu đến quá đầu gối. Mỗi một bước nhấc chân lên là một cuộc vật lộn gian nan; tiếng bùn m*t chặt lấy da thịt kêu lên những tiếng chẹp... chẹp nặng nề, hôi nồng mùi lưu huỳnh và xác ốc chết.

Mùi bùn ngái nồng bốc lên cay xè mũi dưới ánh mặt trời buổi sớm đang bắt đầu gay gắt. Triết cắn chặt môi, hai hàm răng nghiến chặt lại, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể vào từng bước đi bì bõm. Anh lội từng bước ra giữa lòng kênh cạn, nơi dòng chảy vừa rút để lộ ra những bãi bồi trơ trọi.

Đặt chiếc chân máy thủy bình ba càng vững chãi trên một gò đất sét cứng, Triết cúi đầu, ghé mắt vào thị kính quang học. Bàn tay anh – bàn tay với những vết xước rớm máu tối hôm trước vừa được những ngón tay mềm mại của Lụa cẩn thận gắp từng mảnh dằm tre và băng bó bằng gạc trắng – nay lại bám chặt lấy ốc vi động bằng đồng thau. Vết thương gặp nước bùn và phèn chua xót buốt đến tận tim gan, nhưng Triết dường như không còn bận tâm đến nỗi đau thể xác ấy nữa.

Anh đo đạc lại từng cao trình, ngắm từng góc phương vị của tim cống. Sau khi xác định chính xác vị trí mốc cọc đầu tiên, Triết lội bùn quay lại mép bãi, cúi người ôm lấy một thân cọc tràm to bằng bắp chân người lớn. Thân tràm tươi nặng trĩu, vỏ cây xù xì và gai góc cọ xát vào lồng ngực và cánh tay anh, làm rách toạc những mảng da non.

Triết vác thân cọc tràm lội ngược trở lại tim kênh. Anh dựng thẳng đứng thân cọc vào lớp bùn lầy, dùng một tay giữ chặt thân gỗ, tay kia vung chiếc búa tạ nặng hơn năm ký lên không trung.

Thùng!

Tiếng búa thép nện xuống đầu cọc tràm vang lên một âm thanh khô khốc, trầm đục xé toạc không gian tĩnh lặng của bờ kênh vắng. Thân cọc lún sâu vào lòng đất sét nửa tấc. Bùn bắn tung tóe lên mặt, lên kính cận, làm cay xè mắt Triết. Anh đưa cánh tay áo lem luốc quệt ngang mặt, rồi lại nghiến răng vung búa lần thứ hai, lần thứ ba.

Thùng! Thùng! Thùng!

Từng nhát búa giáng xuống dứt khoát, nhẫn nại và bền bỉ. Mồ hôi bắt đầu túa ra như tắm, ướt đẫm tấm lưng áo sơ mi xám tro – chiếc áo kỷ vật của má mà Lụa vừa giặt ủi phẳng phiu, may diễu lại đường gân vai đĩnh đạc chiều qua. Giờ đây, chiếc áo ấy lại bết dính mồ hôi và bùn non, ôm sát lấy bờ vai rắn rỏi đang phập phồng theo từng nhịp th* d*c.

Trên bờ đê, kỹ sư Hoàng đứng lặng nhìn xuống. Gương mặt Hoàng biến đổi từ ngỡ ngàng, chua xót sang một nỗi xúc động nghẹn ngào. Nhìn bóng dáng gầy gò nhưng sừng sững của người bạn đồng nghiệp đơn độc vật lộn giữa lòng kênh cạn, Hoàng vứt điếu thuốc đang hút dở xuống chân, nghiến gót giày dập tắt.

“Mẹ kiếp! Mày điên thật rồi Triết ơi!”

Hoàng chửi thề một tiếng, nhưng bàn tay đã thoăn thoắt cởi bỏ chiếc áo thun, xắn quần bước phăng phăng xuống mép nước. Hoàng lội bùn bì bõm tới bên Triết, giật lấy cây mia trắc địa “Đưa cây mia đây cho tao! Mày định vừa đóng cọc vừa ngắm máy một mình chắc? Muốn chết thì tao với mày cùng chết chìm dưới cái vũng bùn này!”

Triết dừng tay búa, ngẩng đầu lên nhìn bạn qua đôi tròng kính lấm lem bùn đất. Khóe môi anh khẽ nhếch lên một nụ cười hiền hậu, ấm áp: “Cảm ơn anh Hoàng.”

Hai chàng kỹ sư trẻ tuổi, một người giữ cọc tiêu, một người vung búa tạ, cặm cụi làm việc giữa lòng kênh cạn dưới cái nắng gắt gao của trời trưa Nam Bộ. Cứ mỗi chiếc cọc tràm được đóng sâu xuống lớp đất nền vững chãi, một mốc định vị cho tương lai của cù lao lại được hồi sinh từ trong hoang tàn.

Gió chướng mỗi lúc một thổi mạnh hơn, kéo theo những đám mây trắng xốp trôi dạt trên nền trời xanh ngắt.

Trên bờ đê cao cách bãi thi công chừng năm mươi thước, nép mình dưới bóng mát của cây gòn gai cổ thụ, một bóng người đã đứng đó tự bao giờ.

Đó là ông Bảy Kiên.

Người bô lão quắc thước của cù lao Tân Bình đứng sừng sững như một gốc cây cổ thụ cắm rễ sâu vào đất phù sa. Ông mặc bộ quần áo bà ba màu nâu sồng đã bạc phếch hai bên vai, chân đi chữ bát vững chãi, hai cánh tay gân guốc khoanh chặt trước ngực. Đôi mắt già nua sâu hoắm, sắc như dao cau dưới hàng lông mày rậm hoa râm, đang đăm đăm nhìn xuống bãi bùn lầy lội nơi lòng kênh Xanh.

Ông Bảy Kiên đã đứng ở đó suốt hơn một canh giờ đồng hồ.

Ban đầu, khi nghe tin đám trai làng nhổ sạch cọc cừ và đám thợ đào đất đồng loạt bỏ việc, ông đã ngỡ rằng đoàn kỹ sư tỉnh lỵ sẽ nản lòng thoái chí mà khăn gói cuốn xéo khỏi mảnh đất này ngay trong buổi sớm. Những công chức thị thành quen ngồi bàn giấy, da trắng mịn như bột lọc ấy làm sao chịu nổi cái nắng rát mặt và lớp bùn phèn hôi hám của cù lao?

Thế nhưng, những gì đang diễn ra trước mắt khiến lồng ngực người bô lão già nua khẽ phập phồng run rẩy.

Dưới lòng kênh sâu hoắm, chàng kỹ sư trẻ mang cặp kính cận vẫn đang cắn răng ngâm mình dưới lớp bùn ngập đến bẹn. Bùn đất đen ngòm bám đầy tóc tai, dính chặt vào gương mặt thư sinh hốc hác. Đôi bàn tay phồng rộp, rướm máu vì dằm gai và miệng cọc tràm vẫn đều đặn, nhẫn nại vung chiếc búa thép nặng trịch nện từng nhát chắc nịch vào lòng đất. Không một lời than vãn, không một ánh mắt oán hờn. Chỉ có một sự kiên trì câm lặng đến phi thường, một sự tận tụy đến mức bướng bỉnh, như thể chàng trai ấy đang dùng chính sinh mệnh và máu thịt của mình để bảo vệ từng tấc đất, từng giọt nước ngọt ngào cho mảnh đất cù lao này.

Thùng! Thùng! Thùng!

Từng tiếng búa dội vào không gian trưa vắng, dội thẳng vào tâm can của ông Bảy Kiên.

Ánh mắt người bô lão bỗng lóe lên một sự xao động sâu xa, nhức nhối. Trong khoảnh khắc ấy, làn sương mờ của quá khứ đau thương mười mấy năm về trước bất chợt ùa về phủ kín tâm trí ông.

Hình ảnh Hai Thuận – đứa con trai độc nhất của ông, người thanh niên phơi phới tuổi đôi mươi cũng từng có đôi mắt sáng rực lý tưởng và đôi bàn tay rắn rỏi như thế. Thuận cũng từng xắn quần lội bùn, từng vác cừ tràm đắp đập ngăn mặn ở nông trường Cù Lao Dung năm xưa... trước khi một mảng đất bờ bao sụt lún vùi lấp đi tất cả thanh xuân và sinh mạng của con trai ông, biến người cha thành kẻ cô độc cay nghiệt ôm mối hận với mọi công trình đào đắp.

Ông Bảy Kiên từng tin rằng mọi kẻ từ tỉnh lỵ mang bản vẽ về đây đều là những kẻ vô tâm, những kẻ chỉ muốn lập công trên lưng người nông dân nghèo khó.

Nhưng chàng trai trẻ đang lấm lem bùn đất dưới kia... đôi mắt kiên định và đôi bàn tay phồng rộp kia... liệu có phải là một kẻ cầu danh?

Hai bàn tay khoanh trước ngực ông Bảy Kiên khẽ siết chặt lại. Các khớp xương ngón tay gầy guộc kêu lên lách cách. Cơ mặt ông co giật nhẹ, hàm râu kẽm rung rinh trong gió chướng. Ông đứng lặng trân như một bức tượng đồng đen giữa trưa nắng, ánh mắt nhìn xoáy vào từng nhát búa của Triết, trong đáy mắt ánh lên một nỗi giằng xé dữ dội giữa định kiến thâm căn cố đế và niềm trắc ẩn đang trỗi dậy từ đáy sâu tâm hồn.

Không một ai biết ông đã đến, và cũng không ai hay ông rời đi lúc nào. Người bô lão chầm chậm buông thõng hai tay, xoay người cất bước đi về phía con đường mòn rợp bóng dừa nước, bóng lưng già nua đổ dài trên mặt đất nứt nẻ vì chớm hạn.

Dưới lòng kênh, mặt trời đã lên đến đỉnh đầu. Nắng trưa đổ lửa xuống dòng Kênh Xanh cạn đáy.

Chiếc cọc tràm cuối cùng của tuyến mốc cao trình bên tả ngạn đã được đóng xuống sâu hoắm, thẳng tắp thành một hàng rào kiên cố cắm sâu vào nền địa chất. Triết buông cán búa tạ, cả người anh run lên vì kiệt sức. Hai đầu gối anh rệu rã, phải tựa lưng vào thân cọc tràm vừa đóng mới không ngã quỵ xuống lớp bùn nhão.

Anh tháo kính ra, dùng mu bàn tay quẹt vội lớp mồ hôi muối đang làm cay xè tròng mắt. Hoàng cũng mệt lả, ngồi phệt xuống chiếc thùng gỗ trắc địa trên bờ gò, thở không ra hơi.

Triết ngước nhìn hàng cọc cừ tràm thẳng tắp vừa được phục dựng giữa lòng kênh, lòng khẽ dâng lên một niềm an ủi nhạt nhòa. Nhưng niềm vui lao động ngắn chẳng tày gang, trong tâm trí anh, hình ảnh Lụa với đôi mắt đỏ hoe và bước chân chới với giữa buổi sớm mai lại hiện về, thiêu đốt tâm can anh như lửa bỏng.

Không biết Lụa đã tìm được thằng Thành chưa? Liệu cậu thiếu niên ấy có trốn lên chuyến đò máy nào đi biệt xứ, hay vì túng quẫn mà làm chuyện gì dại dột?

Triết sốt ruột xỏ chân vào đôi dép rọ, toan lội ngược lên bờ để chạy sang tiệm may Cúc Áo nghe ngóng tình hình.

Nhưng đúng lúc anh vừa lom khom cúi người nhặt chiếc thước dây dưới chân cọc cuối cùng, thì từ phía khúc quanh mé sông lớn – nơi có bến sà lan bốc vác lúa gạo của vựa Chín Sậy – bất thần vang lên những tiếng la ó kinh hoàng, thất thanh xé toạc không khí oi ả của buổi trưa vắng “Trời đất quỷ thần ơi! Cứu người ta mau lên! Có người trượt chân lật xuồng, ngã từ cầu ván sà lan xuống hầm lúa rồi bà con ơi!”

“Gãy xương bánh chè rồi! Máu me be bét hết trơn nè! Chạy mau qua trạm xá kêu người cứu thằng nhỏ đi!”

Tiếng la hét hỗn loạn cùng tiếng chân chạy rầm rập trên ván ép dội thẳng vào tai Triết. Chiếc thước dây trên tay anh rơi tuột xuống bùn sâu, tim anh thắt lại một nhịp kinh hoàng khi một linh cảm dữ dội, lạnh toát chạy dọc sống lưng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.