Chương 8: Nước Mắt Trên Từng đường Sửa áo

Lụa giật thót mình, cả người run lên bần bật. Giữa cơn kinh hãi tột cùng, phản xạ đầu tiên của cô là vội vàng vơ lấy chiếc khăn tay bọc sợi dây chuyền vàng cùng cọc tiền lẻ trên mặt bàn cắt, nhét thốc vào sâu dưới đáy chiếc hộp bánh quy gỉ sét rồi đậy chặt nắp thiếc lại. Cô đẩy vội chiếc hộp vào góc khuất sau kệ để chỉ may, tim đập dồn dập như gõ trống trong lồng ngực.

“Rầm! Rầm! Rầm!”

“Lụa ơi! Cứu chị với Lụa ơi… Mày không mở cửa là chết cả nhà tao đó Lụa ơi!”

Tiếng đập cửa vẫn vang lên như bão giật, then cài bằng gỗ dầu rung lên bần bật. Nghe rõ tiếng khóc rấm rứt và giọng nói the thé quen thuộc, Lụa mới bàng hoàng nhận ra đó là giọng của chị Sáu Mận – người đàn bà xóm trên, cách tiệm may chừng hai bờ liếp dừa.

Lụa hớt hải chạy vội ra cửa trước, hai tay run rẩy rút mạnh chiếc then cài bằng gỗ. Cánh cửa liếp vừa hé mở ra một khe nhỏ, một luồng gió đêm lạnh buốt từ ngoài vàm kênh Xanh đã thốc thẳng vào nhà, mang theo hơi nước ngai ngái mằn mặn của con nước ròng sát đáy.

Chưa kịp để Lụa định thần, một bóng người từ ngoài bóng tối ùa sầm vào trong như một cơn gió lốc. Chị Sáu Mận người ướt đẫm sương đêm, đầu tóc rối bù xù, hai mắt đỏ hoe sưng húp, trên tay ôm khư khư một bọc nilông lớn sọc xanh đỏ dán băng keo chằng chịt. Người đàn bà vừa bước qua bậu cửa đã sụm hai đầu gối xuống chiếc ghế đẩu cạnh bàn cắt, thở không ra hơi, vừa quệt nước mắt nước mũi vừa run rẩy nắm chặt lấy vạt áo bà ba của Lụa.

“Trời phật ơi chị Sáu!” Lụa tái mặt, vội ngồi thụp xuống đỡ lấy vai người hàng xóm: “Có chuyện chi vậy chị? Nửa đêm nửa hôm làm em hồn xiêu phách lạc… Ai làm sao? Anh Sáu hay mấy đứa nhỏ bị làm sao hả chị?”

“Chết… chết cái danh dự cả nhà tao rồi Lụa ơi!” Chị Sáu Mận mếu máo, ngực phập phồng như người vừa thoát chết đuối dưới sông lên: “Tao lạy mày, mày thương tình cứu má con tao một phen này. Mày không ra tay giúp thì sáng mai họ nhà trai tới, tao chỉ có nước nhảy mẹ xuống kênh Xanh trôi ra sông Cái cho rồi chứ mặt mũi nào mà nhìn bà con dòng họ nữa!”

Lụa nghe tới đó thì khựng lại, đôi mày thanh tú khẽ nhíu vào nhau. Cô nhìn bộ dạng hớt hải của chị Sáu, rồi đưa mắt nhìn bọc nilông to đùng đang nằm chỏng chơ trên mặt bàn cắt gỗ mít.

“Chuyện… chuyện là làm sao hả chị? Chị bình tĩnh nói rõ cho em nghe coi nè.”

Chị Sáu Mận quẹt ngang dòng nước mắt ngắn dài, run rẩy cởi nút thắt của bọc nilông, lôi ra xốc xếch bốn bộ quần áo còn sực nức mùi hồ vải công nghiệp nồng nặc đến nghẹt mũi.

“Thì ngày mai là đám cưới con Tư Lan chớ đâu!” Chị Sáu nghẹn ngào, giọng run bắn: “Nó là cháu ruột tao, gả cho thằng con trai chủ tiệm vàng lớn miệt Cai Lậy. Đàng trai người ta giàu có nứt đố đổ vách, mai sáu giờ sáng đã cho đò máy sang bến rước dâu. Tao là dì ruột đi đầu họ đàng gái, lại dẫn theo con Út với con Mẹo đi bưng khay trầu rượu. Mày coi, mọi bận tao tính đem vải qua nhờ mày may, nhưng ngặt nỗi hổm rày nghe mấy bà ngoài chợ kháo nhau trên chợ huyện người ta mới về một lô đồ may sẵn đẹp dữ dằn lắm, kiểu mẫu y chang trên tivi, lại rẻ bèo… Tao ham rẻ, sáng nay gom hết tiền bán chục vịt xiêm với bầy gà giò, dắt hai đứa nhỏ đón đò dọc lên chợ huyện mua vội bốn bộ đồ may sẵn về để dành mai bận cho nở mày nở mặt…”

Chị Sáu vỗ đét vào đùi một cái rõ đau, nước mắt lại ứa ra ròng ròng “Ai dè đâu… tối nay cả nhà dọn dẹp xong xuôi đem ra mặc thử thì trời đất quỷ thần ơi! Cái áo bà ba bằng vải kate hoa của tao thì hai cái nách nó may túm lúm, tròng vô người như bị ai trói giò trói cánh, giơ cái tay lên không nổi mà cái vạt trước lại hớt ngược lên tận rốn. Còn hai bộ đồ kiểu phi bóng của con Út với con Mẹo, eo thì rộng thênh thang như cái bao bố, mà hai cái ống quần cái dài cái ngắn, đáy thụng tới đầu gối! Tệ hại nhứt là chiếc áo lụa bóng của con bé lớn, đường vắt sổ bằng chỉ nilon nó bung bét hết trơn, cựa nhẹ một cái là toạc ra một đường dài thòng lọng… Mai đàng trai sang mà má con tao bận cái thứ giẻ rách này đứng đón khách thì thiên hạ người ta cười cho thối mũi, cười từ đời má tới đời con! Tao hối hận quá Lụa ơi… Tao tiếc mấy ngàn tiền công may đo của mày, giờ rước về cái của nợ này đây!”

Nghe trọn một tràng than thở mếu máo của chị Sáu Mận, Lụa bất giác thở phào một hơi nhẹ nhõm vì không phải chuyện chết chóc người ngợm như lời thét ban nãy. Nhưng ngay sau cái thở phào ấy, một vị đắng chát, xót xa đến nghẹn ứ bỗng từ từ dâng lên nơi cuống họng cô thợ may trẻ.

Lụa đưa tay nhấc chiếc áo bà ba màu mỡ gà in hoa tím của chị Sáu lên. Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu hột vịt, hiện ra trước mắt cô là những đường may thô thiển đến gai người. Vải là loại kate pha nilon cứng quắc, cọ vào da nghe sột soạt. Người ta may bằng máy công nghiệp chạy tốc độ cao, đường kim thưa thớt, mũi chỉ giật dúm dó làm cho hai bên sườn áo cong queo như con sâu đo. Vòng nách áo không hề được khoét lượn theo dáng vai mà cắt thẳng đuột một đường vuông vức, hèn chi người mặc tròng vào sẽ bị kích nách, không tài nào nâng cánh tay lên được. Từng mép vải bên trong chỉ được xén qua loa bằng một đường vắt sổ đơn sợi cẩu thả, những sợi chỉ cước nilon trắng dã tua tủa đâm ra, cọ vào da thịt sẽ ngứa ngáy khôn cùng.

Lụa lật tiếp sang hai bộ đồ kiểu của hai cô thiếu nữ. Phom dáng thụng thịnh, đường may xiêu vẹo, con cúc áo bằng nhựa rẻ tiền đơm lỏng lẻo chực đứt bung.

“Lụa ơi… Mày cứu chị đi mày…” Chị Sáu Mận chắp hai tay lại, gần như sụp lạy trước mặt Lụa: “Chị biết giờ này là nửa đêm rồi, ai đời lại đi bắt thợ may thức trắng đêm mà sửa đồ vá víu giùm mình. Nhưng cả cái cù lao này chỉ có tay nghề của mày là khéo nhứt, tỉ mỉ nhứt. Mày thức đêm sửa lại cho vừa dáng má con tao bận kịp chuyến đò rạng sáng mai đi. Tao… tao gửi tiền công đàng hoàng! Một bộ tao gửi mày hai ngàn, ba ngàn cũng được… Mày lấy bao nhiêu tao cũng trả, miễn sao mai má con tao có đồ lành lặn bận đi đám cưới thôi Lụa ơi!”

Nhìn người đàn bà lam lũ cả đời quanh quẩn bên liếp dừa, chuồng heo, vì chút sĩ diện nông dân trước đám cưới nhà họ hàng khá giả mà hoảng loạn đến mức này, Lụa không nỡ nào nói lời từ chối. Lòng trắc ẩn và sự bao dung của một đứa con cù lao khiến cô khẽ thở dài, nắm lấy đôi bàn tay đang run rẩy của chị Sáu.

“Thôi, chị nín đi, đừng khóc nữa kẻo sưng mắt, mai làm sao mà bận đồ đi rước dâu.” Lụa dịu dàng đỡ chị đứng dậy: “Chị để hết bốn bộ đồ ở đây cho em. Giờ chị đi bộ về nhà chợp mắt một lát đi, thức thâu đêm thế này mai chịu không nổi đâu. Cứ để em sửa. Chừng bốn giờ rưỡi, năm giờ kém sáng mai chị bước sang đây lấy. Em ráng làm cho xong trước lúc đò cập bến.”

Chị Sáu Mận nghe như chết đuối vớ được cọc, mừng rỡ nắm chặt lấy tay Lụa lắc lia lịa “Thiệt hả Lụa? Đội ơn mày dữ lắm Lụa ơi! Ba má mày dưới suối vàng chắc phù hộ cho mày dữ lắm… Thôi chị về liền, không dám làm phiền mày nữa. Nhớ nghen Lụa, ráng cứu chị nghen mày!”

Người đàn bà tất tả quay lưng, bước chân vội vã rẽ màn đêm mù sương đi ngược về phía bờ liếp, để lại sau lưng gian nhà ba gian của tiệm may Cúc Áo chìm lại vào sự vắng lặng như tờ.

Lụa gài then cửa liếp lại một cách cẩn thận. Gió đêm luồn qua khe vách nứa rít lên từng hồi u u u uất uất. Cô khẽ bước về phía chiếc bàn cắt gỗ mít, vặn tim đèn dầu cho ngọn lửa bùng to hơn một chút. Ánh sáng vàng vọt hắt lên bốn bộ quần áo may sẵn sặc sỡ đang nằm bừa bộn trên mặt bàn, trông chướng mắt và lạc lõng vô cùng giữa mùi gỗ dầu, mùi chỉ thêu và không gian quen thuộc của tiệm may truyền thống.

Lụa kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống, với tay lấy chiếc kéo bấm bằng thép đen bóng – chiếc kéo kỷ vật của ba để lại.

Ngón tay trỏ có vết chai mịn của Lụa nhẹ nhàng luồn mũi kéo sắc lẹm vào từng mũi chỉ vắt sổ trên nách chiếc áo bà ba màu mỡ gà.

“Xoẹt… xoẹt…”

Từng đoạn chỉ cước nilon đứt lìa, giòn tan và vô hồn. Để sửa một chiếc áo may sẵn bị lỗi thế này, người thợ may thủ công phải nhọc công gấp năm, gấp mười lần may một chiếc áo mới toanh từ xấp vải lành lặn. Muốn áo ôm khít nách mà không bị giật vạt, Lụa phải tỉ mẩn tháo rời toàn bộ phần nách và đường sườn áo. Khổ nỗi, thợ may công nghiệp chạy theo số lượng nên lúc cắt vải bằng máy đã xén sát mép, bên trong không hề chừa lại lấy một phân vải thừa nào để nới lỏng. Từng đường cắt sắc lẹm của máy dập công nghiệp đã làm đứt gãy những thớ sợi tự nhiên của mặt vải.

Lụa cắn môi, kiên nhẫn dùng thước gỗ và viên phấn may màu xanh vẽ lại từng đường lượn thoai thoải nơi vòng nách. Đôi bàn tay thon dài của cô thoăn thoắt gọt từng li vải thừa, dùng bàn ủi con gà bỏ than đỏ ủi chết từng nếp gấp cong queo mà người ta đã ép cẩu thả trước đó. Từng động tác đều chuẩn xác, nắn nót như thể cô đang làm việc trên một khúc lụa quý giá nhất đời mình.

Sau khi ghim kim cố định lại phần sườn và vòng nách của chiếc áo, Lụa xoay người ngồi vào chiếc máy may chân đạp hiệu Con Bướm.

Cô đặt bàn chân mang đôi guốc mộc mòn gót lên bàn đạp sắt đúc hình hoa văn uốn lượn. Tiếng chân đạp nhịp nhàng vang lên giữa đêm vắng “Cọt kẹt… cọt kẹt… rè rè…”

Tiếng con thoi chạy lách cách đều đặn, mũi kim máy may sáng loáng thoăn thoắt đâm lên thụp xuống, cuốn theo sợi chỉ cotton dẻo dai màu tím nhạt mà Lụa vừa tỉ mỉ chọn từ kệ chỉ để tiệp với màu hoa in trên nền áo. Từng đường kim mũi chỉ mới đè lên vết kim thô thiển cũ, thẳng tắp, đều đặn như những hạt mè rải trên mặt bánh tráng. Chiếc nách áo dần dần hiện ra mềm mại, ôm khít theo đường cong cơ thể, vạt áo trước được hạ xuống phẳng phiu, buông lơi tự nhiên không còn bị giật co rúm ró nữa.

Xong chiếc áo của chị Sáu, Lụa lại cúi gập lưng bên chiếc bàn cắt để rã tiếp hai chiếc quần phi bóng của hai cô gái trẻ. Chiếc đáy quần thụng thịnh bị cắt bớt ba phân, hai ống quần được so lại bằng thước dây cho bằng chằn chặn, rồi tỉ mẩn gập mí gấu quần, luồn từng đường kim khâu lược giấu chỉ tinh tế đến mức lật mặt ngoài tuyệt nhiên không thấy một gợn chỉ nào.

Thời gian chầm chậm trôi qua theo từng nhịp thở của đêm cù lao. Ngoài xa, tiếng sóng nước vỗ ì oạp vào chân cầu dừa, tiếng gió chướng rít qua những rặng bần già nghe như tiếng thở dài của đất trời giáp Tết.

Mỏi lưng quá, Lụa buông kéo, khẽ đưa tay đấm nhẹ vào vùng thắt lưng ê ẩm. Cô đưa mắt nhìn quanh gian nhà trước.

Mọi năm, cứ vào độ này – tháng Chạp cận kề, gió chướng về lồng lộng báo hiệu mùa xuân sang – tiệm may Cúc Áo của ba má cô luôn rộn rã, tấp nập từ sáng sớm tinh mơ cho tới tận gà gáy canh ba. Trên chiếc bàn cắt gỗ mít dài này, những xấp vải lụa tơ tằm Bảo Lộc, vải gấm bóng, vải xoa, vải voan hoa bông nhí thơm phức mùi sợi mới chất cao thành từng chồng ngăn nắp. Khách hàng khắp mấy ấp cù lao, từ bà bến trên tới cô bến dưới, nườm nượp bơi xuồng ghé tiệm. Tiếng cười nói râm ran cả một khúc kênh: “Lụa ơi, may cho tao cái áo bà ba màu lòng đào bận đi ăn giỗ nghen”, “Nè con, đo ni cho chị cái áo dài nhung đen đặng mùng Một đi lễ chùa”… Ba cô đứng bên bàn cắt thoăn thoắt vung kéo, má cô ngồi bên máy may nắn nót từng đường tà, còn Lụa thì lăng xăng luồn chỉ đơm cúc, ríu rít như bầy chim sẻ đón xuân.

Thế nhưng, chỉ mới bước sang năm 1992 này, thời thế đổi thay nhanh đến mức rợn người.

Chính sách Đổi mới mở ra, hàng hóa khắp nơi ùn ùn đổ về miền Tây sông nước. Những bao tải quần áo may sẵn công nghiệp từ Chợ Lớn đổ xuống chợ huyện, chợ xã với giá rẻ như cho không. Chỉ cần bỏ ra mười mấy hai mươi ngàn đồng là người ta đã có ngay một bộ đồ bộ hoa hòe hoa sói tròng ngay vào người, không cần chờ đợi cả tháng trời, không tốn tiền mua vải rồi lại tốn tiền công may đo. Người dân quê lam lũ, quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, ai nấy đều chuộng cái rẻ, cái nhanh, cái tiện lợi trước mắt. Mấy ai còn đủ kiên nhẫn và tiền bạc để trân quý một tà áo cắt may đo ni đóng giày theo chuẩn mực “thắt đáy lưng ong” truyền thống nữa?

Hậu quả là cả tháng nay, cuốn sổ ghi đơn hàng may đo của Lụa nằm trơ trọi trên kệ tre, vỏn vẹn không quá năm ba cái tên đặt may áo mới.

Thay vào đó, những ngày cận Tết này, hiên nhà tiệm may Cúc Áo lại chất đống những bọc nilông quần áo may sẵn rẻ tiền mà bà con lối xóm lục đục mang tới nhờ sửa lại. Người thì bảo: “Lụa ơi, bóp giùm tao hai phân eo cái quần tây chợ này với”, người thì dặn: “Lụa ơi, cắt bớt gấu áo này đi một tấc, người ta may cho ai bận mà dài như cái áo tơi”…

Tiền công cho mỗi lần rã áo, bóp eo, cắt gấu như thế chỉ vỏn vẹn năm trăm đồng, bảy trăm đồng, nhiều lắm là một ngàn đồng bạc lẻ. Những tờ tiền rách mép, nhàu nhĩ mùi mồ hôi và phèn chua mà người ta vuốt vội trao tay.

Từng nhát kéo bấm tách rời những đường chỉ lỗi của người ta, từng đường kim vá víu chắp vá trên những manh áo chợ thô kệch để đổi lấy vài đồng bạc lẻ ấy… đối với Lụa, nó cay đắng và đau đớn chẳng khác nào từng nhát dao cứa thẳng vào lòng tự trọng của một người thợ may thủ công chân chính.

Ba cô ngày trước từng đặt bàn tay thô ráp lên đầu cô mà dặn “Nghề may của nhà mình không phải là nghề ráp mấy miếng vải vụn lại thành cái áo che thân đâu con. Áo bà ba là cốt cách, là cái hồn cái vía của người đàn bà xứ sông nước. Người thợ may chân chính phải nhìn ra cái nét duyên thầm của người bận, nương theo đường lượn của xương vai, đường võng của cái eo mà cắt lượn mũi kéo. Đường kim mũi chỉ phải tròn trịa, ngay thẳng như chính cái lòng dạ thơm thảo của con người cù lao…”

Vậy mà giờ đây, Lụa phải ngồi đây giữa đêm hôm khuya khoắt, cúi gập tấm lưng gầy để đi sửa sang những sản phẩm cẩu thả, vô hồn của thứ máy móc công nghiệp chạy theo đồng tiền. Tinh hoa nghề nghiệp mà ba má cả một đời truyền dạy, những kỹ thuật thêu tay, đột chỉ chìm, vạt nách lượn cánh chuồn chuồn… giờ đây chẳng đổi nổi một bữa cơm tươm tất, chẳng gánh nổi mấy trăm ngàn đồng tiền học phí cho em trai vào đại học!Một nỗi tủi thân cay cực từ sâu thẳm đáy lòng bỗng chốc dâng trào lên mi mắt.

Lụa vội vàng đạp máy may để lấn át đi tiếng nấc nghẹn ngào chực trào ra nơi lồng ngực. Nhưng đôi bàn tay cô bắt đầu run rẩy. Trong một thoáng lơ đễnh vì đôi mắt nhòa đi bởi ngấn lệ, mũi kim thép sắc nhọn của chiếc máy may Con Bướm bất ngờ đâm sượt qua ngón tay trỏ của cô.

“Á…”

Lụa khẽ thốt lên một tiếng, vội vàng rụt tay lại.

Một giọt máu đỏ tươi ứa ra từ đầu ngón tay trỏ – nơi có vết chai mỏng mịn màng vì cầm kim bao năm tháng. Giọt máu tròn xoe, run rẩy đọng lại trên đầu ngón tay rồi bất thần rơi xuống, thấm một chấm đỏ sẫm vào mép vải kate hoa màu mỡ gà đang may dở.

Lụa hoảng hốt vội lấy góc giẻ lau chùi vội vết máu trên vải, may sao vết máu chỉ dính nơi mép vải thừa sẽ gập vào trong. Nhưng giọt máu ấy như một giọt nước làm tràn chiếc ly chịu đựng bấy lâu nay.

Lụa buông thõng hai tay xuống đùi. Cô gục đầu xuống cạnh chiếc máy may lạnh ngắt, hai vai run lên bần bật.

Nước mắt cô tuôn rơi lã chã, từng giọt từng giọt nóng hổi rơi lộp độp xuống mặt bàn máy may bằng gỗ dầu bóng loáng, nhòe nhoẹt cả vạt vải mới. Cô khóc cho số phận hẩm hiu của tiệm may Cúc Áo, khóc cho tà áo bà ba truyền thống đang bị người đời ghẻ lạnh, xua đuổi; khóc cho sự bất lực, nghèo khó của chính bản thân mình khi phải bán đi kỷ vật cuối cùng của má mới có tiền lo cho em ăn học; và khóc cho sự rẻ rúng của những giọt mồ hôi thợ may giữa buổi giao thời cơm áo gạo tiền nghiệt ngã.

Tiếng khóc của cô gái hai mươi tư tuổi nghẹn lại nơi cổ họng, không dám bật thành tiếng vì sợ làm kinh động đến giấc ngủ của đứa em trai duy nhất ở gian nhà sau. Cô chỉ biết cắn chặt môi đến bật máu, dùng mu bàn tay thô ráp quệt ngang hai hàng lệ giàn giụa.

Gió chướng ngoài bờ kênh lại thốc mạnh vào mái hiên vừa được Triết chằng chống hôm qua, phát ra những tiếng kêu răng rắc.

Lụa không hề hay biết rằng, ngay phía sau bức rèm vải hoa đã phai màu ngăn cách giữa gian nhà trước và gian nhà sau, một bóng người gầy guộc đã đứng lặng từ lúc nào.

Thành đứng chết trân trong bóng tối mờ ảo của gian nhà sau.

Cậu đã thức giấc từ lúc chị Sáu Mận đập cửa kêu gào ban nãy. Cậu đã lắng nghe không sót một lời than thở mếu máo của người hàng xóm, nghe tiếng chị gái mình nhận lời thức thâu đêm sửa đồ, nghe tiếng dao lam tách chỉ nilon sột soạt, và nghe cả tiếng bàn đạp máy may cọt kẹt suốt mấy tiếng đồng hồ ròng rã.

Qua khe hở của bức rèm vải, Thành nhìn thấy tất cả.

Cậu nhìn thấy ánh đèn dầu tù mù hắt lên bóng lưng gầy guộc, còng rạp của chị gái bên chiếc bàn máy may. Cậu nhìn thấy ngón tay chị ứa máu vì mũi kim đâm trúng. Và cậu nhìn thấy những giọt nước mắt tức tưởi, cay đắng rơi lã chã xuống vạt áo chợ của chị mình.

Ánh mắt Thành từ từ dời xuống góc bàn cắt mít già. Nơi đó, chiếc hộp bánh quy gỉ sét đang nằm im lìm trong góc tối. Thành nhớ như in ban tối, khi cậu vờ ngủ say trên giường tre, cậu đã thấy chị Lụa run rẩy mở chiếc hộp ấy ra, lấy sợi dây chuyền vàng hoa cúc kỷ vật của má áp lên ngực mà khóc. Chị muốn bán đi kỷ vật của đời mình, muốn còng lưng thức trắng từng đêm sửa từng manh áo rách nát của thiên hạ để kiếm từng năm trăm, một ngàn đồng bạc lẻ… tất cả chỉ vì sáu trăm ngàn đồng tiền học phí của cậu! Vì cái ước mơ làm thầy giáo viển vông của một thằng con trai nghèo hèn nơi xóm cù lao rách nát này!

Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng, xông thẳng l*n đ*nh đầu Thành, khiến lồng ngực cậu thắt lại đau đớn như bị ai bóp nghẹt.

Hai bàn tay Thành buông thõng bên hông bất giác siết chặt lại thành hai nắm đấm cứng ngắc. Cậu siết chặt đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau điếng mà không hề hay biết. Răng cậu nghiến chặt vào nhau kèn kẹt, quai hàm bạnh ra dữ dội. Trong đôi mắt sáng ngời của cậu thiếu niên mười tám tuổi, một ngọn lửa uất hận và tự trách đang bùng cháy dữ dội.

“Mình là thằng đàn ông… Mình là đứa con trai duy nhất của cái nhà này… Vậy mà mình lại để chị gái phải bán cả của hồi môn của má, phải khóc nghẹn từng đêm để nuôi mình đi học sao?”

Từng lời tự vấn gầm xé tâm can Thành, biến thành một quyết định lạnh lùng và dứt khoát đến tàn nhẫn nảy ra trong đầu cậu. Cậu khẽ lùi lại một bước vào sâu trong bóng tối của gian nhà sau, không để phát ra một tiếng động nhỏ nào, lặng lẽ quay trở lại chiếc giường tre ọp ẹp.

Bên ngoài gian trước, sau những phút giây yếu lòng hiếm hoi, Lụa hít một hơi thật sâu, lau khô những giọt nước mắt còn đọng lại trên má. Cô uống một ngụm nước mưa lạnh ngắt trong chiếc ca nhôm để lấy lại tỉnh táo, rồi lại kiên nhẫn cúi đầu, tiếp tục đạp máy may.

Tiếng chân đạp máy may lại vang lên đều đặn, nhẫn nại xé tan màn đêm tĩnh mịch “Cọt kẹt… cọt kẹt… rè rè…”

Đến khi những con gà trống gáy ran đầu làng báo hiệu canh tư chuyển sang canh năm, chiếc áo cuối cùng trong bọc đồ của chị Sáu Mận cũng được Lụa sửa xong hoàn chỉnh. Vòng nách đã êm, eo đã được bóp gọn gàng tôn dáng, gấu quần được so bằng tăm tắp, từng con cúc áo lỏng lẻo đều được Lụa cẩn thận dùng chỉ đôi đơm lại chắc chắn. Cô dùng bàn ủi con gà ủi phẳng phiu từng nếp vải, xếp gọn gàng cả bốn bộ đồ vào lại chiếc bọc nilông sạch sẽ.

Đúng bốn giờ rưỡi sáng, ngoài bờ kênh có tiếng bước chân lẹp xẹp quen thuộc. Chị Sáu Mận hớt hải chạy sang, vừa run rẩy gõ cửa vừa ngó nghiêng trời đất.

Lụa mở cửa, mệt mỏi trao bọc đồ phẳng phiu cho chị Sáu. Chị Sáu run run mở ra, lôi chiếc áo bà ba màu mỡ gà tròng thử ngay lên người. Chiếc áo vừa vặn đến kinh ngạc, nách áo ôm khít mềm mại, hai cánh tay giơ lên hạ xuống nhẹ tênh, vạt áo buông lượn che khéo vòng hông, không còn một gợn nhăn nhúm nào.

“Trời đất quỷ thần ơi Lụa!” Chị Sáu Mận ồ lên một tiếng sung sướng, nhìn mình trong chiếc gương viền gỗ cũ mà mắt sáng rỡ: “Đẹp quá mày ơi! Khác nào đồ may đo đâu chớ! Đúng là bàn tay vàng của cù lao này có khác!”

Chị vội vàng móc trong túi áo bà ba ra một bọc vải nhỏ, rút ra mấy tờ tiền lẻ nhàu nhĩ dúi chặt vào tay Lụa “Nè, tao gửi mày tám ngàn đồng tiền công. Tao biết thức thâu đêm thế này tám ngàn là rẻ rúng với mày lắm, nhưng trong túi tao chỉ còn chừng này dằn lưng đi đám cưới… Mày cầm giùm chị nghen, tao mang ơn mày cả đời này Lụa ơi!”

Nói đoạn, không đợi Lụa kịp thối lại hay từ chối, chị Sáu Mận ôm chặt bọc đồ đã sửa xong, tất tả quay gót chạy thục mạng ra bến đò cho kịp chuyến đò máy rước dâu đầu ngày.

Lụa đứng tựa cửa nhìn theo bóng lưng chị Sáu khuất dần trong làn sương sớm dày đặc của sông nước cù lao. Bàn tay cô cầm mấy tờ tiền lẻ còn vương hơi ấm mồ hôi, lòng trĩu nặng một nỗi mệt mỏi rã rời. Đôi mắt cô cay xè, mi mắt nặng trĩu vì một đêm thức trắng không chợp mắt lấy một phút.

Cô khép hờ cánh cửa liếp lại, bước đến chiếc bàn cắt gỗ mít, tựa đầu lên cánh tay mỏi nhừ, định bụng chỉ chợp mắt năm mười phút cho lại sức trước khi trời sáng rõ để chuẩn bị bữa sáng cho em trai.

Cơn buồn ngủ ập đến nặng nề như chì đổ, kéo cô chìm sâu vào giấc ngủ chập chờn…

Ánh mặt trời đầu tiên của buổi sớm mai từ từ nhô lên khỏi rặng dừa nước bên kia sông Cái, xua tan dần lớp sương mù bảng lảng trên mặt kênh Xanh. Những tia nắng vàng vọt, sắc lạnh của mùa gió chướng rọi qua những khe hở của vách nứa, rọi thẳng vào gương mặt xanh xao, hốc hác của Lụa.

Tiếng chim sâu lích chích ngoài bụi dâm bụt ven rào đánh thức Lụa dậy.

Cô giật mình choàng tỉnh, mở bừng mắt ra. Nhìn ánh nắng đã rọi xiên qua mặt bàn cắt, Lụa hoảng hốt nhận ra trời đã sáng rõ, chắc cũng đã quá sáu giờ sáng rồi.

“Chết rồi, trễ giờ nấu cơm cho thằng Thành!”

Lụa vội vàng đứng bật dậy, đầu óc hơi choáng váng vì thiếu ngủ. Cô vuốt lại mái tóc rối, nhanh chân bước về phía gian nhà sau “Thành ơi! Dậy đi em, trễ giờ đọc sách rồi nè…”

Tiếng gọi của Lụa rơi vào khoảng không tĩnh lặng đến lạnh người. Không có tiếng đáp lại quen thuộc.

Bức rèm vải hoa vén sang một bên. Trên chiếc giường tre ọp ẹp, chiếc chăn đơn bằng vải dù cũ kỹ đã được xếp vuông vức, ngay ngắn ở góc giường. Giường chiếu trống trơn, lạnh ngắt từ lâu.

Lụa ngơ ngác bước lại gần chiếc bàn học nhỏ bằng gỗ tạp kê cạnh cửa sổ trông ra vườn chuối.

Trên mặt bàn, tập sách vở ôn thi đại học dày cộp, những xấp tài liệu luyện thi Sư phạm quý như mạng sống mà Thành từng nâng niu từng trang một… vẫn nằm nguyên vẹn ở đó. Cây bút máy Trường Sơn cũ kỹ cài cẩn thận bên mép cuốn tập trắng tinh. Cạnh đó là bộ quần áo lành lặn nhất của Thành vẫn được treo ngay ngắn trên móc tre.

Lụa bàng hoàng quay ngoắt người nhìn xuống bậc cửa sau – nơi Thành luôn cẩn thận để đôi dép lốp xe mòn vẹt mỗi khi đi đâu về.

Bậc cửa trống trơn. Đôi dép lốp mòn vẹt của em trai đã biến mất. Chiếc nón lá rách vành treo ở vách nứa cũng không còn.

Một cảm giác hụt hẫng, sợ hãi tột cùng bỗng ập đến bóp nghẹt tim Lụa. Cả người cô run rẩy dữ dội, hai chân bủn rủn như muốn khuỵu xuống nền đất lạnh buốt giữa buổi sớm mai mù sương bên bờ kênh Xanh.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.