Chương 6: Che Chở Mái Hiên đêm Giông Bão

Ngọn gió chướng cuối năm cuộn lên từ vàm kênh Xanh, thổi bạt ngọn bấc trong chiếc đèn bão sắt tây làm quầng sáng vàng vọt chao đảo nghiêng ngả trên vạt cỏ ướt. Đứng dưới tán me cổ thụ rậm rạp sũng nước, Lụa nghe rõ mồn một tiếng th* d*c nặng nhọc và tiếng bước chân lẹp xẹp vì bùn non bám chặt lấy đế dép của Triết. Đôi mắt người kỹ sư sau tròng kính cận ầng ậc những xót xa, cay đắng của một người vừa trải qua cơn bão lòng dữ dội nơi đình làng.

Lụa khẽ nghiêng người che chắn cho ngọn đèn khỏi cơn gió thốc, bàn tay còn lại nhẹ nhàng đưa gói vải bọc trong tấm nilon đỏ về phía trước. Khi ngón tay Triết chạm vào lớp nilon, run rẩy đón lấy chiếc áo sơ mi được cô giặt sạch bùn đất và ủi phẳng phiu bằng chiếc bàn ủi con gà bỏ than đượm, Lụa nhận ra những đầu ngón tay của anh lạnh ngắt như ngâm trong nước đá.

“Cầm lấy đi anh, đứng trơ ngoài gió vầy trúng lạnh rồi ngã bệnh thì lấy ai coi sóc công trình,” Lụa cất giọng, thanh âm trầm ấm dịu dàng như làn nước mát xoa dịu đi những vết gai cào rát buốt trong lòng người trai trẻ.

Triết ôm chặt bọc áo vào ngực, chiếc quai cặp da kẹp chặt bên sườn, đôi môi anh mím lại như cố nuốt ngược sự uất nghẹn vào trong. Anh nhìn Lụa, giọng khản đặc “Cảm ơn cô Lụa… Đêm hôm gió máy thế này mà cô còn lặn lội ra đây đứng đợi. Tôi… thực tình lúc nãy ở đình làng, tôi thấy mình như một kẻ phá hoại, một người thừa thãi bị cả cái cù lao này xua đuổi. Người ta mắng tôi là thằng nhãi ranh sách vở, bảo tôi về thành phố đặng khỏi làm khổ dân nghèo…”

Lụa khẽ thở dài, bước chân dịch lại gần Triết thêm nửa bước để bóng mình che bớt đi những đợt gió độc đang tạt thẳng vào lồng ngực anh. Cô nhìn gương mặt chữ điền cương nghị nhưng đang tái nhợt vì mỏi mệt, trong lòng dấy lên một niềm trắc ẩn sâu xa.

“Anh Triết nè, anh đừng có giận bà con, mà cũng đừng nản lòng nghen,” Lụa nhẹ nhàng nói, mắt nhìn về phía những liếp vườn bưởi da xanh đang chìm trong bóng đêm mịt mùng phía bên kia bờ kênh. “Dân cù lao xứ tui tánh tình bộc trực dữ lắm. Ruột để ngoài da, có sao nói vậy, nghĩ sao mắng vậy chớ cái bụng dạ hổng có độc ác hay mang thù chuốc oán với ai bao giờ. Mấy chú bác ở đình làm dữ với anh là tại vì người ta sợ. Họ sợ mất chén cơm, manh áo, sợ mất đi cái nguồn sống mà cả mấy đời cha ông họ đã đổ mồ hôi nước mắt gầy dựng.”

Triết ngước lên nhìn cô, ánh mắt lay động “Nhưng tôi về đây là để giữ nguồn sống cho họ mà cô Lụa. Công trình cống đập này mở ra là để chặn mặn, giữ lại từng giọt nước ngọt cho những liếp vườn kia. Tôi tính toán kỹ lắm rồi, nếu không ngăn từ vàm Kênh Xanh, mùa khô năm tới mặn từ biển Đông ăn sâu vô, toàn bộ rễ bưởi non sẽ thối rữa hết…”

“Tui hiểu, tui tin cái bụng tốt của anh,” Lụa ngắt lời, giọng cô chân thành đến mức khiến bờ vai đang căng cứng của Triết dần chùng xuống. “Nhưng anh phải hiểu cho nỗi đau của bác Bảy Kiên và bà con. Mười mấy năm trước, hồi cái đận đắp đập thủy nông ngoài Cù Lao Dung, anh Hai Thuận – con trai duy nhất của bác Bảy – đã bị vách đất sạt lở đè chết ngay dưới lòng kênh. Bác gái khóc ròng rã mấy năm trời rồi cũng mù mắt mà qua đời theo con. Nỗi đau đó như vết chém sâu hoắm vào khúc ruột của bác Bảy, của cả cái làng này. Với người già ở đây, đắp đập ngăn sông hổng phải là khoa học, mà là tai ương, là chọc giận hà bá, là khơi lại cái chết oan khiên của con em họ. Muốn người ta tin, hổng thể ngày một ngày hai đem ba cái bản vẽ trên giấy tờ ra mà áp đặt được đâu anh. Phải để người ta thấy cái tâm của mình trước đã.”

Nhìn đôi mắt sau tròng kính cận của Triết khẽ chớp động, bờ vai đang gồng cứng dần buông lỏng và một hơi thở dài nặng trĩu thoát ra trong bóng đêm, Lụa biết những lời gan ruột của mình đã chạm tới nỗi niềm trăn trở bấy lâu của người kỹ sư trẻ. Anh đứng lặng đi hồi lâu giữa tiếng gió gào thét, dường như đang ngẫm nghĩ lại từng lời cô nói, gương mặt không còn nét bồng bột, cay cú của lúc mới bước ra khỏi cổng đình.

“Biết vậy thì đừng có buồn bã, ấm ức chi nữa,” Lụa mỉm cười, đôi mắt lá dong cong cong dưới ánh đèn bão trông hiền hậu lạ lùng. “Đường còn dài mà anh. Nước chảy đá còn mòn, huống chi lòng người cù lao mềm như đất phù sa. Anh mau về bên nhà sàn của chú Chín Sậy nghỉ ngơi đi. Tắm nước ấm rồi bận chiếc áo sơ mi này vô kẻo lạnh. Thành nó còn đang thức chờ tui bên tiệm, tui phải về đặng đóng cửa cài then.”

Nói đoạn, Lụa nhấc cao chiếc đèn bão soi đường, bước vội trên con đê trơn trượt men theo bờ kênh. Gió sau lưng thổi thốc tà áo bà ba tím lục bình, rặng chuối xiêm ven bờ xào xạc trong bóng tối lạnh lẽo. Lòng cô trĩu nặng âu lo nhưng cũng dấy lên một niềm mong mỏi thầm lặng, mong cho người kỹ sư trẻ kia có đủ nhẫn nại và tấm lòng bao dung để ở lại với mảnh đất cù lao nhiều thương tổn này.

Lụa trở về tiệm may Cúc Áo khi chiếc đồng hồ quả lắc treo tường bằng gỗ mun đã điểm ba tiếng chuông trầm đục, đêm đã chuyển sang canh ba.

Trong gian nhà ba gian bằng gỗ dầu cũ kỹ, ngọn đèn hột vịt đặt trên chiếc bàn học của Thành vẫn le lói tỏa sáng. Cậu thiếu niên mười tám tuổi gối đầu lên cuốn sách giáo khoa Văn lớp 12 dày cộm, ngủ thiếp đi từ lúc nào, trên trang vở học trò còn dang dở bài luận phân tích về tình yêu quê hương đất nước. Lụa bước khẽ khàng, khép cánh cửa gỗ dày lại rồi gài then ngang. Cô tiến đến bàn học, cẩn thận nhấc chiếc mền vải hoa đã sờn mép đắp lên lưng cho em trai, khẽ khàng gỡ cây bút máy Kim Tinh ra khỏi những ngón tay gầy guộc của Thành.

Nhìn gương mặt thanh tú giống hệt má của em trai, lòng Lụa lại thắt lại. Gánh nặng học phí lớp ôn thi trên thị xã và giấc mơ vào trường Sư phạm của Thành như một tảng đá đè nặng lên ngực cô suốt mấy ngày qua. Chiều nay, thím Ba Hưng đã hủy đơn may hai chiếc áo lụa, những khách quen trong xóm cứ thưa thớt dần vì chuộng đồ may sẵn bán ê hề ngoài chợ xã. Cô đưa mắt nhìn quanh gian tiệm may thân thương: hai chiếc máy may chân đạp hiệu Con Bướm đen nhánh phủ khăn vải bố, chiếc bàn cắt bằng gỗ mít bóng loáng vết mài kéo của ba, những chồng vải kate, vải hoa, lụa lãnh Mỹ A của khách gửi xếp ngay ngắn trên kệ tre. Đây là toàn bộ gia tài, là mồ hôi nước mắt và lời trăn trối của ba má để lại cho chị em cô.

Lụa thở dài, vặn nhỏ bấc ngọn đèn hột vịt rồi ngả lưng xuống chiếc chõng tre kê sát vách gian sau. Nhưng cô không sao chợp mắt được.

Gió chướng ngoài sông mỗi lúc một gầm rít dữ dội hơn. Tiếng gió luồn qua rặng dừa nước ven kênh nghe như tiếng rít của bầy thú dữ, quất phần phật vào những tấm phên nứa bao quanh nhà. Càng về khuya, không khí càng oi nồng một cách ngột ngạt bất thường – dấu hiệu quen thuộc của một cơn giông trái mùa hung hãn sắp sửa ập xuống cù lao.

Quả nhiên, chỉ độ hơn một tiếng đồng hồ sau, bầu trời phía vàm sông bỗng rách toạc bởi một tia chớp ngoằn ngoèo xé toang màn đêm đen đặc. Một tiếng sấm nổ vang trời chuyển đất dội xuống khiến cả gian nhà gỗ rung rinh bần bật.

Ngay sau đó, trận cuồng phong trút xuống như thác đổ.

Gió lốc xoáy tròn ngoài mép nước, giật tung từng tàu dừa nước quăng quật khắp triền đê. Mưa rào rào trút xuống mái ngói âm dương rêu phong, tạo nên những âm thanh chát chúa như ai ném hàng vạn viên sỏi lên nóc nhà. Nhưng điều kinh khủng nhất không phải là tiếng mưa rơi trên mái ngói, mà là tiếng răng rắc phát ra từ mái hiên lá dừa phía trước tiệm may.

Mái hiên này vốn được ba Lụa dựng thêm cách đây năm năm bằng tre tầm vông và lá dừa nước chắp đôi, nhằm che nắng che mưa cho khách bước lên từ bến đò và tạo khoảng râm mát cho hai chiếc bàn cắt vải. Qua mấy mùa mưa nắng, những nuộc lạt dừa buộc kèo đã mục ải, những cây đòn dông bằng tre cũng đã bắt đầu mối mọt.

“Rắc! Rầm!”

Một cơn gió thốc cực mạnh từ dưới lòng kênh quất ngược lên, thọc sâu vào khe hở của mái hiên. Trong nháy mắt, một mảng lá dừa nước rộng bằng cả chiếc chiếu đôi bị giật tung lên không trung, rách toạc ra làm đôi rồi bị gió cuốn phăng xuống dòng kênh chảy xiết.

Mất đi mảng che chắn cốt tử, mưa to gió lớn như tìm được cửa ngõ, xối xả tạt thẳng vào bên trong gian nhà trước!

Nước mưa theo gió quất rát mặt, cuốn theo bụi bặm và lá khô tạt ướt sũng chiếc bàn cắt gỗ mít. Đáng sợ hơn cả, dòng nước mưa xối xả bắt đầu bắn tung tóe vào kệ đựng vải vóc của khách và trút thẳng xuống hai chiếc máy may Butterfly – báu vật duy nhất để chị em Lụa mưu sinh!

“Chị Hai! Chị Hai ơi! Sập mái hiên rồi!”

Thành giật mình choàng tỉnh, hét lên thất thanh giữa tiếng sấm sét đùng đoàng. Cậu thiếu niên quýnh quáng lao ra gian trước, nhưng vừa bước chân tới mép cửa đã bị nước mưa tạt ướt sũng cả mặt mũi.

“Thành! Mau lấy mấy tấm bạt mủ với bao tải bố ra đây! Nhanh lên em, ướt hết vải lụa của người ta rồi!”

Lụa hoảng loạn lao ra, hai bàn tay cô run rẩy bấu chặt lấy thành kệ vải. Mấy súc lụa tơ tằm màu mỡ gà và vải gấm hoa mai của bà con gửi may ăn Tết đang bắt đầu bị nước mưa ngấm vào mép viền. Nếu đống vải này mà ố nước mưa, phai màu hay ẩm mốc, bán cả tiệm may đi cô cũng không đền nổi cho khách! Chưa kể chiếc máy may bằng sắt thép nguyên khối kia, nếu để nước mưa ngấm vào ổ chao, con thoi và hệ thống truyền động bánh răng, máy sẽ bị rỉ sét, bó kẹt, coi như đôi bàn tay của cô bị chặt đứt.

Thành hớt hải lôi từ gầm giường ra mấy chiếc bao tải gai và tấm nilon cũ rách góc. Hai chị em cuống cuồng giăng bạt lên che kệ vải. Nhưng cơn giông quá đỗi tàn bạo. Gió lốc từ lỗ hổng trên mái hiên thổi lồng lộng vào nhà như một chiếc phễu khổng lồ, gió giật tung những tấm nilon ra khỏi tay Lụa, hất nước mưa tạt thẳng vào mắt mũi khiến cô cay xè, không sao mở mắt ra được.

“Không được rồi chị Hai ơi! Gió mạnh quá, nước tạt dữ quá! Cây đòn tay mái hiên gãy đôi rồi, sắp sập cả mảng còn lại xuống bàn máy may rồi chị ơi!” Thành vừa gồng mình níu góc bạt vừa gào lên trong tuyệt vọng, nước mắt hòa lẫn nước mưa chảy ròng ròng trên mặt.

Lụa nhìn lên, qua ánh chớp sáng lòa, cô bàng hoàng thấy cây tre tầm vông làm đòn dông mái hiên đã nứt toác một đường dài, đang oằn mình r*n r* dưới sức nặng của mảng lá dừa ướt sũng nước mưa. Chỉ cần một cơn gió giật nữa thôi, toàn bộ khung tre và hàng trăm tàu lá dừa nặng trịch sẽ sụp đổ hoàn toàn, đè nát hai chiếc máy may bên dưới!

“Má ơi… ba ơi…” Lụa nghẹn ngào thốt lên trong sự bất lực cùng cực. Cô lao cả thân mình mảnh mai ra, lấy lưng mình che chắn lên thân chiếc máy may của má, hai cánh tay ghì chặt lấy thân máy lạnh ngắt, mặc cho từng đợt nước mưa lạnh buốt quất liên hồi vào da thịt. Sự nghèo khó, nỗi bất an và hiểm họa ập đến trong đêm tối khiến trái tim người con gái như muốn vỡ vụn.

Chính ngay trong khoảnh khắc tăm tối và tuyệt vọng nhất ấy, một tiếng thét vang rền, đầy uy lực bất thần xuyên qua màn mưa giông mịt mùng “CÔ LỤA! THÀNH ƠI! MỞ CỬA RỘNG RA!”

Một bóng người cao lớn lướt qua màn mưa trắng xóa, đạp tung cánh cổng rào tre xộc thẳng vào sân.Là Triết!

Anh chỉ mặc một chiếc quần đùi kaki xắn cao, m*nh tr*n ướt sũng nước mưa, cơ bắp cuồn cuộn gồng lên dưới sức nặng của ba cây tre tầm vông già dài ngoẵng đang vác trên vai. Một bên nách anh kẹp chặt cuộn dây thừng bện bằng xơ dừa to bằng ngón chân cái, tay kia cầm theo một chiếc rựa bén ngót.

“Anh Triết!” Lụa ngẩng đầu lên, tiếng gọi của cô vỡ òa giữa tiếng sấm gầm.

“Đừng sợ! Có tôi đây rồi!” Triết quẳng mạnh ba cây tầm vông xuống thềm gạch, tiếng va chạm vang lên chắc nịch át cả tiếng mưa gió. Anh lao vụt vào gian nhà trước, đôi mắt sau làn nước mưa quét nhanh một lượt khắp hiện trường hỗn loạn.

Thấy cây đòn dông mái hiên đang răng rắc chực gãy, Triết hét lớn “Thành! Phụ anh khiêng cái bàn cắt dạt vô trong! Mau lên!”

Thành như tìm được điểm tựa vững chãi giữa cơn hoảng loạn, lập tức lao vào cùng Triết. Đôi tay gân guốc rám nắng của người kỹ sư công trình ghì chặt lấy mép chiếc bàn gỗ mít nặng trịch – chiếc bàn mà bình thường phải ba người đàn ông lực lưỡng mới xê dịch nổi. Triết gầm lên một tiếng, gân cổ nổi rõ mồn một, dùng trọn sức mạnh của tấm lưng trần đẩy phăng chiếc bàn cắt lùi sâu vào gian giữa an toàn.

“Cô Lụa! Đừng đứng đó che máy nữa! Mau ôm hết đống vải lụa trên kệ bỏ vô rương gỗ gian sau, khóa chặt lại cho tôi! Chỗ này để tôi lo!” Triết vừa th* d*c vừa ra lệnh dứt khoát. Giọng nói đanh thép, bình tĩnh phi thường của anh như một liều thuốc trấn an kỳ diệu, lập tức xua tan cơn hoảng loạn đang bóp nghẹt tâm trí Lụa.

“Dạ! Dạ tui làm liền!” Lụa gạt nước mưa trên trán, lao ngay lại kệ vải. Đôi bàn tay thoăn thoắt của người thợ may thường ngày nâng niu từng mũi kim sợi chỉ giờ đây ôm trọn từng súc vải tơ tằm, vải gấm nặng trĩu vì hơi ẩm, thoăn thoắt chuyển cho Thành bê thốc vào gian buồng trong cất vào chiếc rương gỗ dầu kín mít.

Ở bên ngoài, tình thế đã ngàn cân treo sợi tóc. Mảng mái hiên lá dừa còn lại bắt đầu trĩu xuống, nước mưa đọng lại thành một bọc nước khổng lồ nặng hàng trăm ký đe dọa kéo sập toàn bộ khung nhà trước.

Không chần chừ một giây, Triết vớ lấy chiếc rựa, chém phạt hai nhát dứt khoát vào đầu một cây tầm vông già để tạo ngàm chữ V. Anh dựng ngược cây tre lên, dùng hết bình sinh tì vai vào thân tre trơn tuột, lấy đà đẩy bổng phần đòn dông bị gãy ngược trở lại vị trí cũ.

“Ư… rắc!”

Khung tre cọt kẹt kêu lên dữ dội. Sức nặng của mảng mái ướt sũng cùng lực gió giật như muốn nghiền nát bờ vai người kỹ sư trẻ. Bàn chân trần của Triết bấu chặt vào nền đất nhão nhoẹt ngoài hiên, gân xanh trên trán anh hằn lên cuồn cuộn. Nước mưa xối thẳng vào mặt, vào mắt, tạt rát buốt từng thớ thịt trần đang run lên vì lạnh nhưng anh vẫn đứng sững như một cây cột đồng trụ, không hề lùi bước dù chỉ nửa tấc.

“Thành! Đem thang lại đây! Giữ chân thang cho anh!” Triết hét lớn qua tiếng gió rít.

Thành nhanh như cắt vác chiếc thang tre cập sát mép hiên. Triết ngậm chặt đoạn dây thừng xơ dừa vào miệng, tay thoăn thoắt leo lên từng bậc thang rung bần bật trong gió lốc. Ở độ cao hơn ba mét sát mép đòn dông, gió giật dữ dội như muốn hất văng anh xuống bờ kênh. Nhưng đôi bàn tay quen đo đạc trắc địa, quen bám cọc tràm nơi đầu sóng ngọn gió của Triết vẫn chuẩn xác đến lạ kỳ.

Anh dùng rựa rọc thủng bọc nước mưa ứ đọng trên mái lá để giải phóng hàng trăm lít nước, khiến mái hiên nhẹ bẫng đi trong tích tắc. Tiếp đó, anh thoăn thoắt luồn sợi dây thừng xơ dừa qua đòn dông gãy và cây tầm vông trợ lực vừa chống lên, siết chặt từng nút thuyền chài – loại nút thắt chuyên dụng của dân công trình cầu cống có khả năng chịu lực ngàn cân.

Ở bên dưới chân thang, Lụa vừa chuyển xong súc vải cuối cùng liền lao vụt ra ngoài mé hiên. Từ dưới chân thang nhìn lên qua màn mưa xối xả, Lụa thót tim nhìn bóng Triết chênh vênh giữa gió lốc trên chiếc thang tre rung bần bật. Mái tóc anh ướt sũng dính bết vào trán, hai bàn tay bị dằm tre và mép lá dừa cứa vào tứa máu.

Cô không màng đến mưa gió đang quất xối xả vào người mình, lao đến ôm chặt lấy một bên chân thang, dùng cả trọng lượng cơ thể mình ghim chặt chiếc thang xuống nền gạch trơn tuột.

“Anh Triết! Cẩn thận nghen anh! Gió mạnh lắm đó!” Lụa gào lên, giọng cô run rẩy vì lo lắng tột cùng.

Nghe tiếng gọi của cô, Triết cúi xuống nhìn qua làn mưa trắng xóa. Đôi mắt người kỹ sư ánh lên vẻ kiên cường và bình thản lạ lùng như muốn bảo cô hãy yên tâm. Anh siết chặt nút dây thừng cuối cùng, dùng hết sức bình sinh ghì chặt nút khóa rồi lấy rựa chặt ngọt đoạn dây thừa.

Chưa dừng lại ở đó, Triết trèo xuống, tiếp tục vác hai cây tầm vông còn lại chéo thành hình chữ X, ghim sâu xuống nền đất hiên nhà rồi chằng dây néo chặt toàn bộ mảng mái hiên vào bốn cột gỗ dầu gian trước. Cả hệ thống khung nhà giờ đây liên kết lại thành một khối vững như bàn thạch, mặc cho gió chướng gầm rít quăng quật, mái hiên chỉ còn rung rinh nhè nhẹ, không còn một giọt nước mưa nào có thể lọt vào bên trong gian tiệm may nữa.

Khi chiếc đinh cuối cùng được đóng chặt vào then nẹp, cơn giông dữ dội dường như cũng kiệt sức, gió lốc bắt đầu giãn ra, nhường chỗ cho những đợt mưa rào êm ả rả rích rơi đều trên mái lá.

Triết buông chiếc búa gỗ xuống sàn, tựa lưng vào cây cột hiên th* d*c từng hồi ngắt quãng. Lồng ngực anh phập phồng dữ dội, toàn thân ướt sũng từ đầu đến chân, những giọt nước mưa lạnh buốt nhỏ tong tòng từ cằm xuống thềm đất. Đôi bàn tay anh đầy những vết xước rướm máu do dằm tầm vông đâm phải, các đầu ngón tay tái nhợt và run lên bần bật vì ngâm nước lạnh quá lâu.

Thành đứng bên cạnh, hai mắt đỏ hoe vì vừa sợ hãi vừa cảm phục, vội vã chạy ra sau bếp “Để em chạy xuống bếp quẹt lửa nấu nước nóng liền!”

Lụa nhìn quanh tiệm may. Toàn bộ súc vải quý giá của khách vẫn khô ráo nằm gọn trong rương; hai chiếc máy may Butterfly thân yêu được phủ bạt cẩn thận, không dính lấy một giọt nước mưa, hiên ngang đứng sừng sững giữa gian nhà. Tiệm may Cúc Áo – ký ức thiêng liêng của ba má cô, chén cơm manh áo của hai chị em cô – đã được cứu trọn vẹn qua một đêm thập tử nhất sinh.

Và người cứu lấy tất cả những điều quý giá ấy đang đứng ngay trước mặt cô, m*nh tr*n run rẩy trong cơn rét buốt cuối năm.

Lụa khẽ cắn môi, nước mắt cô bất giác ứa ra, lăn dài trên đôi gò má tái nhợt. Cô không nói một lời nào, vội vã bước theo Thành xuống gian bếp sau.

Dưới bếp, Thành đã nhanh nhẹn nhóm lửa vào chiếc bếp củi, những thanh củi đòn khô nổ lách tách bập bùng, xua đi cái buốt giá ẩm ướt của gian nhà lá. Cậu thiếu niên vội vàng tìm chiếc khăn rằn khô ráo má để lại trên vách tre, vắt sạch bụi rồi đưa cho chị: “Khăn khô nè chị Hai!”

“Ừ, để em trông chừng siêu nước sôi trên bếp nghen,” Lụa khẽ bảo em. Bàn tay thon dài của cô thoăn thoắt nhặt củ gừng già trong rổ tre, rửa nhanh rồi đặt lên thớt gỗ giã dập. Nước sôi sùng sục, cô múc nước ra chiếc bát sành da lươn, thả gừng giã nát vào cùng mấy miếng đường tán vàng óng. Vị cay nồng và hương thơm ấm sực của gừng quyện với vị ngọt của đường tán bốc lên ngào ngạt khắp gian bếp nhỏ.

Bảo Thành canh lửa đun thêm một ấm nước để lát nữa Triết lau người, Lụa gấp gọn chiếc khăn rằn lên cánh tay, hai bàn tay nâng niu chiếc bát sành còn bốc khói nghi ngút bước vội lên nhà trước.

Dưới mái hiên vừa được gia cố vững chãi, chỉ còn lại Triết đứng tựa cột hiên giữa tiếng mưa rả rích.

Lụa bước chầm chậm đến bên Triết. Cô khẽ khàng trải chiếc khăn rằn khô ráo lên đôi vai trần đang run lên từng chặp vì ngấm lạnh của anh, rồi hai tay nâng chiếc bát sành nóng hổi đưa về phía trước.

“Anh Triết… anh uống ngụm nước gừng cho ấm lại đi…”

Giọng Lụa nghẹn ngào, run rẩy trong hơi thở.

Triết ngẩng lên. Qua làn khói gừng cay nồng thơm ngát bốc lên nghi ngút, Lụa nhìn thấy ánh mắt người kỹ sư sau cặp kính cận ướt nước đang nhìn mình. Ánh mắt ấy không còn nét xa lạ, khách sáo của một người khách thị thành ghé qua tiệm may, mà chất chứa một niềm đồng cảm sâu sắc. Khi Triết đưa đôi bàn tay trầy xước, lạnh ngắt ra đón lấy chiếc bát sành, những ngón tay thô ráp của anh chạm khẽ vào những ngón tay thon mềm có vết chai mịn nơi ngón trỏ của Lụa.

Một luồng hơi ấm mãnh liệt bất ngờ truyền qua da thịt, len lỏi thẳng vào tận đáy tim của người con gái cù lao. Giữa không gian tĩnh lặng của đêm cù lao sau cơn giông bão, chỉ còn tiếng mưa rơi tí tách ngoài hiên lá và ánh mắt hai người lặng lẽ giao nhau trong quầng sáng vàng dịu dàng của ngọn đèn bão, ấm áp và chở che đến lạ kỳ.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.