Chương 5: Đêm đình Làng Dậy Sóng
Từng hồi chiêng đồng vẫn dồn dập dội vào không gian buổi trưa đứng gió, âm thanh khô khốc mà rền vang như sấm động, xé toạc sự tĩnh lặng muôn thuở của xóm cù lao, lan xa trên những rặng dừa nước trĩu trịt rồi chìm nghỉm xuống lòng Kênh Xanh cuộn đỏ phù sa.
Triết đứng sững nơi hàng hiên tiệm may Cúc Áo, lồng ngực phập phồng theo từng nhịp chiêng thúc giục. Nhìn gương mặt cắt không còn giọt máu của Lụa, đôi lông mày anh nhíu chặt lại sau tròng kính cận. Anh cố giữ cho giọng mình thật trầm tĩnh để trấn an người con gái trước mặt “Cô Lụa, cô bình tĩnh đã. Tôi về đây mang theo giấy giới thiệu của Ty Thủy lợi và Ủy ban huyện, lại có chú Ba Điền chủ tịch xã đứng ra bảo đảm. Công trình cống đập này là để cứu mùa màng, giữ nước ngọt cho hàng trăm hécta vườn bưởi, chớ đâu phải chuyện muốn xua đuổi là đuổi được ngay?”
Lụa lắc đầu quầy quậy, ngón tay thon nhỏ run rẩy chỉ về phía con đường đất đỏ xuyên qua rặng trâm bầu dẫn ra đình làng “Anh Triết ơi, anh là người xứ khác mới về, anh chưa hiểu hết cái nếp ở cái xứ cù lao này đâu! Chú Ba Điền có là chủ tịch xã thiệt, nhưng đối với chuyện mồ mả, đất đai hương hỏa của tổ tiên thì tiếng nói của hội đồng hương chức và các bậc bô lão còn nặng hơn chì. Ông Bảy Kiên là bậc trưởng thượng, xưa nay một lời ông nói ra là cả cồn răm rắp nghe theo. Một khi ông đã cho thỉnh tiếng chiêng đình giữa ban ngày ban mặt thế này, tức là sự tình đã tới mức dầu sôi lửa bỏng rồi. Anh… anh liệu mà lánh đi một chút, để chú Ba Điền lựa lời phân giải trước coi sao…”
“Không thể lánh được, cô Lụa.” Triết lắc đầu dứt khoát, ánh mắt sau tròng kính lóe lên nét cương nghị của một kỹ sư trẻ đã đem cả bầu nhiệt huyết gửi gắm vào mảnh đất này. “Nếu tôi trốn tránh lúc này, bà con sẽ càng tin rằng đám kỹ sư chúng tôi làm điều mờ ám, đem họa về cho cù lao. Dự án cống Kênh Xanh là tâm huyết mấy năm trời trên giảng đường và thực địa của tôi. Tôi phải đối mặt, phải nói cho bà con hiểu rõ cái lợi, cái hại.”
Nói đoạn, Triết toan quay bước đi ngay thì bàn tay nhỏ nhắn của Lụa khẽ níu lấy góc vạt áo anh. Cô nhìn chiếc áo sơ mi xám tro mà anh đang lúng túng kẹp dưới nách, giọng dặn dò vội vã nhưng đầy vẻ ân cần “Anh đang quýnh quáng vậy, đừng có cầm theo chiếc áo kẻo lỡ rớt đất bùn sình uổng công. Áo này hồi nãy anh lội bùn cừ tràm còn dính mấy vệt sét đen thui bên sườn, đường chỉ tui mới đột cũng chưa kịp ủi chết nếp. Anh cứ để lại đây trên bàn cắt, lát nữa tui giặt sạch sẽ rồi bỏ than vô bàn ủi con gà ủi thẳng thớm cho anh. Đi họp đình đông người, anh bận cái áo sơ mi cộc tay này là được rồi, nhớ cẩn thận lời ăn tiếng nói nghen anh!”
Triết nhìn chiếc áo kỷ vật nằm gọn gàng lại trên chiếc bàn gỗ mít của tiệm may, trong lòng dâng lên một luồng hơi ấm dịu nhẹ giữa cơn bối rối. Anh gật đầu thật mạnh “Tôi đội ơn cô Lụa. Nhờ cô giữ giùm tôi chiếc áo.”
Dứt lời, Triết quay người sải những bước chân dài, vội vã băng qua con đường đất gồ ghề quay về phía gian nhà sàn thuê tạm của ông Chín Sậy. Gió chướng bắt đầu thổi thốc từ mé kênh lên, mang theo hơi nước ngai ngái quyện mùi bùn non. Triết bước đi gấp gáp, tâm trí căng như dây đàn khi mường tượng ra những ghềnh thác nghiệt ngã đang đón đợi mình ở ngôi đình cổ đầu cồn.
Vừa bước chân lên sàn gỗ, Triết đã thấy Hoàng – cậu kỹ sư phụ tá cùng đoàn – đang cuống cuồng gom các ống đựng bản vẽ kỹ thuật, mặt mũi tái mét như gà cắt tiết “Anh Triết! Chú Ba Điền vừa cho người bơi xuồng ghé qua báo khẩn, bảo tối nay đình làng sẽ mở phiên họp khoán, dân làng kéo tới đông nghẹt. Nghe nói ông Bảy Kiên tuyên bố thẳng thừng là nếu xã không đình chỉ việc đo đạc cắm mốc, người trong cồn sẽ tự tay nhổ sạch cọc cừ tràm quăng xuống sông Cái!”
“Cứ để mặc họ nói. Mau chuẩn bị đèn pin, thước đo độ mặn và toàn bộ tập bản đồ trắc đạc Kênh Xanh đem theo cho tôi.” Triết dứt khoát ra lệnh, vừa nói vừa nhanh tay mở chiếc cặp da sờn mép, kiểm tra lại từng biểu đồ thủy triều và số liệu nông nghiệp mà anh đã dày công tổng hợp suốt mấy tháng qua. “Đêm nay, chúng ta phải làm cho bà con sáng tỏ.”
Hoàng hôn buông xuống cù lao Tân Bình nhanh như một cái chớp mắt. Màn đêm sập xuống nuốt chửng những rặng bần ven mép nước, chỉ còn lại tiếng gió rít qua kẽ lá dừa nghe u u như tiếng thở dài của đất trời.
Gian tiền đình của đình làng Tân Bình tối nay sáng rực nhưng lại ngột ngạt đến nghẹt thở. Ba chiếc đèn măngxông treo lơ lửng dưới xà gồ gỗ lim cổ kính, tỏa ra luồng ánh sáng trắng gắt gao rít lên sè sè từng hồi đều đặn. Khói thuốc rê Cẩm Lệ cuộn tròn từng lọn đặc quánh, bốc lên từ hàng chục chiếc tẩu thuốc bằng gốc tre và điếu bát, quyện với mùi dầu hôi nồng nặc và hương trầm thoang thoảng từ bàn thờ Thần hoàng, tạo nên một bầu không khí u uất, căng thẳng tột cùng.
Gần năm mươi con người tề tựu chật kín hai dãy phản gỗ dài. Đó là những chủ vườn bưởi da xanh lão luyện, những bậc cao niên râu tóc bạc phơ của dòng họ Nguyễn, họ Trần, họ Lê khai hoang lập ấp từ thuở cù lao còn là bãi lầy hoang vu. Ai nấy đều bận áo bà ba sẫm màu, gương mặt hằn sâu những nếp nhăn gió sương, đôi mắt đăm chiêu nhìn chằm chằm vào chén trà quắn đen nhánh đã nguội ngắt trên bàn.
Ngồi ở vị trí chủ tọa là ông Bảy Kiên. Tối nay, ông bận một chiếc áo bà ba màu xám tro bằng vải ú thô ráp, cổ quấn chiếc khăn rằn sọc xanh đen. Mái tóc ông bạc trắng như cước búi gọn sau gáy, chòm râu kẽm hoa râm rung rung theo từng nhịp thở nặng nhọc. Đôi mắt quắc thước sâu hoắm của ông dường như thu trọn cả sự phẫn nộ và cảnh giác của dải đất cù lao này tụ lại một điểm.
Khi Triết và Hoàng bước qua bậc bậu cửa đình bằng đá xanh, tiếng xì xào bàn tán bỗng chốc tắt lịm. Một sự im lặng nặng nề bao trùm lấy gian đình. Hàng chục ánh mắt sắc lạnh, dò xét dồn dập dán chặt lên người hai chàng trai trẻ mang phong thái thị thành. Triết cảm thấy từng thớ thịt trên người mình cứng lại dưới sức ép vô hình ấy, nhưng anh vẫn ngẩng cao đầu, siết chặt chiếc cặp tài liệu trong tay.
Chú Ba Điền ngồi ở góc bàn bên trái, chiếc áo sơ mi cộc tay đẫm mồ hôi lưng, vội vàng đứng dậy xua tay đỡ lời “Kìa, chú Triết với chú Hoàng đã tới rồi. Mời hai chú ngồi xuống đây. Báo cáo với bác Bảy cùng toàn thể các bác, các chú trong hội đồng hương chức, chú Triết đây là kỹ sư trưởng của dự án công trình thủy nông Kênh Xanh do tỉnh và huyện trực tiếp cử về. Đêm nay, chính quyền xã tổ chức cuộc họp này là để bà con mình cùng lắng nghe cán bộ chuyên môn trình bày cặn kẽ, tránh những lời đồn thổi thất thiệt làm xáo trộn tình làng nghĩa xóm…”
“Khỏi cần rào đón mất công, chú Ba Điền!”
Một giọng nói ồm ồm, đanh gọn vang lên cắt ngang lời vị chủ tịch xã. Người vừa lên tiếng là chú Năm Tắc, một chủ vườn bưởi có tiếng ở ấp Giữa. Chú quắc mắt nhìn Triết, tay gõ gõ chiếc tẩu tre xuống mặt phản nghe lóc cóc “Dân xứ này không rảnh rang mà nửa đêm nửa hôm tụ tập nghe mấy thứ chữ nghĩa viển vông. Mấy chú ở tỉnh về, vác mấy cái cây ba chân ngắm nghía lung tung ngoài vàm kinh, rồi đóng cọc cừ tràm bít lối đi lại của xuồng ghe cả tuần nay. Mấy chú tính đắp đập, chặn họng con Kênh Xanh thiệt hả?”
Triết hít một hơi thật sâu, nén lại sự căng thẳng đang chực trào nơi lồng ngực. Anh bước tới trước chiếc bàn gỗ mít đặt giữa gian đình, từ tốn mở bọc giấy xi măng, trải rộng tấm bản đồ địa hình cù lao Tân Bình và sơ đồ thiết kế cống ngăn mặn ra mặt bàn. Anh lấy bốn chiếc chén kiểu chặn lên bốn góc giấy, rồi ngước nhìn quanh một lượt, chắp tay cúi đầu “Kính thưa bác Bảy, thưa chú Ba và toàn thể các cô chú, các bác bô lão. Cháu hiểu sự lo lắng của bà con khi thấy người lạ về cắm mốc, đo đạc trên dòng kênh gắn bó máu thịt với xóm mình từ bao đời nay. Nhưng xin bà con hãy dành cho cháu mười phút để giải thích lý do vì sao công trình này bắt buộc phải thực hiện, và thực hiện ngay trước mùa khô năm tới.”
Triết cầm chiếc bút chì chỉ vào dải màu xanh uốn lượn tượng trưng cho Kênh Xanh “Thưa bà con, Kênh Xanh là trục thủy đạo xương sống, tiếp nhận nước trực tiếp từ nhánh sông Cái đổ vào để tưới tiêu cho hơn năm trăm mẫu vườn cây ăn trái và ruộng lúa của toàn xã. Xưa nay, bà con mình quen với quy luật mùa nước nổi mang phù sa, mùa cạn thì nước ròng nước lớn tự nhiên. Nhưng thời thế đã thay đổi rồi. Những năm gần đây, phía thượng nguồn sông Mê Kông lượng nước đổ về sụt giảm nghiêm trọng. Mùa khô năm ngoái, nồng độ mặn bốn phần ngàn đã luồn sâu vào vàm kênh tới hơn hai cây số, làm rụng bông, cháy lá bao nhiêu liếp cam liếp bưởi non của ấp Ngoài. Theo dự báo thủy văn của tỉnh, đợt gió chướng cuối năm nay kết hợp với đợt hạn cực đoan năm 1993 tới đây sẽ đẩy mặn vào sâu chưa từng thấy. Nếu chúng ta không xây dựng một cống đập kiên cố để ngăn mặn và trữ ngọt ngay tại cửa vàm, chỉ cần một con nước mặn tràn vào trong ba ngày, toàn bộ rễ của những gốc bưởi da xanh mười mấy năm tuổi trên cù lao này sẽ bị cháy khô, thối rữa hoàn toàn!”
Giọng Triết vang lên dõng dạc, mạch lạc, từng con số về độ mặn, lưu lượng dòng chảy và cao trình đáy kênh được anh trình bày một cách rành rẽ, đầy tính khoa học. Anh say sưa giải thích về nguyên lý hoạt động của cửa van clape tự động đóng mở theo con nước, về lợi ích của việc giữ lại hàng triệu mét khối nước ngọt phù sa dự trữ trong lòng kênh cho những tháng nắng hạn gay gắt.
Thế nhưng, đáp lại bài thuyết trình tâm huyết của chàng kỹ sư trẻ không phải là những cái gật đầu đồng thuận, mà là những cái nhíu mày khó chịu và những cái lắc đầu lạnh lùng. Đối với những lão nông cả đời chân lấm tay bùn, những khái niệm như “nồng độ bốn phần ngàn”, “cao trình âm hai mét”, hay “chu kỳ bán nhật triều” nghe xa lạ và trừu tượng chẳng khác nào tiếng nước ngoài. Họ nhìn Triết như nhìn một đứa trẻ con đang đem mấy món đồ chơi kỳ quặc ra dọa dẫm người lớn.
Bỗng nhiên, một tiếng “Rầm!” kinh thiên động địa vang lên.
Cả gian đình giật nảy mình. Những chiếc chén kiểu trên bàn nảy lên tanh tách, nước trà bắn tung tóe làm ướt sũng một góc tấm bản đồ kỹ thuật của Triết.
Ông Bảy Kiên đã đập mạnh bàn tay hộ pháp gân guốc xuống mặt bàn gỗ mít. Ông đứng phắt dậy, vóc dáng quắc thước sừng sững như một cây cổ thụ sừng sững trước giông bão. Chòm râu kẽm của ông rung lên bần bật, đôi mắt rực lửa trừng trừng nhìn thẳng vào mặt Triết “Nói bậy! Toàn là thứ chữ nghĩa học trò vẽ trên giấy để gạt người!”
Tiếng ông Bảy rền vang như sấm sét xé toạc không gian ngột ngạt của gian đình “Chú mày vắt mũi chưa sạch! Chú mới học được mấy mớ chữ trong trường ốc thành phố, nứt mắt ra được bao lâu mà dám về đây dạy khôn dân cù lao này về con nước? Chú biết dòng Kênh Xanh này có từ hồi nào hôn? Từ thời ông sơ, ông cố của tao vác xà beng, cầm mái dầm bạt lau sậy, đào từng tấc đất để thông dòng rước nước trời về! Con kênh này là mạch máu, là long mạch nuôi sống bao nhiêu thế hệ người Tân Bình. Nước chảy xuôi dòng thì phù sa mới vào bồi đắp, tôm cá trên sông Cái mới theo con nước lớn mà lội vô mương, vô rạch cho dân làng cất vó, đặt lợp kiếm miếng ăn. Bây giờ mấy chú tính đem mấy khối bê tông cốt thép, đem đất đá tới bít họng nó lại, là mấy chú muốn bóp nghẹt đường sống của đất trời, bức tử xứ này!”
Triết tái mặt nhưng vẫn cố nén xúc động, anh cúi đầu cung kính phân trần:“Dạ thưa bác Bảy, cháu hiểu lòng bác thương con kênh, thương tôm cá. Nhưng khoa học kỹ thuật hiện đại không hề bóp nghẹt tự nhiên ạ. Cống này có cửa van điều tiết, mùa lũ vẫn mở toang để đón nước ngọt và phù sa, chỉ đóng lại khi phát hiện nước mặn xâm nhập…”
“Đóng mở cái con khỉ mốc!” Ông Bảy Kiên gạt phắt đi, cánh tay gầy guộc chém mạnh vào không khí. “Mấy chú ngồi bàn giấy máy lạnh, bấm nút trên giấy thì hay lắm! Chú có biết đất bãi bồi cù lao này nó yếu cỡ nào hôn? Đất phù sa pha cát, ở trên mặt thì xốp dẻo nhưng ở dưới là túi bùn trôi. Mấy chú đem xáng cạp, máy nổ về nạo vét, chất đất đắp đập cho nặng, con nước xoáy nó khoét rỗng chân móng thì sạt lở cả bờ kênh! Hồi thập niên bảy mươi, cũng có đoàn cán bộ kéo về Cù Lao Dung hô hào đắp đập ngăn sông làm thủy lợi… Rồi sao? Một đêm mưa lũ, đất lở ụp xuống chôn vùi…”
Giọng ông Bảy nghẹn lại giữa chừng. Bàn tay ông run rẩy siết chặt lấy mép khăn rằn, đốt ngón tay trắng bệch. Nỗi đau chôn giấu suốt hai mươi năm về cái chết thảm khốc của người con trai cả – anh Hai Thuận – như một vết thương chưa bao giờ lành miệng lại bị cào xé tơi bời. Đôi mắt già nua của ông đỏ ngầu, ánh lên một nỗi căm phẫn lẫn đớn đau tột cùng “Tóm lại một câu, tao còn sống ngày nào trên cồn này, thì một tấc đất Kênh Xanh cũng không ai được đụng tới! Ngăn sông cấm chợ, xuồng ba lá chở bưởi, chở lúa của dân làng làm sao ra sông Cái mà đi chợ nổi? Muốn dân xứ này chết đói hả?”
Lời nói đanh thép đầy uy lực của ông Bảy Kiên như châm ngòi cho một thùng thuốc súng đã nén chặt bấy lâu. Lập tức, cả gian đình nhao nhao dậy sóng.
“Bác Bảy nói chí phải! Không đắp đập gì hết!”
“Đúng đó! Cù lao bao đời nay ông bà sống khỏe re, cần chi mấy cái cống của mấy ông kỹ sư!”
Mấy thanh niên lực lưỡng đứng phía sau – những tay chèo xuồng thiện chiến của cồn – bắt đầu hùa theo kích động. Một gã thanh niên tên Sáu Rạng, mặt đỏ gay vì men rượu đế, bước xộc tới chỉ thẳng tay vào mặt Triết “Nè anh kỹ sư kiếng cận! Tụi tui nói cho anh biết nghen, ngày mai mà còn thấy mấy cây cọc cây tiêu của mấy anh cắm lố nhố ngoài mé kênh, tụi tui kéo xuồng ra nhổ sạch quăng trôi sông ráng chịu đó! Đừng có đem mấy cái lệnh trên huyện về đây mà dọa dân cù lao này!”
“Phải đó! Nhổ hết đi! Đuổi họ về chợ đi!”
Tiếng la hét, tiếng đập bàn, tiếng chân giẫm huỳnh huỵch trên sàn gỗ biến gian đình trang nghiêm thành một bãi chiến trường hỗn loạn. Chú Ba Điền bất lực gõ cán bút lên bàn, gào khản cả giọng “Bà con trật tự! Trật tự nghe tôi nói! Đây là chủ trương lớn của Nhà nước…”
Nhưng tiếng gào của vị chủ tịch xã hoàn toàn bị nhấn chìm trong làn sóng phẫn nộ tập thể. Những lý lẽ khoa học sắc bén, những biểu đồ thủy văn tỉ mỉ mà Triết chuẩn bị suốt bao đêm trắng bỗng chốc trở nên hoàn toàn vô nghĩa, bất lực và trơ trọi trước bức tường định kiến kiên cố nghìn đời của kinh nghiệm dân gian và nỗi sợ hãi mất mát mơ hồ.
Triết đứng chết trân giữa vòng vây của những ánh mắt thù địch. Tim anh nhói buốt, một cảm giác cay đắng và bất lực dâng ngập cuống họng. Anh nhìn ông Bảy Kiên – người lão nông quắc thước đang th* d*c vì cơn giận dữ, nhìn những người nông dân lam lũ mà anh tha thiết muốn chở che cứu giúp khỏi thảm họa hạn mặn – tất cả họ đang nhìn anh như một kẻ thù mang tai ương đến gieo rắc lên mảnh đất này.
Ông Bảy Kiên không thèm liếc nhìn Triết thêm một lần nào nữa. Ông dứt khoát quay lưng, chống chiếc gậy tre gõ cồm cộp xuống nền gạch, bước từng bước nặng nề ra khỏi cửa đình. Đoàn bô lão và đám thanh niên lục tục kéo theo sau ông, miệng không ngớt buông những lời xỉ vả, tẩy chay cay nghiệt.
Chỉ trong chốc lát, gian tiền đình rộng lớn trở nên hoang tàn, trống trải. Ba chiếc đèn măngxông vẫn rít lên sè sè, hắt những vệt sáng lạnh lẽo lên mặt bàn bừa bãi tàn thuốc lá, những vũng nước trà đổ loang lổ và tấm bản đồ công trình đã bị xé rách một góc.
Hoàng ngồi thụp xuống ghế, hai tay ôm lấy đầu, giọng nghẹn ngào vì uất ức “Anh Triết ơi… Dân làng họ vô lý quá chừng! Họ không thèm nghe một câu giải thích nào hết… Hay là… hay là mai mình làm báo cáo xin huyện rút công trình về đi anh? Ở đây vừa cực vừa mang tiếng làm hại dân, ai mà chịu nổi!”
Triết chầm chậm bước tới bên bàn. Anh không nói một lời, lặng lẽ cúi người dùng hai bàn tay run rẩy gạt từng mẩu tàn thuốc rơi vãi trên mặt giấy, rồi cẩn thận vuốt phẳng lại góc bản đồ bị rách. Bàn tay anh chạm vào vết mực vẽ dòng Kênh Xanh – nơi anh đã gửi gắm toàn bộ ước mơ, lý tưởng của tuổi hai mươi bảy.
“Không rút được đâu Hoàng.” Triết ngẩng lên, giọng anh khản đặc nhưng ánh mắt sau cặp kính cận vẫn kiên định đến lạ kỳ. “Họ chửi mắng chúng ta vì họ sợ mất mát, vì họ chưa hiểu. Nếu chúng ta bỏ cuộc mà đi, năm tới mặn tràn về làm chết sạch vườn tược, người chịu khổ cuối cùng vẫn là bà con cù lao này thôi. Rút là hèn nhát.”
Triết cẩn thận cuộn tấm bản đồ lại, nhét vào chiếc cặp da cũ. Anh vỗ vai Hoàng, bảo cậu về lán trại nghỉ trước, còn mình thì bước chầm chậm ra khỏi đình làng.
Đêm cù lao đen như mực.
Trời không một ánh sao, chỉ có những dải mây xám xịt nặng trĩu bị gió chướng xua đuổi cuồn cuộn trôi trên tầng không. Gió từ ngoài sông Cái thốc ngược vào bờ kênh, mang theo cái lạnh buốt xương và mùi tanh nồng của bùn non đáy nước. Con đường đất độc đạo từ đình làng men theo bờ kênh trơn như đổ mỡ sau trận mưa rào hồi chiều, đất dẻo quánh bám chặt lấy đôi dép rọ nhựa của Triết, như muốn níu từng bước chân mỏi mệt của anh lại.
Triết lầm lũi bước đi trong bóng tối mịt mùng. Chưa bao giờ anh cảm thấy cô đơn và lạc lõng đến thế. Cái tôi kiêu hãnh của một thủ khoa đại học, một kỹ sư trẻ đầy nhiệt huyết từng nghĩ rằng chỉ cần tri thức và tấm lòng trong sạch là có thể dời non lấp bể, giờ đây vỡ vụn tan tành trước hiện thực nghiệt ngã của cuộc sống. Anh thấy mình như một kẻ ngoại lai trơ trọi, bị mảnh đất này khước từ, bị chính những con người anh muốn cống hiến quay lưng xua đuổi.
Những câu nói chát chúa của ông Bảy Kiên, tiếng hò hét đòi nhổ cọc của đám thanh niên cứ văng vẳng bên tai như những nhát búa nện vào tâm can anh. Một nỗi cay đắng xộc lên sống mũi khiến mắt anh cay xè. Bước chân anh nặng trịch, mỗi bước đi trên bùn lầy như dẫm phải gai nhọn của sự bất lực.
Đang thất thểu bước đi giữa tiếng gió rít từng hồi qua rặng chuối ven đường, Triết bỗng khựng lại.
Phía trước, cách anh chừng hai mươi mét, ngay dưới gốc cây me cổ thụ mọc nghiêng mình bên khúc quanh mép kênh, một đốm sáng vàng ấm áp bất ngờ lay động giữa màn đêm đen đặc.
Đó là ánh sáng tỏa ra từ một chiếc đèn bão bằng sắt tây đã ngả màu đồng thau. Ánh đèn dầu le lói, dịu dàng soi rõ một vùng cỏ ướt và đôi guốc mộc thanh mảnh đang đứng im lìm trên nền đất nhão.
Người đứng đó là Lụa.
Cô bận chiếc áo bà ba màu tím lục bình quen thuộc, chiếc khăn rằn quàng vội qua cổ để che đi những cơn gió chướng lạnh căm đang thổi phần phật vào tà áo mỏng. Đôi bàn tay thon dài của cô một tay nâng niu chiếc đèn bão che chở trước ngọn gió, tay kia ôm chặt một bọc vải được gói cẩn thận trong tấm nilon màu đỏ. Gương mặt cô thanh tú, đượm nét âu lo, đôi mắt sáng long lanh ánh lên niềm xót xa khi nhìn thấy bóng dáng liêu xiêu, ướt đẫm mồ hôi và bùn đất của Triết đang bước tới.
“Cô Lụa…” Triết thốt lên, giọng anh run rẩy giữa tiếng gió gầm rít. “Sao… sao đêm hôm khuya khoắt thế này cô lại đứng ở đây? Ngoài này gió chướng độc lắm…”
Lụa không trả lời ngay. Cô bước chầm chậm lại gần anh, giơ cao ngọn đèn bão soi rọi khuôn mặt phong trần đang tái nhợt vì mệt mỏi và tổn thương của người kỹ sư trẻ. Nhìn thấy vệt mực trên tay anh và vạt áo sơ mi lấm tấm tàn thuốc lá, đôi mắt Lụa khẽ chớp, một làn nước mỏng manh dâng lên nơi khóe mi.
Cô cất tiếng, giọng nói dịu dàng, ấm áp như dòng nước ngọt lành len lỏi xoa dịu đi vết thương đang rỉ máu trong lòng anh “Tui đứng đây đợi anh từ hồi tan cuộc họp ở đình… Tui biết… tui biết thể nào bác Bảy với bà con cũng làm khó anh mà.”
Lụa đưa bọc đồ trên tay sang cho Triết “Chiếc áo sơ mi của anh hồi trưa nè. Tui giặt sạch chỗ dính bùn cọc tràm, rồi lấy bàn ủi con gà bỏ than ủi thẳng thớm cho anh rồi đó. Anh cầm lấy đi, kẻo mai đi công trình lại hổng có áo đàng hoàng mà bận.”
Triết nhìn bọc áo trên tay Lụa, rồi nhìn ngọn đèn bão đang tỏa ra luồng hơi ấm nồng đượm giữa đêm đen mịt mùng. Bất giác, cổ họng anh nghẹn ứ, bao nhiêu tủi hờn, cô độc và buốt giá của đêm đình làng bỗng chốc tan biến như làn khói mỏng. Giữa dải cù lao đang dậy sóng nghi kỵ và bài xích này, hóa ra vẫn còn một ngọn đèn kiên nhẫn đứng đợi anh, vẫn còn một tấm lòng bao dung, thấu hiểu dõi theo từng bước chân anh đi.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
