Chương 4: Đường Kim Vá áo Phong Sương
Triết đứng chết trân bên bậu cửa gỗ dầu lên nước bóng loáng, hai tai nóng bừng như có ai vừa áp vào đó hai cục than đượm. Cả người anh cứng đờ, một tay vẫn gắt gao ôm chặt lấy chiếc chân máy kinh vĩ ba chạc nặng trịch tỳ vào mép đùi, trong khi bàn tay kia trơ trọi giữa không trung với chiếc quai cặp da đã đứt gãy khóa tự bao giờ. Dưới chân anh, hàng chục tờ giấy can khổ lớn in đầy những nét mực nho xanh đỏ, những bảng biểu cao trình địa chất chi chít con số khô khan cứ dập dờn theo ngọn gió chướng, là là đáp xuống khắp mặt sàn gạch tàu đỏ au. Vài tờ mỏng hơn còn cuộn tròn lại, bay tít vào góc bàn cắt vải, phủ kín quanh đôi guốc mộc thanh mảnh của cô thợ may.
“Tôi… tôi vụng về quá! Thiệt tình xin lỗi cô… gió sông lớn quá chừng!”
Triết cuống cuồng buông lời phân trần, giọng anh run rẩy, ngượng nghịu đến mức nghe như tiếng trẻ con vừa phạm lỗi. Không kịp nghĩ ngợi nhiều, anh vội vã dựng nghiêng chân máy kinh vĩ vào chiếc cột hiên bằng gỗ đước già, rồi hấp tấp quỳ sụp xuống nền gạch tàu, hai tay xòe ra toan vơ vét lại đống bản vẽ đang bị gió cuốn mỗi nơi một nẻo. Nhưng càng cuống, bàn tay thô ráp quen cầm búa gõ cọc và nắn thước đo của anh lại càng lúng túng. Những góc giấy can mỏng manh cứ trượt khỏi kẽ tay, cọ vào nền gạch phát ra những tiếng sột soạt gấp gáp.
Bỗng nhiên, một làn hương thơm dịu nhẹ thoảng qua chóp mũi anh. Đó không phải mùi nước hoa thị thành nồng nặc mà là mùi thơm ngai ngái của thớ vải mộc mới khui kiện, quyện lẫn mùi hoa bưởi gội đầu thanh khiết và hơi ấm của sáp ong nướng.
Một đôi bàn tay thon dài, trắng trẻo với những ngón tay mềm mại nhẹ nhàng đáp xuống trước tầm mắt anh, khẽ khàng chặn lấy mép tờ bản đồ trắc dọc lòng kênh ngay khi nó vừa chực bay ngược ra ngoài bến nước.
Triết khựng lại, ngước mắt lên.
Cô thợ may đã rời khỏi chiếc ghế đẩu cạnh bàn máy tự lúc nào. Vạt áo bà ba màu lam dịu mát khẽ bay lay động trong gió, cô quỳ một chân trên sàn gạch mát rượi, chiếc kẹp đồi mồi nghiêng nghiêng để lộ bờ gáy thon thả và mấy lọn tóc tơ đen nhánh lòa xòa bên mang tai. Đôi mắt lá răm trong veo của cô nhìn anh, thoáng một nét thảng thốt ban đầu rồi nhanh chóng dịu lại thành một ánh nhìn bao dung, đôn hậu. Khóe môi cô khẽ cong lên một nụ cười kín đáo, như muốn xoa dịu đi nỗi bẽ bàng tột cùng của người thanh niên lạ mặt.
“Anh đừng có cuống. Giấy vẽ công phu vầy, mình vội là nó rách mép uổng lắm nghen.”
Giọng nói của cô cất lên, mềm mại và ngọt ngào như nước dừa xiêm đầu mùa, rót vào tai Triết làm dịu hẳn cơn bối rối đang bốc hỏa trong lòng anh.
Bàn tay cô khéo léo đến lạ kỳ. Từng ngón tay thon thả lướt nhẹ trên mặt giấy, gỡ từng nếp gấp bị gió thổi quăn queo, vuốt phẳng từng góc mép rồi xếp chồng từng tờ ngay ngắn lên nhau. Không có một động tác nào thừa thãi, cũng không có vẻ gì là sợ bụi đất cù lao làm lấm tấm đôi bàn tay ngọc ngà. Nhặt đến tờ bản vẽ tổng thể công trình cống Kênh Xanh, ánh mắt cô dừng lại vài giây nơi dòng chữ in hoa nắn nót bằng mực tàu: “Dự án công trình thủy lợi ngăn mặn trữ ngọt tiểu vùng Kênh Xanh – Cù lao Tân Bình”. Đôi chân mày thanh tú của cô khẽ nhíu lại một thoáng ưu tư, nhưng rồi cô không hỏi gì, chỉ im lặng xếp nó vào dưới cùng của xấp giấy đã gom gọn.
“Của anh nè.” Cô đứng dậy, hai tay nâng xấp bản vẽ dày cộm trao lại cho anh. “May mà giấy tốt, chỉ lấm chút bụi đất ngoài thềm thôi, phủi nhẹ là sạch bách à.”
Triết vội vàng đứng bật dậy, hai tay đỡ lấy tập bản vẽ. Đầu ngón tay anh vô tình chạm nhẹ vào những ngón tay mềm ấm của cô thợ may, một cảm giác tê rần kỳ lạ bất chợt truyền dọc sống lưng khiến tim anh đánh thót một nhịp. Anh bối rối cụp mắt nhìn xuống xấp giấy phẳng phiu, thấy nơi ngón tay trỏ của cô có một vết chai mỏng mịn – dấu tích của những năm tháng miệt mài cầm kéo và tựa thân kim khâu.
“Cảm… cảm ơn cô nhiều lắm. Tôi là Triết, kỹ sư bên đoàn khảo sát thủy lợi tỉnh mới tăng cường về xã.” Triết ấp úng giới thiệu, đưa tay đẩy gọng kính cận đồi mồi lên sống mũi để giấu đi sự lúng túng. “Hồi nãy… tôi đi ngang qua, thấy tiệm may đẹp quá nên sơ ý nhìn trộm, rồi lại trợt chân làm ồn đến cô. Thật là thất lễ quá chừng.”
Cô gái nghe vậy thì bật cười khẽ, tiếng cười giòn tan như tiếng chuông gió bằng vỏ ốc treo ngoài chái bếp.
“Dạ, có gì đâu mà thất lễ dữ vậy anh. Người ta đi ngang dòm vô là chuyện thường, tiệm may mở cửa đón khách mà. Tui tên Lụa, Nguyễn Thị Lụa. Cả cái xóm Kênh Xanh này ai cũng kêu là con Lụa tiệm may Cúc Áo hết trơn á.” Cô đưa tay chỉ vào đống cúc áo đủ màu sắc lấp lánh trong chiếc giỏ mây đặt trên bàn. “Anh Triết đi tìm nhà trọ hả? Hồi trưa này tui có nghe mấy thím đi chợ đồn râm ran là có đoàn cán bộ tỉnh về làm việc ở ủy ban xã.”
“Dạ phải, chú Ba Điền chủ tịch xã bảo hai anh em tôi tự đi kiếm gian nhà nào của bà con quanh đây thuê tạm để tiện việc ra bến kênh đo đạc mỗi ngày. Mà ngặt nỗi… chúng tôi đi từ trưa tới giờ, hỏi thăm mấy nhà thì ai cũng nhìn chúng tôi e dè rồi lắc đầu từ chối hết.” Triết thở dài, nét mặt phong sương thoáng vẻ ủ rũ khi nghĩ đến sự lạnh nhạt của dân làng cù lao suốt mấy tiếng đồng hồ qua.
Lụa nghe anh nói, ánh mắt cô thoáng chùng xuống đầy thấu hiểu. Là người lớn lên bên từng con nước lớn ròng của cù lao, cô hiểu rõ hơn ai hết cái bụng dạ của người dân quê mình. Họ không ác ý, nhưng vết thương mất mát từ những công trình đắp đập phá bờ bao trong quá khứ, cùng với nỗi sợ hãi mơ hồ về việc mất đi nguồn phù sa màu mỡ nuôi vườn cây trái đã biến họ thành những con ốc bươu tự thu mình vào vỏ cứng trước người lạ.
“Dân ở đây bụng dạ ngay thẳng lắm, nhưng tánh hay nghi ngại người xứ khác, anh đừng có để bụng nghen.” Lụa bước ra mé hàng hiên, đưa ngón tay trỏ thon dài chỉ xuôi theo con đường đất đỏ rợp bóng dừa nước. “Anh ngó qua đằng kia kìa, cách tiệm may của tui chừng bốn căn nhà, có cái nhà sàn bằng gỗ đước lợp lá dừa nước của ông Chín Sậy bỏ trống hổm rày. Con cái ổng đón ổng lên chợ huyện mở vựa trái cây rồi, để nhà trống nhờ bà con lối xóm trông coi giùm. Nhà đó cột kèo còn chắc lắm, sàn lót ván gõ mát rượi, lại có cái sàn nước trông thẳng ra vàm Kênh Xanh, tiện cho mấy anh đi lại đo đạc. Để lát nữa tui qua nói với chú Năm hàng xóm đưa chìa khóa cho mấy anh vô dọn dẹp ở tạm.”
Nghe những lời chỉ dẫn rành rẽ và ấm áp ấy, Triết như người đi trong đêm tối bỗng tìm thấy ngọn đèn dầu le lói. Anh mừng rỡ cúi đầu cảm ơn rối rít “Được vậy thì quý hóa quá cô Lụa ơi! Thiệt lòng không biết lấy gì đền đáp ơn này của cô.”
“Trời đất ơi, lối xóm tối lửa tắt đèn có nhau, có miếng chuyện nhỏ xíu đó mà ơn nghĩa gì anh Triết.” Lụa mỉm cười xua tay, nét mặt dịu dàng như vạt nắng chiều còn sót lại trên dòng kênh. “Thôi anh mau qua ngó căn nhà đi, để trời sập tối rồi không kịp dọn dẹp đâu.”
Căn nhà sàn của ông Chín Sậy nép mình dưới rặng dừa nước rậm rạp, mái lá dừa đã ngả sang màu xám tro của thời gian. Khi Triết cùng Hoàng – cậu kỹ sư trắc địa trẻ măng, mặt búng ra sữa, vừa lếch thếch vác ba lô đồ nghề tìm đến nơi – đẩy cánh cửa gỗ kêu lên một tiếng “ken két” khô khốc, một mùi ẩm mốc của bụi bặm và lá dừa mục xộc thẳng vào mũi.
“Chu choa mạ ơi! Anh Triết ơi là anh Triết, mình về đây làm kỹ sư khai phá hay về làm thợ quét mạng nhện vậy anh?” Hoàng buông phịch chiếc ba lô nặng trịch xuống mép phản, đưa tay quạt quạt trước mũi, kêu trời như bọng.
“Kêu ca cái gì chú mày. Có được chỗ che mưa che nắng, sát mép nước để đặt máy đo thế này là may mắn lắm rồi đó.” Triết vừa nói vừa xắn cao tay áo sơ mi, tháo đôi dép rọ nhựa dính bùn để ngay ngắn bên ngạch cửa. “Lại đây phụ một tay xách nước rửa sàn đi. Nước kênh đang lớn, tranh thủ múc nước lắng phèn rồi cọ sạch bụi, tối nay còn có chỗ mà trải chiếu ngả lưng.”
Thế là trong suốt hai tiếng đồng hồ sau đó, gian nhà sàn bỏ hoang bỗng rộn rã hẳn lên. Cù lao Tân Bình thời điểm năm 1992 chưa có điện lưới quốc gia, đường dây tải điện mới chỉ kéo về đến trung tâm thị xã bên kia sông Cái. Triết phải thắp sáng gian phòng bằng hai chiếc đèn bão chạy bằng dầu hỏa mượn tạm của chú Năm hàng xóm. Dưới ánh sáng vàng vọt, lay lắt của ngọn bấc đèn, hai người thanh niên hì hục dội từng xô nước kênh mát rượi lên sàn gỗ, dùng chổi rễ quét sạch từng lớp bụi đất và mạng nhện giăng kín trên rui mè.
Triết kê lại chiếc bàn gỗ tạp cũ kỹ đặt sát bên khung cửa sổ nhìn ra sông, cẩn thận trải những tấm bản vẽ kỹ thuật phẳng phiu lên mặt bàn, dùng mấy hòn đá cuội nhặt ngoài bờ kênh chặn bốn góc. Hoàng thì loay hoay hun một đống vỏ dừa khô trước hiên nhà, làn khói cay nồng thoang thoảng mùi tinh dầu dừa bốc lên nghi ngút, xua bớt đàn muỗi mắt vo ve từ rặng dừa nước bay vào.
Đêm đầu tiên ở cù lao trôi qua trong tiếng gió chướng rít từng hồi qua kẽ lá, tiếng mái dầm của chiếc xuồng ai đi giăng lưới muộn khua nước “bập bõm” ngoài xa xăm. Nằm trên chiếc chiếu cói phảng phất mùi ẩm mốc, lắng nghe tiếng côn trùng rả rích dưới gầm sàn và tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân cột, Triết trằn trọc mãi không sao chợp mắt được. Cứ mỗi lần nhắm mắt lại, bóng hình người con gái bận chiếc áo bà ba màu lam với nụ cười đôn hậu và đôi bàn tay khéo léo gom từng tờ bản vẽ lại hiện lên rõ mồn một trong tâm trí anh. Giữa mảnh đất xa lạ đầy ắp những ánh nhìn nghi ngại này, sự dịu dàng của Lụa như một dòng nước ngọt mát lành xoa dịu đi những âu lo, trĩu nặng trong lòng người kỹ sư trẻ.
Mờ sáng hôm sau, khi con nước ròng vừa rút sát đáy, để lộ ra những bãi bồi phù sa nhão nhoét ở vàm Kênh Xanh, Triết và Hoàng đã lục đục vác máy móc ra hiện trường.
Vàm Kênh Xanh là nơi giao thoa giữa dòng kênh nội đồng và con sông Cái cuồn cuộn sóng gió. Vị trí này có địa chất vô cùng phức tạp: bên trên là lớp bùn sét nhão sâu hoắm, bên dưới là tầng cát pha và túi nước ngầm rải rác. Theo đồ án thiết kế của Triết, cống ngăn mặn phải được đặt ngay tại nút thắt hiểm trở này để vừa ngăn chặn triệt để dòng nước mặn xâm nhập từ biển Đông vào mùa khô, vừa giữ lại toàn bộ nguồn nước ngọt và phù sa cho hàng trăm hécta vườn bưởi da xanh và ruộng lúa của bà con cù lao.
“Anh Triết! Cẩn thận sụp hố bùn nghen anh!” Hoàng đứng trên bờ đê, một tay vịn chân máy thủy bình, tay kia làm loa che miệng gọi lớn.
Dưới lòng kênh trơ đáy, Triết đã cởi phăng đôi dép rọ, quần kaki xắn cao quá đầu gối, hai chân lún sâu trong lớp bùn non ngập đến tận bắp vế. Mùi bùn phù sa nồng nặc quyện với mùi cỏ mục và xác ốc bươu xộc lên cay xè. Mồ hôi túa ra như tắm, ướt đẫm lưng chiếc áo sơ mi công tác sẫm màu mà anh đang mặc. Đây là chiếc áo sơ mi bằng vải thô pha sợi dày dặn, màu xám tro nền nã mà má anh – bà Hai Nhị – đã cẩn thận chọn mua ở tiệm may lớn nhất chợ Cần Thơ rồi đích thân là ủi từng nếp gấp trước ngày anh khăn gói về vùng sâu công tác. Má dặn dò anh phải giữ gìn chiếc áo cho tề chỉnh, dù đi công trình gió bụi cũng không được ăn bận nhếch nhác làm mất đi phong thái của người trí thức.
Triết cắn chặt môi, một tay ôm chiếc cọc tiêu bằng gỗ tràm vót nhọn, một tay cầm chiếc búa tạ nặng trịch, khó nhọc nhích từng bước chân trong lớp bùn dính chặt như keo. Anh phải đóng cọc mốc định vị chính xác cao trình đáy kênh trước khi con nước lớn từ sông Cái tràn vào nhấn chìm tất cả.
“Được rồi đó Hoàng! Ngắm lại góc phương vị giùm anh xem chuẩn chưa?” Triết hét lớn ngược chiều gió chướng.
“Lệch qua phải năm phân nữa anh ơi! Nhích qua mé cái cọc cừ tràm mục đằng kia kìa!”
Triết gật đầu, rướn người nhoài qua một vạt bờ sạt lở ven mép nước. Nhưng lớp bùn non dưới chân bất ngờ sụp xuống một mảng lớn. Đất lở cuốn theo bàn chân trụ của Triết, khiến cả người anh chao đảo mất thăng bằng. Trong khoảnh khắc ngã nghiêng người về phía trước, bả vai phải của anh va quẹt cực mạnh vào một khúc cọc cừ tràm sắc nhọn nằm chơ vơ dưới mép nước từ thời người ta đắp đập ngăn dòng mười mấy năm trước.
“Roạt…!”
Một tiếng vải xé toạc khô khốc vang lên giữa tiếng gió rít.
Triết ngã sụp xuống bùn, may mắn hai tay anh vẫn kịp ôm chặt lấy chiếc cọc mốc kỹ thuật không để nó rơi xuống nước. Anh thở hổn hển gượng dậy, bùn non dính đầy hai bên hông và bết chặt vào ống quần. Đưa tay sờ lên bả vai, Triết bàng hoàng nhận ra vạt áo sơ mi dày dặn của mình đã bị đầu cọc tràm xé toạc một mảng lớn hình chữ L, kéo dài từ xương quai xanh vòng qua tận mép nách sau lưng. Từng thớ vải xơ xác tưa ra như xơ mướp, để lộ mảng da rám nắng lấm lem bùn sình.
“Chết rồi… chiếc áo của má…” Triết thảng thốt lẩm bẩm, lòng xót xa khôn xiết.
Buổi trưa hôm đó, khi hai anh em lếch thếch kéo nhau về trạm dã chiến bên bờ kênh, Triết vội vã chạy ra sàn nước múc từng gáo nước mưa vò sạch bùn đất trên chiếc áo rách. Dù vết bùn phù sa đã được tẩy sạch bằng bánh xà bông Cô Ba thơm lừng, nhưng vết rách toạc ngoác thì vẫn trơ trơ ra đó, mép vải co rúm lại trông vô cùng thảm hại.
Hoàng vừa bưng tô cơm nguội chan canh chua bông điên điển vừa nhìn Triết loay hoay với cái áo rách, cậu nhai nhồm nhoàm rồi phì cười trêu chọc “Em lạy anh luôn đó anh Triết! Anh ngó lại anh coi, áo rách te tua vầy mà chiều nay định bận đi đâu? Chú Ba Điền dặn chiều nay có buổi gặp gỡ với mấy bác trong ban hội tề đình làng để bàn về việc mượn đất cắm cọc tiêu đó. Anh mà bận cái áo bang chủ cái bang này đi thì người ta tưởng kỹ sư tỉnh phái về đi xin ăn chứ làm ăn nỗi gì!”
Triết thở dài thườn thượt, ngồi thụp xuống bậu cửa “Anh mang theo có hai chiếc áo sơ mi lành lặn đem đổi thôi. Một chiếc giặt hôm qua chưa kịp khô vì gió chướng mang theo hơi ẩm nhiều quá, còn chiếc này thì ra nông nỗi này đây. Giờ kiếm đâu ra kim chỉ mà vá víu bây giờ?”
Hoàng buông chiếc đũa cái “cạch”, mắt sáng rực lên như vừa bắt được vàng:“Trời đất ơi, ông kỹ sư công trình mà đầu óc chậm tiêu ghê chưa! Tiệm may Cúc Áo của chị Lụa cách đây có mấy bước chân, người ta là thợ may đo nức tiếng cù lao mà anh lại ngồi đây than thở thiếu kim chỉ! Mang sang đó nhờ người ta vá giùm cho, vừa có áo đẹp bận đi họp, vừa có cớ… sang chào hỏi người đẹp!”
Hoàng vừa nói vừa nháy mắt lia lịa làm Triết đỏ bừng cả mặt.
“Mày đừng có nói bậy bạ, người ta là con gái đàng hoàng, xóm giềng ngó vô lại dị nghị.” Triết gắt nhẹ, nhưng bàn tay anh đã bất giác nâng chiếc áo sơ mi còn hơi ẩm lên. Nhìn vết rách nham nhở, anh biết sức mình có dùng kim chỉ vá chằng vá đụp thì cũng chỉ biến chiếc áo của má thành một cái giẻ lau không hơn không kém. Nghĩ đến buổi họp quan trọng chiều nay, Triết cắn môi, quyết định gạt bỏ sự ngượng ngùng bước sang đường.
Buổi trưa ở cù lao Tân Bình yên ả đến lạ kỳ. Nắng vàng như rót mật xuống những tán lá dừa xanh mướt, tiếng chim bìm bịp kêu nước lớn rền rĩ từ mé sông vọng lại.
Triết ngập ngừng đứng trước hàng hiên tiệm may Cúc Áo. Chiếc biển hiệu bằng gỗ mít đã phai màu sơn đung đưa nhè nhẹ trong gió. Qua khung cửa sổ, anh thấy Lụa đang cặm cụi bên bàn cắt, chiếc thước gỗ dài và viên phấn may màu xanh lướt thoăn thoắt trên súc vải lụa tơ tằm. Mái tóc đen nhánh của cô hôm nay được búi lơi gà gô bằng chiếc trâm gỗ bần, để lộ gương mặt thanh tú với những giọt mồ hôi li ti lấm tấm nơi sống mũi cao thanh thoát.
Triết hít một hơi thật sâu, đưa tay gõ nhẹ lên cánh cửa gỗ “Cô… cô Lụa ơi.”
Lụa giật mình ngẩng lên. Thấy Triết đứng nép bên bậu cửa với vẻ mặt lúng túng, hai tay giấu chiếc áo sau lưng như đứa trẻ làm vỡ bình hoa sợ bị đòn, cô khẽ mỉm cười, đặt chiếc kéo cắt vải xuống mặt bàn gỗ mít “Ủa, anh Triết! Trưa trờ trưa trật vầy không nghỉ ngơi đi, anh qua tìm tui có chuyện chi hông?”
Triết bước vào trong tiệm, bước chân anh rụt rè như sợ làm kinh động đến sự tĩnh lặng, thanh bình của gian nhà nhỏ. Anh ngập ngừng chìa chiếc áo sơ mi xám tro ra trước mặt cô, giọng lí nhí “Tôi… tôi thiệt tình ngại quá, nhưng chẳng biết nhờ ai ngoài cô. Hồi sáng lội bùn đóng cọc ngoài vàm kênh, tôi sơ ý bị cọc cừ tràm quẹt rách mất bả vai áo. Chiếc áo này là má tôi mua cho trước ngày đi xa… Chiều nay tôi lại phải lên đình làng gặp các bác bô lão trong xóm. Tôi muốn nhờ cô… làm ơn vá giùm tôi một đường chỉ, đắp tạm mảnh vải vụn nào cũng được, miễn sao cho nó lành lặn để chiều nay tôi có cái áo tề chỉnh mà bận đi họp…”
Lụa nhìn chiếc áo sẫm màu bị rách toác một mảng lớn hình chữ L, rồi lại nhìn đôi mắt đầy vẻ áy náy và thành khẩn của người kỹ sư trẻ. Cô không hề tỏ ra khó chịu, cũng không một lời chê bai thớ vải thô ráp dính chút vệt bùn chưa kịp tan hết. Trái lại, ánh mắt cô ánh lên một niềm xúc động chân thành. Cô đưa hai tay đón lấy chiếc áo, cẩn thận trải rộng ra mặt bàn cắt gỗ mít “Anh đừng lo, vải này là vải thô dệt sợi đôi chắc lắm, chỉ bị xé theo thớ chứ không bị mủn. Để tui coi… rách ngay đường nách lượn vòng qua bả vai vầy, nếu đắp miếng vải khác màu lên mạng thì trông thô lắm, người ngoài ngó vô thấy ngay miếng vá chằng vá đụp, mất hết cả dáng áo công tác của anh.”
“Dạ… vậy có khó lắm không cô?” Triết lo lắng hỏi, ngón tay bất giác siết chặt gấu quần kaki.
“Khó với người ta chứ với dân nhà nòi nghề may như tui thì nhằm nhò gì!” Lụa cười tươi, nụ cười rạng rỡ làm sáng bừng cả gian nhà ba gian rêu phong. “Anh ngồi xuống chiếc ghế đẩu đằng kia uống miếng nước trà quách mát cho hạ hỏa đi. Đợi tui một lát, tui làm liền cho.”
Nói đoạn, Lụa kéo chiếc giỏ mây đựng đồ nghề lại gần. Đôi bàn tay thoăn thoắt của cô lướt qua hàng chục ống chỉ màu xếp ngay ngắn trên kệ tre. Cô không chọn những ống chỉ thông thường mà tỉ mỉ rút ra một con suốt chỉ bằng gỗ đã cũ, trên đó quấn một loại chỉ sợi bông màu xám tro pha chút ánh lam – một sắc màu đồng điệu đến kinh ngạc với thớ vải của chiếc áo sơ mi.
Lụa ngồi xuống chiếc máy may Con Bướm, nhưng cô không đạp máy. Cô bảo với Triết “Vết rách lượn góc chữ L này mà đưa vô máy may đạp đường chỉ nổi thì vải sẽ bị đùn, nhăn nhúm lại liền. Phải đột chỉ chìm bằng tay, nương theo từng thớ sợi canh ngang canh dọc của vải thì mới giấu được mối nối.”
Triết ngồi trên chiếc ghế đẩu gỗ, hai tay ôm ly nước trà quách thơm lừng vị thuốc Nam mà lòng ngập tràn sự thán phục. Dưới ánh sáng dìu dịu của buổi trưa cù lao, anh chăm chú ngắm nhìn từng cử chỉ của người thợ may trẻ.
Lụa luồn sợi chỉ đôi qua lỗ kim nhỏ tí xíu chỉ bằng một động tác dứt khoát và nhẹ nhàng như không. Cô dùng kéo bấm tỉa tót lại những sợi vải tưa nham nhở nơi mép rách, rồi dùng một miếng sáp ong khô miết nhẹ lên đầu sợi chỉ cho trơn láng. Đôi bàn tay cô thoăn thoắt đưa mũi kim lên xuống. Từng mũi kim đâm xuyên qua thớ vải thô một cách chuẩn xác, mũi sau đè lên một phần ba mũi trước, đều tăm tắp như những hạt nếp cái hoa vàng được rải trên nong.
Cô khéo léo gom hai mép rách khít rịt lại với nhau, giấu toàn bộ những nút thắt chỉ vào mặt trong của lớp lót cầu vai. Không những thế, để chiếc áo không bị lệch dáng, Lụa còn dùng thước gỗ đo đạc tỉ mỉ, rồi dùng chỉ đột thêm một đường diễu giả vai đôi cân đối ở cả hai bên bả vai áo. Từng cử chỉ của cô đều toát lên một sự nhẫn nại, nâng niu và trân trọng đối với món đồ của khách như thể đó là kỷ vật thiêng liêng của chính bản thân mình.
Tiếng kim khâu luồn qua thớ vải sột soạt nhịp nhàng giữa không gian tĩnh mịch. Thỉnh thoảng, Lụa lại đưa ngón tay trỏ có vết chai miết mạnh lên đường chỉ mới khâu, đôi môi chúm chím khẽ thổi đi những vụn chỉ thừa. Ánh nắng nghiêng nghiêng qua chấn song cửa sổ rọi lên mái tóc đen dày của cô một vầng hào quang ấm áp. Triết nhìn đến ngẩn ngơ, trái tim người kỹ sư vốn chỉ quen với những bản tính bê tông cốt thép khô khốc bỗng chốc rung lên những thanh âm êm đềm, xao xuyến lạ thường. Anh nhận ra đằng sau vẻ ngoài mảnh mai, dịu dàng kia là một tâm hồn vô cùng kiên định, một tình yêu nghề tha thiết và một tấm lòng thơm thảo của người con gái cù lao chân chất.
Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ sau, Lụa cắn đứt mối chỉ cuối cùng một cái “phựt”. Cô đứng dậy, cầm chiếc bàn ủi con gà bằng đồng chứa đầy than củi đượm, phủ một lớp vải mỏng lên trên rồi là phẳng phiu vết khâu.
“Xong rồi nè anh Triết! Anh coi thử coi vừa bụng hông?” Lụa giũ nhẹ chiếc áo, mỉm cười trao lại cho anh.
Triết đón lấy chiếc áo, mắt anh mở to vì kinh ngạc.
Nơi vết rách toang hoác hình chữ L khi nãy dường như đã biến mất hoàn toàn không để lại một dấu vết! Thay vào đó, hai bên cầu vai áo của anh giờ đây xuất hiện hai đường diễu gân nổi vô cùng khỏe khoắn, sắc sảo và cân đối đến từng milimét. Vết rách đã được giấu kín hoàn hảo bên dưới đường gân áo trang trí ấy, khiến chiếc áo sơ mi cũ của anh trông không hề giống một chiếc áo chắp vá, mà ngược lại, nó mang một vẻ phong trần, đĩnh đạc và cứng cáp đúng phong thái của một kỹ sư công trình thực thụ!
“Trời đất ơi… cô Lụa ơi, cô khéo tay quá chừng!” Triết thốt lên, giọng run run vì xúc động. Anh lật qua lật lại mặt trong mặt ngoài của chiếc áo, ngón tay run rẩy sờ lên đường chỉ chìm phẳng lì không một gợn cộm. “Tôi… tôi thiệt tình không ngờ cô lại sửa khéo đến mức này. Chiếc áo này bận vô người ta còn tưởng áo mới may kiểu cách tân từ thành phố về nữa đó!”
Lụa nghe khen thì đôi má ửng hồng, cô khẽ nghiêng đầu, đôi mắt lấp lánh niềm vui dung dị của người thợ vừa hoàn thành một tác phẩm ưng ý “Anh quá khen rồi. Tại chất vải của má anh mua tốt sẵn đó chứ. Áo này bận đi công trình cọc tràm, gió bão gì cũng hổng sợ rách nữa đâu nghen.”
Triết vội vàng thò tay vào túi chiếc quần kaki sẫm màu, rút ra chiếc bóp da cũ kỹ. Anh cẩn thận rút ra một tờ tiền giấy năm ngàn đồng còn mới nguyên – số tiền công khá lớn so với giá một lần vá áo ở miệt quê lúc bấy giờ – hai tay trân trọng đưa về phía Lụa “Cô Lụa, đây là tiền công vá áo. Tôi xin gửi cô… cảm ơn cô đã cứu nguy cho tôi một bàn thua trông thấy.”
Thế nhưng, nụ cười trên môi Lụa bỗng ngưng lại. Ánh mắt cô thoáng nét nghiêm nghị, cô kiên quyết lùi lại nửa bước, hai tay xua xua lia lịa “Ủa anh Triết làm cái gì kỳ cục vậy? Anh mau cất tiền vô túi giùm tui đi!”
“Sao vậy cô Lụa? Công sức cô ngồi tỉ mẩn nãy giờ, đường kim mũi chỉ tinh xảo thế này, tôi trả tiền công là lẽ đương nhiên mà…” Triết ngơ ngác phân trần.
“Tiệm may Cúc Áo này mở ra để may đo kiếm sống nuôi em thiệt, nhưng mấy mũi kim đường chỉ này là tui phụng sự cho người cán bộ trẻ có lòng lội bùn về cù lao giúp quê hương tui.” Lụa nhìn thẳng vào mắt anh, giọng nói chân chất mà cương nghị lạ thường. “Người cù lao Tân Bình nghèo thiệt, nhưng cái nghĩa cái tình thì nặng lắm. Anh về đây chịu cực chịu khổ, lội sình lội nước vì con kênh của xứ này, mà tui lại đi ngửa tay lấy mấy đồng bạc vá áo của anh thì tui coi sao đặng? Người làng ngó vô, người ta cười cho thối mũi là con Lụa bủn xỉn, thấy người phương xa tới là chém chặt đó!”
Triết sững sờ nhìn người con gái trước mặt. Tờ tiền trên tay anh bỗng chốc trở nên ngượng ngùng, thừa thãi trước tấm lòng thơm thảo, hào sảng và đầy lòng tự trọng của cô thợ may nghèo. Anh thấy cay cay nơi khóe mắt, một sự kính trọng và cảm mến sâu sắc dâng trào trong lồng ngực. Anh chầm chậm thu tay lại, gật đầu thật mạnh “Tôi hiểu rồi… Tôi xin nhận tấm lòng này của cô Lụa. Ơn này, Triết này xin ghi tạc trong dạ.”
Lụa mỉm cười trở lại, đôi má lúm đồng tiền lại hiện lên duyên dáng. Cô vừa định cất lời dặn dò anh thêm vài câu về cách giặt giữ đường chỉ thì…
“Coong…! Coong…! Coong…!”
Một tràng âm thanh chói gắt, dồn dập và đanh thép bất thần gióng lên từ phía đầu cồn, xé toạc không gian thanh bình của buổi trưa cù lao. Đó là tiếng chiêng đồng cổ của đình làng Tân Bình – thứ âm thanh vốn chỉ vang lên vào những dịp tế lễ trọng đại đầu năm, hoặc khi làng có biến cố kinh thiên động địa, có giặc giã hay đê vỡ cần tập hợp toàn bộ đinh tráng khẩn cấp.
Nụ cười trên môi Lụa vụt tắt ngấm trong tích tắc. Sắc mặt cô bỗng chốc trắng bệch, ánh mắt lộ rõ vẻ thảng thốt và âu lo tột cùng. Cô vội vã chạy vụt ra trước hàng hiên, phóng tầm mắt về phía con đường làng rợp bóng dừa.
Từ đằng xa, tiếng bước chân huỳnh huỵch, tiếng người í ới gọi nhau râm ran khắp các liếp vườn. Triết siết chặt chiếc áo sơ mi vừa được vá lành trong tay, bước nhanh ra đứng cạnh cô, tim anh đập thình thịch một linh cảm chẳng lành.
“Có chuyện gì vậy cô Lụa? Tiếng chiêng gì mà nghe gấp gáp dữ vậy?” Triết trầm giọng hỏi, trán anh nhíu lại sau cặp kính cận.
Lụa quay sang nhìn anh, ánh mắt cô run rẩy, giọng nói nghẹn lại nơi cổ họng “Tiếng chiêng tập họp của đình làng đó anh Triết ơi… Ông Bảy Kiên… ông Bảy Kiên đã triệu tập toàn bộ các bô lão và chủ vườn trong cồn về đình họp khẩn cấp rồi… Nghe người ta đồn, các cụ muốn đuổi đoàn công trình của mấy anh đi ngay trong chiều nay, tuyệt đối không cho đắp cống chặn dòng Kênh Xanh!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
