Chương 3: Người Mang Bản Vẽ Về Cù Lao

Chiếc xuồng máy đuôi tôm nổ bành bạch xé toạc mặt nước sông Tiền, rẽ ra hai vệt sóng trắng xóa ngầu đục phù sa. Gió chướng cuối năm lồng lộng thổi từ cửa biển vào, mang theo vị ngai ngái nồng nàn của bùn bãi và hơi thở ẩm ướt của những vạt dừa nước bạt ngàn.

Trần Minh Triết đứng tựa mình nơi mũi xuồng, hai bàn tay rám nắng ôm chặt lấy chiếc cặp da bò đã sờn rách bốn góc trước ngực. Chiếc sơ mi sẫm màu đẫm mồ hôi dán chặt vào lưng anh, bụi đường và hơi nước bám thành một lớp màng mỏng trên mắt kính cận gọng đồi mồi. Triết đưa ngón tay trỏ đẩy nhẹ gọng kính lên sống mũi, phóng tầm mắt về phía dải đất xanh thẫm đang dần hiện rõ sau màn sương sớm.

Đó là Cù lao Tân Bình.

Mảnh đất nổi giữa dòng sông Cái hiện lên với vẻ trù phú, màu mỡ đến nao lòng. Những liếp vườn bưởi da xanh trĩu quả, vườn sầu riêng, chôm chôm nối tiếp nhau chạy dài ngút mắt dưới bóng dừa rợp mát. Thế nhưng, khi chiếc xuồng máy lướt chậm lại gần bờ, đôi mày rậm của Triết khẽ nhíu lại. Đằng sau cái vẻ xanh tươi mướt mắt kia là những vết thương loang lổ của tự nhiên: từng mảng bờ đất bị dòng nước xoáy khoét sâu thành hàm ếch lở lói, rễ dừa nước trơ trọi chực chờ đổ ụp xuống sông; mặt đất nứt nẻ xám xịt phèn mặn ở những vàm rạch cạn trơ đáy khi con nước ròng rút đi.

Trong chiếc cặp da Triết đang ghì chặt là đồ án tốt nghiệp xuất sắc của anh tại trường Đại học Cần Thơ, nay đã được Ty Thủy lợi tỉnh phê duyệt thành dự án thí điểm: Công trình cống đập ngăn mặn trữ ngọt Kênh Xanh. Để được đặt chân lên chuyến xuồng này, Triết đã phải kiên quyết từ chối suất học bổng tu nghiệp tại Hà Lan mà bao bạn bè cùng khóa thèm muốn, đồng thời gạt đi lời can ngăn đầy nước mắt của má anh – bà Hai Nhị, một người phụ nữ thị thành cả đời chỉ mong con trai an phận bên bàn giấy máy lạnh nơi trung tâm tỉnh lỵ.

“Triết nè, tới vàm Kênh Xanh rồi đó em!”

Tiếng gọi khàn khàn của kỹ sư Hoàng kéo Triết ra khỏi dòng suy tưởng. Hoàng – người đàn anh hơn Triết sáu tuổi, dáng người thấp đậm, mặt vuông chữ điền dãi dầu sương gió – đang ngồi lom khom ở khoang giữa, hai tay giữ chặt chiếc thùng gỗ đựng máy kinh vĩ và mấy cây cọc tiêu sơn hai màu trắng đỏ. Hoàng nhổ bãi tàn thuốc rê qua mạn xuồng, nheo mắt nhìn dải cù lao rồi tặc lưỡi “Đất này màu mỡ thiệt, nhưng ngặt nỗi tánh nết con nước ở đây dữ dằn lắm. Mùa lũ thì phù sa ngập lút đầu gối, mùa khô thì mặn chát từ biển Đông luồn sâu vô cả chục cây số. Mấy ổng trên Ty giao cho hai anh em mình cái vàm này, khác nào quăng vô miệng cọp. Liệu cái đầu hàn lâm của chú em có chịu nổi đòn của mấy ông già cù lao không đó?”

Triết khẽ mỉm cười, ánh mắt kiên định nhìn thẳng về phía trước “Khó mới cần tới dân công trình tụi mình chớ anh Hoàng. Em coi số liệu đo đạc ba năm nay rồi, nếu không chặn mặn ngay mùa khô năm 1992 này, chỉ cần một đợt gió chướng mạnh đẩy nước mặn vô sâu, toàn bộ mấy trăm hécta bưởi đặc sản của cù lao coi như cháy lá, rụng bông hết.”

Chiếc xuồng máy giảm ga, từ từ áp mạn vào cây cầu tàu bằng gỗ mù u ọt ẹt của bến đò xã Tân Bình. Tiếng máy nổ lịm dần rồi tắt hẳn, trả lại cho không gian tiếng xào xạc của rặng dừa nước và tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền.

Triết xốc lại chiếc ba lô con cóc trên vai, một tay xách cặp da, tay kia phụ Hoàng khiêng chiếc kiềng ba chân bằng kim loại sáng loáng bước lên bờ. Đôi dép rọ nhựa của anh vừa chạm vào lớp đất sét trơn trượt của bến đò, Triết đã lập tức cảm nhận được sự chuyển biến kỳ lạ của bầu không khí xung quanh.

Bến sông trưa vốn đang ồn ã tiếng ngã giá của mấy bà má gánh hàng rong, tiếng cười đùa của cánh đàn ông vác lúa mướn bỗng dưng chùng hẳn xuống. Mọi ánh mắt đồng loạt đổ dồn về phía hai người thanh niên lạ mặt.

Đó là những ánh mắt dò xét, lạ lẫm và đầy vẻ dè chừng. Một bà cụ ngồi bên mẹt bánh chuối nướng ngừng tay quạt, mắt nheo lại nhìn chằm chằm vào chiếc máy đo đạc kềnh càng trên vai Hoàng. Cách đó vài bước chân, mấy người đàn ông vạm vỡ c** tr*n, da đen bóng vì dầm mưa dãi nắng, đang ngồi chồm hổm hút thuốc rê trên sàn gỗ bến đò. Họ liếc nhìn bộ quần áo kaki chỉnh tề và cặp kính cận của Triết, rồi quay sang nhau xì xào to nhỏ “Mấy ông cán bộ ở tỉnh lại mò về nữa kìa.” “Nghe đâu bên Ty Thủy lợi tính đắp cống chặn mẹ cái vàm Kênh Xanh lại đó.” “Chặn cái mả mẹ gì! Con kinh người ta ghe xuồng đi lại mấy đời nay, chặn lại rồi tôm cá đâu mà ăn? Vườn tược lấy gì mà tưới tiêu?”

Triết nghe rõ từng lời thì thầm gắt gỏng ấy, lồng ngực anh khẽ thắt lại. Nuốt nỗi ngượng ngùng vào trong, anh bước tới trước mặt một bác lái đò lớn tuổi đang ngồi vá lưới, cất giọng nhã nhặn, rặt mùi Nam Bộ “Dạ thưa chú, chú cho tụi cháu hỏi thăm đường vô Ủy ban xã Tân Bình đi ngả nào lẹ nhất ạ?”

Người đàn ông ngẩng lên, đưa cặp mắt đùng đục nhìn Triết từ đầu đến chân. Ông không đáp liền mà từ từ nhả một ngụm khói thuốc rê khét lẹt, đoạn hất cằm về phía con đường đất đỏ hun hút rợp bóng tre “Cứ nhắm đường đê mà đi thẳng. Tới ngã ba cây da sà thì quẹo phải. Đi đứng cho cẩn thận, đất cù lao mùa này trơn như mỡ, cán bộ thị xã coi chừng lộn cổ xuống mương nghen!”

Dứt lời, ông cúi gằm mặt xuống tiếp tục luồn con thoi qua mắt lưới, tuyệt nhiên không buồn nhìn lại. Triết khẽ gật đầu cảm ơn “Dạ, cháu đội ơn chú.”

Hoàng bước bên cạnh, huých nhẹ cùi chỏ vào sườn Triết, cười gượng gạo “Thấy chưa chú em? Chưa chi là nghe mùi thuốc súng rồi đó. Dân ở đây họ gắn ruột gắn gan với con nước, ai đụng vô dòng kênh là họ coi như thù nghịch liền à.”

Hai người men theo con đường đất đỏ rợp bóng tre tiến vào trung tâm xã. Trụ sở Ban nhân dân xã Tân Bình nằm nép mình bên một nhánh rạch nhỏ, là một căn nhà cấp bốn lợp tôn xi măng cũ kỹ, xung quanh rào bằng dâm bụt trổ hoa đỏ chói.

Chủ tịch xã – chú Ba Điền, một cán bộ ngoài năm mươi tuổi có nước da bánh mật và nụ cười xởi lởi nhưng ẩn chứa nhiều trăn trở – thân chinh ra tận bậc thềm đón hai kỹ sư trẻ. Trên chiếc bàn gỗ dầu mộc mạc, chú Ba Điền rót hai bát nước trà xanh bốc khói nghi ngút, vừa phe phẩy chiếc quạt mo cau vừa nhìn bản đồ quy hoạch mà Triết vừa cẩn thận trải ra.

“Tỉnh ủy với Ty Thủy lợi gửi công văn hỏa tốc về bữa hổm rồi,” Chú Ba Điền thở dài, giọng trầm ngâm. “Chủ trương ngăn mặn giữ ngọt thì xã hoàn toàn nhất trí. Mấy năm nay hạn mặn gay gắt quá, dân cù lao mình khổ sở trăm bề. Nhưng mà chú nói thiệt nghen Triết, hai đứa tụi bay về đợt này là đối đầu với sóng dữ đó.”

Triết chăm chú lắng nghe, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên mặt bàn “Dạ chú Ba, có phải bà con mình còn e ngại công trình làm bế tắc đường đi của ghe xuồng không chú?”

“Đâu chỉ có vậy!” Chú Ba Điền gõ ngón tay gầy guộc lên mặt bàn. “Cái khó nhất không phải là kỹ thuật hay máy móc, mà là lòng người. Đứng đầu phe phản đối ở cái cù lao này là ông Bảy Kiên. Tụi bay biết ông Bảy Kiên là ai hôn?”

Hoàng lắc đầu, còn Triết thì khẽ chớp mắt chờ đợi.

“Ông Bảy Kiên là lão nông tri điền có uy tín nhứt vùng này, nguyên là Trưởng ban khánh tiết đình Tân Bình. Tiếng nói của ổng trong xóm làng còn nặng ký hơn cả chữ ký của tao nữa đó! Ổng nắm trong tay mấy chục mẫu bưởi cổ thụ, đất đai dòng họ ổng trải dài dọc hai bờ Kênh Xanh. Hôm nghe tin xã chuẩn bị họp dân để bàn giao mặt bằng cắm mốc làm cống, ổng đập bàn tuyên bố thẳng thừng: ‘Đứa nào dám đem xáng cạp về múc đất vàm Kênh Xanh, tao vác phảng tao chém ráng chịu!’”

“Ủa chú Ba, sao ông Bảy lại định kiến dữ dội với công trình thủy lợi tới mức đó?” Hoàng buột miệng hỏi.

Chú Ba Điền bỗng im lặng. Ánh mắt người cán bộ xã nhìn xa xăm ra rặng bần ngoài cửa sổ, giọng chùng xuống nghẹn ngào “Tại vì… vết thương cũ chưa lành tụi bay ơi. Hồi thập niên bảy mươi, sau ngày giải phóng, địa phương mình phát động phong trào toàn dân đi đắp đập thủy nông Cù Lao Dung. Thằng Hai Thuận – con trai duy nhất của ông Bảy, lúc đó mới mười chín tuổi, tráng kiện giỏi giang nhứt vùng – hăng hái đi đầu đội thanh niên xung kích đào đất đắp đê. Nào ngờ gặp mạch nước ngầm sụt lún, vách đất sạt lở ụp xuống chôn sống nó tại chân công trình… Xác đem về tới nhà thì đất sét đã dính chặt vô da thịt. Vợ ổng khóc mù cả hai con mắt rồi qua đời ít năm sau đó. Từ đó tới nay, ông Bảy Kiên thù ghét mọi thứ đào đắp, ngăn đập. Ổng tin rằng động tới dòng chảy tự nhiên là xúc phạm long mạch, nghịch quy luật đất trời và chỉ đem lại chết chóc, tai ương.”

Căn phòng làm việc bỗng chốc rơi vào một khoảng lặng nặng nề. Tiếng gió chướng rít qua khe liếp tôn nghe như tiếng thở dài của mảnh đất cù lao.

Triết cúi đầu, lòng dâng lên một nỗi xót xa vô hạn. Anh không hề thấy giận sự bảo thủ của ông lão, mà ngược lại, sự mất mát quá lớn lao ấy khiến anh càng thêm thấu hiểu nỗi sợ hãi của người nông dân. Những trang sách giáo trình thủy lợi ở giảng đường Cần Thơ dạy anh cách tính lưu lượng nước, cách giằng néo cừ tràm, cách đổ bê tông mác cao chống xói lở… nhưng không một cuốn sách nào dạy anh cách hàn gắn một vết thương lòng đã rỉ máu suốt hai mươi năm trời.

“Dạ thưa chú Ba,” Triết ngẩng lên, giọng nói trầm ấm mà rành rọt. “Cháu hiểu rồi ạ. Tụi cháu về đây không phải để áp đặt số liệu lên đời sống của bà con. Cháu hứa với chú, tụi cháu sẽ làm bằng cái tâm, sẽ lắng nghe và giải thích cho tới khi nào ông Bảy và bà con đồng lòng mới thôi.”

Chú Ba Điền nhìn sâu vào mắt Triết, thấy được sự chân thành hiếm có của chàng kỹ sư trẻ, chú khẽ vỗ vai anh “Được cái bụng dạ như vậy là quý lắm. Nhưng mà ngặt nỗi, trụ sở xã mình chật hẹp quá, không có chỗ cho hai đứa ngả lưng. Trạm xá thì mấy bữa rày đang có dịch sốt xuất huyết, bệnh nhân nằm la liệt. Chắc hai đứa phải chịu khó đi dọc bờ Kênh Xanh, tìm nhà dân nào có gian nhà sàn bỏ trống đặng thuê tạm vài tháng làm trạm khảo sát.”“Dạ không sao đâu chú Ba, dân công trình tụi cháu ăn bờ ngủ bụi quen rồi,” Hoàng cười xòa.

Rời trụ sở Ủy ban xã, Hoàng ở lại bến sông để phụ chuyển máy móc nặng vào kho tạm của xã đội, hẹn sẽ gặp lại Triết sau. Một mình Triết vác chiếc máy kinh vĩ ba chân trên vai, tay xách chiếc cọc tiêu sơn trắng đỏ và chiếc cặp da bản vẽ, chầm chậm rảo bước dọc theo con đường đê ven Kênh Xanh.

Trời đã ngả dần về chiều. Ánh hoàng hôn miền sông nước đỏ ối như lòng đỏ trứng gà, nhuộm một màu vàng mật ong lộng lẫy lên những vạt dừa nước và mặt kênh dập dềnh sóng vỗ. Gió chướng thổi mỗi lúc một lộng, mang theo hương hoa bần thơm ngai ngái quyện lẫn mùi khói un muỗi bảng lảng bay ra từ những chái bếp nghèo bên bờ kênh.

Khung cảnh thanh bình đến nao lòng, nhưng bước chân Triết không khỏi trĩu nặng bởi lời cảnh báo của chú Ba Điền. Làm sao để thuyết phục một người cha đã mất con vì sạt lở đê đập tin vào một con đập mới? Làm sao để chứng minh rằng khối bê tông và những hàng cừ tràm kia là để mang lại sự sống chứ không phải tai ương?

“Coi kìa anh em ơi! Máy móc gì mà kỳ lạ dữ hôn!” “Cán bộ ơi, cái kiếng ba chân này nhìn thấu được lòng sông hông cán bộ?”

Tiếng cười nói râm ran cùng tiếng bước chân rầm rập của đám thanh niên và lũ trẻ con chăn trâu trong xóm bỗng cắt ngang dòng suy nghĩ của Triết. Chúng kéo thành một đoàn năm sáu đứa, vừa đi thụt lùi trước mặt anh vừa chỉ trỏ vào chiếc máy đo đạc ba chân sáng loáng trên vai anh với vẻ tò mò xen lẫn tinh nghịch.

Triết không hề tỏ ra khó chịu. Anh dừng bước, đưa tay đỡ lấy gọng kính cận, mỉm cười đôn hậu nhìn lũ trẻ lem luốc bùn sình “Cái này hổng phải nhìn thấu lòng sông đâu mấy em. Cái này là máy kinh vĩ, dùng để đo cao trình mặt đất với tính toán dòng chảy đặng mốt dẫn nước ngọt vô liếp vườn cho tía má mấy em đó.”

Mấy đứa nhỏ trố tròn mắt nhìn anh như nghe chuyện cổ tích. Một đứa lớn chừng mười lăm tuổi gãi đầu cười hì hì “Thiệt hông cán bộ? Chớ tía tui nói ai mà đắp cống chặn dòng kinh này là ổng vác xuồng qua chửi đó nghen!”

Triết chỉ cười trừ, khẽ xoa đầu đứa nhỏ rồi tiếp tục sải bước. Đám thanh niên thấy chàng kỹ sư thị xã hiền lành, dễ gần thì không trêu chọc nữa mà tản dần ra bờ rạch hái bần chua.

Đi thêm chừng vài trăm mét qua một khúc quanh rợp bóng dừa xiêm, bước chân Triết bỗng chậm lại.

Trước mắt anh, nép mình dưới rặng dừa nước nghiêng bóng xuống mặt kênh dập dềnh hoa lục bình tím, là một nếp nhà gỗ ba gian cổ kính. Ngôi nhà được dựng bằng gỗ dầu vững chãi, mái lợp ngói âm dương đã phủ một lớp rêu phong xanh thẫm của thời gian. Trước hàng hiên rộng rãi, một tấm biển gỗ cũ kỹ được treo ngay ngắn dưới mái ngói, trên đó khắc nổi dòng chữ nắn nót, thanh thoát đến lạ kỳ: “Tiệm May Cúc Áo”.

Mùi gỗ mục thanh tao quyện với mùi vải mới thơm ngai ngái thoang thoảng bay ra trong gió chiều.

Dường như bị thu hút bởi cái tên mộc mạc và dáng vẻ tĩnh lặng, bình yên đến lạ thường của ngôi nhà, bước chân Triết khựng lại bên vệ đường đê. Anh nghiêng đầu, đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ viền gỗ mở toang đón gió sông.

Dưới ánh nắng hoàng hôn đỏ ối đang dát vàng lên bậc cửa, một bức tranh đời thường tuyệt mỹ hiện ra trước mắt người kỹ sư trẻ.

Một cô gái trẻ đang ngồi bên chiếc máy may chân đạp hiệu Con Bướm bóng loáng. Cô có vóc dáng mảnh mai, dong dỏng cao, khoác trên mình chiếc áo bà ba màu lam dịu mát, nền nã đến mức tôn trọn nét duyên thầm kín đáo của người con gái sông nước. Mái tóc đen nhánh của cô dài ngang lưng, được kẹp gọn gàng bằng chiếc kẹp đồi mồi cũ, để lộ chiếc gáy thon trắng ngần và góc nghiêng gương mặt thanh tú.

Cô ngồi đó, lưng uốn cong một đường mềm mại, đôi bàn tay thon thả với những ngón dài khéo léo đang thoăn thoắt lướt trên thớ vải thô. Đôi mắt cô sáng, đượm chút suy tư nhưng toát lên vẻ nhẫn nại, kiên cường hiếm thấy. Dưới ánh chiều tà, từng cử chỉ se chỉ, luồn kim, xoay bánh đà của cô đều nhịp nhàng, uyển chuyển như một điệu múa thầm lặng giữa không gian tĩnh mịch.

Triết đứng chết lặng nơi bờ rào dâm bụt, lồng ngực anh bỗng dưng đập dồn dập một nhịp đập lạ lùng. Cả ngày nay, anh chỉ nhìn thấy sự ngờ vực, dò xét, căng thẳng và nặng nề từ những con người cù lao. Nhưng ngay tại góc hiên nhà rêu phong này, người con gái ấy lại toát ra một vẻ bình yên, thuần khiết và dịu dàng như một bông lục bình tím biếc trôi êm đềm giữa dòng nước xiết.

“Cạch… cạch… cạch…”

Tiếng máy may sắt vang lên đều đặn, nhịp nhàng. Nhưng rồi, như một sự ngắt quãng đột ngột của định mệnh…

“Phựt!”

Một tiếng động nhỏ khô khốc vang lên. Sợi chỉ may đứt phựt.

Bánh đà của chiếc máy Con Bướm dừng lại tức thì. Tiếng máy may im bặt.

Cô gái khẽ giật mình, bờ vai mảnh khẽ run lên. Như cảm nhận được có người đang đứng ngoài hàng hiên, cô chầm chậm ngẩng đầu lên.

Qua khung cửa sổ gỗ rêu phong, ánh mắt phong sương, mệt mỏi vì nắng gió và trĩu nặng suy tư của Triết bất chợt chạm phải ánh nhìn trong veo, thảng thốt nhưng đầy cương nghị của người thợ may trẻ.

Không gian như ngưng đọng lại trong khoảnh khắc ấy. Gió từ dòng Kênh Xanh ngừng thổi, chỉ có vạt nắng chiều rực rỡ chiếu rọi vào đôi mắt họ, phản chiếu hình bóng của nhau.

Bị bắt quả tang đang nhìn trộm, Triết bừng tỉnh, mặt anh nóng ran lên vì ngượng ngùng. Trái tim người kỹ sư vốn quen với những con số khô khan bỗng chốc đập loạn xạ như tiếng búa nện trên công trường. Anh lúng túng giật mình lùi lại nửa bước, miệng ấp úng định cất lời chào để giải thích rằng mình chỉ là một người lữ khách đi tìm nhà trọ.

“Dạ… tôi… xin lỗi cô…”

Triết vừa cất giọng ngập ngừng vừa bước vội lên bậc tam cấp dẫn vào hàng hiên. Nhưng vì quá bối rối, lại thêm chiếc máy kinh vĩ ba chân cồng kềnh trên vai làm lệch trọng tâm, đôi dép rọ nhựa bám bùn trơn trượt của anh đã vấp mạnh vào mép bậc thềm gỗ dày cộm trước cửa tiệm!

“Ái chà!”

Triết chới với mất thăng bằng, cả người nghiêng ngả. Chiếc máy đo đạc va mạnh vào cột hiên gỗ phát ra một tiếng “cốp” khô khốc. Trong cơn hoảng loạn cố giữ cho chiếc máy kinh vĩ đắt tiền không bị rơi đập xuống đất, bàn tay kia của Triết tuột khỏi quai chiếc cặp da cũ kỹ.

Chiếc cặp da rơi tự do xuống nền gạch tàu.

“Tách!”

Một tiếng kim loại gãy giòn vang lên. Chiếc khóa sắt gỉ sét vốn đã mòn vẹt qua bao năm tháng gió bụi bất ngờ bung gãy làm đôi. Nắp cặp da bật mở toang hoác.

Và rồi, một ngọn gió chướng từ bờ sông bất thình lình ùa mạnh vào hàng hiên.

Hàng chục tờ bản vẽ kỹ thuật khổ lớn – những bản vẽ thiết kế công trình cống Kênh Xanh, bản đồ trắc dọc trắc ngang lòng kênh chi chít những đường mực xanh đỏ, những con số cao trình địa chất dày đặc – theo ngọn gió ào ạt bay tung tóe ra khắp nền nhà. Những trang giấy trắng tinh bay lượn lờ giữa không trung như đàn bướm trắng vỡ tổ, rồi là là đáp xuống rải rác trên mặt sàn gỗ, trên chiếc bàn cắt vải, và hàng chục tờ rơi lả tả ngay dưới chân chiếc máy may Con Bướm, phủ kín quanh đôi guốc mộc của người thợ may trẻ.

Triết đứng chết trân bên bậu cửa, một tay vẫn ôm chặt chiếc chân máy kinh vĩ, mắt trố tròn nhìn hiện trường tan hoang do chính sự vụng về của mình gây ra, rồi từ từ ngước lên nhìn cô gái với vẻ mặt không thể nào thảm hại và bối rối hơn.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.