Chương 28: Ngọn Lửa Tri Thức
Thành đứng sững bên mép bàn cắt bằng gỗ mít, bàn tay còn vương mùi giấy bổi và mực tím khẽ chạm vào mép phong bì công văn màu đỏ chót. Cậu nhìn thấy bờ vai gầy của chị Hai khẽ run lên từng chặp, hai bàn tay thon thả chai sạn vì cầm kéo đang ép chặt tờ giấy pơlu mạ nhũ vàng vào lồng ngực. Ánh hoàng hôn cuối ngày rọi qua khung cửa sổ gỗ dầu, dát một vệt vàng cam rực rỡ lên mái tóc đen buông dài của Lụa và hắt bóng ba người in dài trên vách ván.
“Chị Hai… Ba má trên bàn thờ ngó xuống chắc đang mỉm cười mãn nguyện dữ lắm đó chị Hai,” Thành khẽ nói, cổ họng nghẹn ắng vì một nỗi xúc động dâng tràn từ tận đáy lòng. Cậu bước tới nửa bước, đặt bàn tay ấm áp của mình lên mu bàn tay chị, cảm nhận được nhịp tim đang đập dồn dập sau lần vải áo bà ba mỡ gà thân quen.
Triết đứng cạnh bên, đưa tay tháo cặp kính cận gọng đồi mồi ra lau nhẹ vào vạt áo kaki, ánh mắt lấp lánh niềm kiêu hãnh khôn xiết. Giọng anh trầm ấm, vang lên như một điểm tựa vững chãi giữa gian nhà ba gian vừa trải qua những ngày dài lo toan “Chuyến đi Hà Nội vào mùa thu này không chỉ là vinh dự của riêng tiệm may Cúc Áo đâu Lụa. Đó là sự công nhận của cả nước đối với nét đẹp bình dị, dẻo dai của đất phù sa mình. Em xứng đáng có được ngày hôm nay sau bao nhiêu đêm thức trắng bên ngọn đèn dầu.”
Lụa gật đầu, lau vội giọt nước mắt trào ra nơi khóe mi. Cô quay sang nhìn Thành, ánh mắt ngập tràn vẻ dịu dàng của người chị đã thay cha đổi mẹ nuôi nấng cậu nên người “Chị đi rồi chị về, mang theo cả tấm lòng của bà con cù lao mình ra Bắc. Nhưng Thành nè, chuyện quan trọng nhất của nhà mình năm nay vẫn là chuyện học của em. Cống Kênh Xanh đã ngăn được mặn, tiệm may đã đứng vững thành hợp tác xã, giờ em phải dốc trọn lòng dạ mà bước vô giảng đường đại học nghe hôn?”
Thành siết chặt tay chị, gật đầu thật mạnh. Ngay khoảnh khắc ấy, nhìn ra dòng nước ngọt mát lành đang cuộn chảy êm đềm ngoài bến đò, trong tâm trí chàng thiếu niên mười tám tuổi bỗng bừng sáng một ngọn lửa kiên định. Anh Triết đã đem sức trẻ và tri thức công trình về ghìm giữ dòng nước cứu sống ruộng vườn; chị Hai đã dùng từng mũi kim sợi chỉ chắt chiu gây dựng sinh kế cho hàng chục phụ nữ nghèo; vậy thì con đường của cậu, nhất định phải là mang con chữ, mang tri thức về thắp sáng cho những đứa trẻ lam lũ nơi xóm bãi này.
Những tháng ngày sau đó trôi qua như một giấc mơ đẹp đẽ và bận rộn trên miệt cù lao Tân Bình. Mùa thu năm 1992, chuyến đi Hà Nội của Lụa thành công rực rỡ ngoài mong đợi. Bộ sưu tập áo bà ba lụa thêu hoa dại bản địa của Hợp tác xã Cúc Áo được vinh danh trang trọng tại Triển lãm Toàn quốc, mở đường cho những kiện hàng thủ công mang linh hồn sông nước miền Tây vươn xa. Cùng thời điểm ấy, Thành dồn hết tâm lực vào những đêm chong đèn miệt mài bên trang sách, hoàn thành xuất sắc kỳ thi tuyển sinh và chính thức bước chân vào khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Cần Thơ với tư cách thủ khoa của cả vùng sông nước.
Năm tháng nơi giảng đường thị thành trôi qua trong những chuyến đò dọc đò ngang đong đầy thương nhớ. Thành chắt chiu từng cuốn giáo trình, ghi chép từng bài giảng phương pháp sư phạm, nhưng trong tâm khảm cậu chưa bao giờ nguôi ngoai hình ảnh những đứa trẻ cù lao đầu trần chân đất, áo quần bạc màu vì bùn phèn, ngày ngày phải theo cha mẹ chèo xuồng giăng câu mà chẳng biết trọn vẹn mặt chữ cái. Cậu hiểu rằng dòng nước ngọt có thể làm tốt tươi cây trái, nhưng chỉ có tri thức mới giúp mảnh đất quê hương thực sự đổi đời.
Ngày Thành cầm trên tay tấm bằng tốt nghiệp loại ưu của Đại học Sư phạm, các thầy cô trên thành phố Cần Thơ tha thiết giữ cậu ở lại làm cán bộ giảng dạy, các trường trung học lớn dưới tỉnh lỵ cũng gửi lời mời đón nhận với mức lương bổng đãi ngộ hậu hĩnh. Thế nhưng, Thành chỉ mỉm cười cúi đầu cảm ơn, rồi lặng lẽ thu xếp toàn bộ sách vở vào chiếc cặp da sờn mà chị Hai chắt chiu mua cho ngày trước, bước xuống chuyến đò chiều rẽ sóng trở về bến kênh Xanh.
Tiếng máy nổ bình bịch của con đò gỗ đưa Thành cập bến quen vào một buổi sớm mai trong trẻo. Gió sông Tiền thổi lồng lộng qua rặng dừa nước mát rượi, mang theo mùi hoa bần ngai ngái quen thuộc. Bước chân lên triền đê kiên cố rợp bóng cây xanh, Thành nghe lòng mình dâng lên một cảm giác bình yên đến lạ lùng. Cống Kênh Xanh đồ sộ phía xa đang sừng sững mở van đón làn nước ngọt trong vắt, những liếp vườn bưởi da xanh của ông Bảy Kiên hai bên bờ trĩu trịt những quả mọng tròn căng, báo hiệu một mùa thu hoạch bội thu chưa từng có.
Thành rảo bước về phía ngôi nhà ba gian thân thương. Từ xa, tiếng máy may Butterfly chân đạp đã vang lên lách cách, rộn rã như nhịp đập của sự sống không ngừng nghỉ. Gian nhà trước nay đã được cơi nới khang trang, biển hiệu "Hợp tác xã Thêu May Cúc Áo" bằng gỗ tràm sơn chữ đỏ nổi bật dưới bóng giàn hoa giấy rực rỡ.
Vừa bước qua cổng rào dâm bụt, Thành đã nghe tiếng cười nói giòn tan của các chị em thợ thêu. Thấy bóng dáng thư sinh bận chiếc áo sơ mi trắng thẳng thớm, nách cắp cặp da bước vào, chị Hai Lụa đang đứng bên bàn cắt vội buông chiếc kéo mạ kền xuống, reo lên mừng rỡ “Thành! Thầy giáo nhỏ của chị Hai đã về tới rồi đó hả em?”
Lụa chạy ào ra hàng hiên, đôi mắt ngập tràn niềm tự hào. Hơn ba mươi chị em thợ may trong xưởng cũng ngừng tay, vỗ tay rần rần chào đón người em trai hiếu thảo của chủ nhiệm. Thành đặt chiếc cặp da lên góc bàn, vòng tay ôm lấy bờ vai chị gái “Dạ, em về rồi chị Hai! Em về với chị, về với bà con cù lao mình luôn chớ hổng đi đâu nữa hết.”
Lụa rưng rưng nhìn tấm bằng cử nhân sư phạm đỏ chói được đóng khung cẩn thận mà Thành nâng niu đưa cho, rồi cô ngước nhìn lên bàn thờ ba má, thầm thì những lời cảm tạ sâu kín. Lời hứa năm xưa trước lúc người lớn nhắm mắt xuôi tay, hôm nay hai chị em đã trọn vẹn đền đáp.
Không để lãng phí dù chỉ một ngày nghỉ ngơi, Thành bắt tay ngay vào việc thực hiện ước mơ mà cậu đã ấp ủ suốt những năm tháng miệt mài trên giảng đường: mở một lớp học chữ và dạy văn miễn phí cho toàn bộ trẻ em nghèo trên dải đất cù lao.
Ý định của Thành vừa thốt ra trong bữa cơm trưa đạm bạc với canh chua bông điên điển và cá linh kho lạt, chị Hai Lụa và anh Triết đã đồng lòng ủng hộ hết mực. Triết và Lụa bao năm qua đã gắn bó son sắt, nay trạm bơm đã hoàn thiện việc tự động hóa và hai người đang tính chuyện tổ chức ngày vui ấm cúng khi Thành đã thành tài trở về, nghe em trai nói liền buông đũa, vỗ mạnh lên vai Thành “Ý hay lắm Thành à! Nước ngọt đã về liếp vườn, cái ăn cái mặc nhờ hợp tác xã của chị Hai em mà hổng còn thiếu thốn, giờ có thêm con chữ của em nữa thì xứ cù lao này mới thiệt sự vững gốc bền rễ. Chuyện bàn ghế, bảng đen với ánh sáng, cứ để anh lo!”
Ngay chiều hôm đó, khoảng sân rộng rợp bóng dừa xiêm bên hông hàng hiên tiệm may trở thành một công trường thu nhỏ tràn ngập tiếng cười. Triết cùng mấy anh em thợ trẻ ở trạm thủy lợi mang sang hai dãy ghế băng dài và bốn chiếc bàn rộng đóng bằng gỗ tràm chắc nịch, được bào nhẵn bóng không một vết xước. Đặc biệt nhất là tấm bảng đen lớn được làm từ gỗ mù u già, do chính tay Triết cưa xẻ, mài phẳng lỳ và quét ba lớp sơn đen tuyền chống lóa. Anh còn khéo léo kéo thêm một đường dây điện từ máy nổ công trình chạy thẳng sang góc sân lớp học, treo lơ lửng một chiếc bóng đèn tròn tỏa ra thứ ánh sáng vàng ấm áp để bầy nhỏ có thể ngồi học cả những buổi chập choạng tối.
Thành biết chị Hai đã lặng lẽ trích một phần tiền dành dụm từ các đợt triển lãm cùng quỹ phúc lợi của hợp tác xã trong chiếc rương gỗ cẩn ốc xà cừ, nhờ đò máy lên trung tâm tỉnh lỵ mua về hàng trăm quyển tập học sinh giấy trắng tinh thơm mùi bột gỗ, mấy hộp bút mực Bến Nghé, thước kẻ gỗ và đầy đủ sách giáo khoa tiểu học lẫn trung học cơ sở. Tự tay Lụa lấy giấy bao xi măng loại dẻo dai bọc cẩn thận từng gáy sách, dùng bút lông nắn nót viết tên từng môn học lên nhãn vở.
Thành đứng nhìn chị Hai và anh rể tương lai tỉ mỉ sắp đặt từng viên phấn trắng, từng xấp vở ngay ngắn lên bục giảng tạm bằng gỗ tràm, lòng dâng lên một niềm cảm phục vô bờ. Lớp học mang tên "Lớp học Tình thương Kênh Xanh" cứ thế thành hình từ tình yêu thương máu thịt của gia đình và nghĩa tình mộc mạc của xóm bãi.
Sáng hôm sau, tiếng kẻng báo giờ học đầu tiên vang lên rộn rã. Bầy trẻ con từ các ấp rủ nhau kéo về hiên tiệm may đông như trẩy hội. Đứa lớn dắt đứa nhỏ, có đứa còn bận chiếc áo bà ba vá vai lấm lem bùn phèn, nhưng đôi mắt đứa nào cũng tròn xoe, lấp lánh niềm háo hức khôn tả.
Trong số những đứa trẻ bước vào lớp, Thành chú ý nhất đến thằng Tí – cậu em trai út mười tuổi của Út Mơ. Thằng bé bước thấp bước cao, bàn tay nhỏ thó nắm chặt lấy vạt áo chị gái, gương mặt lộ rõ vẻ rụt rè e sợ.
Út Mơ bước tới bậc thềm, dáng vẻ của cô gái hai mươi tuổi ngày nào giờ đây đã trở nên đằm thắm, chín chắn lạ thường. Là thợ thêu chính vững vàng nhất của Hợp tác xã Cúc Áo, bàn tay Út Mơ giờ đây có thể lượn những đường kim tinh xảo đến mức các đoàn khách trên tỉnh về ai cũng phải trầm trồ. Cô trao thằng Tí cho Thành, giọng nói vừa chân thành vừa xúc động “Thầy Thành ơi, em gửi thằng Tí cho thầy nghen. Nhà em nghèo, mấy chị em trước giờ chỉ biết cắm mặt mò cua bắt ốc, may nhờ có chị Hai Lụa dang tay chỉ dạy nghề thêu mà nay em mới tự nuôi nổi bầy em nheo nhóc. Giờ có thầy về mở lớp, em chỉ mong thằng Tí biết đọc bài thơ, biết làm con tính cho đời nó sau này bớt cơ cực…”
Thành cúi xuống, xoa đầu thằng Tí, mỉm cười đôn hậu “Chị Út Mơ cứ yên lòng. Thằng Tí sáng dạ lắm, tôi coi nét mặt nó là biết nó học mau hiểu. Có sách vở của chị Hai Lụa sắm cho rồi, từ nay nó chỉ việc chăm chỉ tới lớp thôi.”
Đúng lúc ấy, ngoài đường bờ kênh râm mát bóng dừa bỗng vang lên tiếng bước chân rộn rã. Một chàng thanh niên dáng người vạm vỡ, nước da ngăm đen rắn rỏi, mặc chiếc áo sơ mi xanh công nhân gọn gàng đang dắt chiếc xe đạp cọc cạch dừng lại trước cổng rào. Đó là Nghĩa – người thợ máy trẻ tuổi chịu thương chịu khó của trạm bơm cống Kênh Xanh, người bấy lâu nay vẫn thầm thương trộm nhớ Út Mơ nhưng chưa dám một lần ngỏ lời chính thức.
Trên tay Nghĩa không phải là món quà cầu kỳ xa hoa, mà là một nhành hoa bần trắng muốt còn đọng sương mai và một rổ mận hồng đào chín mọng vừa hái sau vườn nhà. Chàng thanh niên gãi đầu bẽn lẽn, bước tới trước mặt Út Mơ, giọng run run nhưng rành rọt từng tiếng “Út Mơ nè… Hổm rày nghe chị Lụa biểu hợp tác xã mình sắp mở thêm xưởng thêu mới, tui mừng cho Út lắm. Tui… tui cũng vừa được biên chế chính thức vô trạm vận hành cống Kênh Xanh, đồng lương hàng tháng ổn định rồi. Tui qua đây, trước là chúc mừng thầy Thành mở lớp, sau là… muốn xin phép chị Lụa với thầy Thành cho tui được thưa chuyện với ba má Út, đưa trầu cau sang rước Út về mần dâu một nhà…”Lời cầu hôn mộc mạc, thẳng thắn như chính con người sông nước Nam Bộ làm cả góc sân tiệm may bỗng lặng đi một nhịp, rồi vỡ òa trong những tiếng vỗ tay giòn giã và tiếng cười trêu chọc của các chị em thợ may. Út Mơ đỏ bừng mặt, hai má ửng hồng như trái mận chín trên tay Nghĩa. Cô khẽ liếc nhìn chị Hai Lụa đang mỉm cười gật đầu khích lệ, rồi ngượng ngùng cúi đầu đón lấy cành hoa bần “Cái anh này thiệt tình… Giữa chốn đông người mà nói năng kỳ cục quá hà! Thôi… chuyện đó để mẹ tía ở nhà định liệu, chớ tui… tui biết cái bụng dạ anh tốt rồi…”
Thành đứng bên bục giảng nhìn cảnh tượng ấy, trong lòng trào dâng một niềm xúc động sâu xa. Cậu nhớ lại những ngày đầu khi Út Mơ mới tới tiệm may, cô gái nhỏ bé mang nỗi ám ảnh nghèo khó và nguy cơ bị ép gả đi xa xứ. Giờ đây, nhờ đôi bàn tay lao động chân chính và sự tự chủ từ nghề thêu, cô đã hoàn toàn làm chủ số phận, tự tin đón nhận một tình yêu chân phương, bền chặt ngay trên chính mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình.
Niềm vui nối tiếp niềm vui, vài ngày sau đó, để cổ vũ tinh thần học tập của con em và tôn vinh nghề thêu truyền thống đang hồi sinh rực rỡ, chi bộ xã cùng Hợp tác xã Cúc Áo đã quyết định tổ chức một ngày hội đặc biệt: "Ngày hội Sách và Thêu cù lao Tân Bình".
Đó là một ngày hội chưa từng có trong ký ức của Thành. Ngay từ sáng tinh sương, con đường đất đỏ dọc theo bờ kênh Xanh đã tấp nập người qua lại. Những chiếc xuồng ba lá chở đầy bông bí, dưa hấu, chuối xiêm và bánh lá dừa của bà con các ấp nườm nượp cập bến.
Trước sân tiệm may, hai không gian hòa quyện vào nhau tạo nên một bức tranh sinh hoạt cộng đồng sống động và ấm áp. Một bên là các khung thêu lớn được xếp thành hàng lối, nơi các chị, các mẹ trong tà áo bà ba thêu hoa lục bình thoăn thoắt đưa kim, trình diễn những kỹ thuật thêu vạt áo, phối màu chỉ tơ độc đáo cho bà con thưởng lãm. Tiếng cười nói râm ran hòa cùng tiếng lách cách của những chiếc máy may Butterfly như một khúc ca lao động thanh bình.
Bên còn lại là không gian ngày hội đọc sách do Thành chủ trì. Hàng trăm cuốn sách văn học, truyện cổ tích dân gian, sách khoa học thường thức nông nghiệp được bày biện trang trọng trên những chiếc chiếu hoa trải dài dưới bóng mát của rặng nhãn. Lũ trẻ con bu quanh các kệ sách, say mê lật từng trang giấy thơm phức, chốc chốc lại trầm trồ chỉ trỏ vào những hình vẽ minh họa đầy màu sắc.
Ông Bảy Kiên bận chiếc áo bà ba chần bông màu xám tro quen thuộc – chiếc áo ân tình mà chị Hai Lụa may tặng ông từ đợt giỗ anh trai liệt sĩ năm nào – tay chống gậy tre khoan thai bước vào sân. Đôi mắt quắc thước của vị bô lão ngót bảy mươi tuổi quét qua đám trẻ đang say sưa đọc sách, hàm râu kẽm rung rung trong nụ cười sảng khoái.
Ông bước lại gần bục giảng, đặt lên bàn Thành một bọc vải điều cẩn thận. Khi lớp vải mở ra, Thành kinh ngạc thấy bên trong là ba cuốn sách chữ Quốc ngữ xuất bản từ những năm đầu thế kỷ hai mươi, giấy đã ngả màu vàng ố nhưng từng nét chữ in roneo vẫn còn nguyên vẹn. Đó là những tập thơ văn yêu nước và sách luân lý cổ mà ông Bảy đã cất giấu, gìn giữ qua bao năm tháng chiến tranh bom đạn.
“Thầy Thành à,” giọng ông Bảy rền vang sang sảng, ấm áp như tiếng sấm đầu mùa. “Xưa nay người cù lao mình quen tay cuốc tay chèo, coi chuyện con chữ là chuyện của thiên hạ xứ xa. Nhưng nay nước ngọt đã chảy tràn đồng, cây bưởi đơm hoa trĩu quả, tui mới hiểu rằng nếu đất này hổng có người cầm ngòi bút, hổng có ngọn lửa chữ nghĩa soi đường thì dẫu có ấm no cũng hổng ngẩng cao đầu được. Mấy cuốn sách quý này là của ông cố tui để lại, nay tui trao trọn cho thầy giáo làng, mong thầy giữ cho ngọn lửa tri thức của cái cù lao này đời đời hổng tắt!”
Thành cúi rạp người đón lấy những cuốn sách cổ bằng cả hai tay, lòng tràn ngập sự kính cẩn “Dạ, cháu xin tạ ơn ông Bảy! Lời căn dặn của ông, cháu xin khắc cốt ghi tâm.”
Buổi chiều hôm ấy, dưới ánh nắng vàng như mật đổ dài trên mặt kênh Xanh, Thành đứng trên bục giảng trước hàng chục ánh mắt trong veo của bầy học trò nghèo. Cậu không giảng những lý thuyết văn chương xa vời, trừu tượng. Cậu bắt đầu bài giảng văn đầu tiên của đời mình bằng câu chuyện về con nước lớn ròng của dòng sông Tiền, về công ơn nhọc nhằn của những người mẹ bên khung cửi, về những giọt mồ hôi mặn chát của những người thợ thủy lợi đã đổ xuống đáy bùn để giữ cho dòng kênh ngọt ngào hôm nay.
Giọng Thành trầm ấm, truyền cảm, từng lời từng chữ như rót thẳng vào tâm hồn non nớt của đám trẻ “Các em hãy nhìn ra bờ kênh Xanh kia. Từng tấc đất phù sa màu mỡ dưới chân chúng ta được bồi đắp từ bao đời nay, từng hạt lúa củ khoai nuôi chúng ta lớn lên đều thấm đẫm tình yêu thương của xóm làng. Con chữ không chỉ dạy các em biết đọc, biết viết, mà con chữ dạy các em biết thương cha nhớ mẹ, biết trân trọng giọt mồ hôi của người lao động và biết sống sao cho xứng đáng với dải đất quê mình…”
Cả góc sân im phăng phắc. Chị Hai Lụa đứng nép bên khung cửa sổ, khẽ đưa tà áo lau giọt nước mắt xúc động đang lăn dài trên má. Anh Triết đứng cạnh Lụa, bàn tay anh lặng lẽ tìm lấy bàn tay cô, siết nhẹ một cái đầy tin cậy và ấm áp. Những đứa trẻ như thằng Tí ngồi ngay ngắn, bàn tay nhỏ lấm lem nắn nót viết từng nét chữ nghiêng nghiêng vào trang vở mới: “Quê hương em có dòng kênh Xanh…”
Khi buổi học đầu tiên khép lại trong tiếng đồng thanh đọc bài rộn rã của đám trẻ, hoàng hôn cũng bắt đầu buông tấm màn tím biếc xuống mặt nước. Lũ nhỏ ríu rít chào thầy Thành rồi ùa ra đường làng, tiếng cười đùa vang vọng cả khúc sông.
Thành đứng lại bên tấm bảng đen, cẩn thận dùng chiếc khăn ẩm lau sạch từng vệt bụi phấn trắng. Cậu cảm thấy một niềm hạnh phúc ngọt ngào lan tỏa khắp cơ thể, một sự thanh thản sâu xa mà không danh vọng hay tiền bạc chốn thị thành nào có thể mang lại được.
Bỗng nhiên, từ ngoài vàm kênh vang lên tiếng máy nổ giòn giã của chiếc canô vỏ nhôm hiện đại rẽ sóng lướt tới. Chiếc canô mang cờ hiệu hành chính lượn một đường cung hoàn hảo rồi cập sát vào cầu tàu bê tông trước tiệm may Cúc Áo.
Mọi người trong xưởng thêu ngạc nhiên bước ra bờ hiên ngó nhìn. Bước lên bờ là đồng chí Trưởng phòng Giáo dục huyện, theo sau là một người đàn ông trung niên bận bộ âu phục màu xám trang nhã, tóc chải gọn gàng, tay xách chiếc cặp tài liệu da bóng loáng.
Đồng chí cán bộ huyện nhanh nhảu bước lên đón đầu, tươi cười giới thiệu với ông Bảy Kiên, Triết và Lụa “Báo cáo bà con và anh chị em! Xin giới thiệu với xóm cù lao mình, đây là đồng chí Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh, hôm nay đích thân về công tác cơ sở tại huyện ta!”
Vị đại biểu của Sở Giáo dục mỉm cười thân thiện, bắt tay ông Bảy Kiên và Triết, rồi ánh mắt ông dừng lại nơi Thành đang đứng bên bục gỗ với chiếc áo sơ mi trắng còn dính vệt phấn. Ông bước thẳng vào gian hiên, chăm chú quan sát lớp học ngăn nắp, ngắm nhìn tấm bảng gỗ mù u láng bóng và những hàng bàn ghế gỗ tràm chắc chắn. Ông lật xem một cuốn vở tập viết còn để mở của thằng Tí trên bàn đầu, gật đầu tấm tắc “Thầy giáo Nguyễn Thành phải không? Chúng tôi ở trên Sở đã theo dõi thông tin về thủ khoa Sư phạm Cần Thơ từ chối các vị trí tốt ở thành phố để về quê hương suốt mấy tuần nay. Nhưng quả thật, khi tận mắt chứng kiến lớp học tình thương ấm áp và nề nếp như thế này giữa lòng cù lao, tôi vô cùng xúc động và khâm phục tâm huyết của người thầy giáo trẻ.”
Thành thoáng chút bối rối, khiêm nhường cúi đầu “Dạ thưa đồng chí, cháu chỉ làm tròn bổn phận của một người con sinh ra từ mảnh đất này thôi ạ. Nhờ có chị Hai cháu, anh Triết và bà con chòm xóm chung tay đùm bọc, cháu mới dựng được lớp học này cho tụi nhỏ.”
Vị đại biểu của Sở Giáo dục nhìn sâu vào mắt Thành, gương mặt ông bỗng trở nên nghiêm cẩn nhưng chan chứa niềm tin cậy. Ông mở chiếc cặp da, rút ra một tập hồ sơ có dấu mộc đỏ, giọng nói vang lên dõng dạc giữa không gian tĩnh lặng của buổi hoàng hôn “Chính vì tinh thần cống hiến cao quý đó, Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện đã họp khẩn và đi đến một quyết định quan trọng. Chúng tôi nhận thấy nhu cầu học tập của con em vùng cù lao Tân Bình sau khi có công trình thủy lợi phát triển rất nhanh chóng. Vì vậy, tỉnh đã phê duyệt đề án xây dựng một phân hiệu trường công lập chính thức ngay tại xóm cù lao này, với đầy đủ cơ sở vật chất từ phòng học kiên cố đến thư viện sách đạt chuẩn.”
Vị đại biểu ngừng lại một nhịp, bước tới nắm chặt lấy hai bàn tay của Thành, nụ cười rạng rỡ “Và người được tập thể lãnh đạo ngành giáo dục tỉnh thống nhất đề cử làm phụ trách chuyên môn, kiêm giáo viên nòng cốt đặt nền móng cho phân hiệu trường học chính q** đ** tiên của cù lao Tân Bình, không ai khác xứng đáng hơn, chính là thầy giáo Nguyễn Thành!”
Thành đứng chết lặng giữa gian hiên, hai tai ù đi vì một niềm hạnh phúc quá đỗi bất ngờ. Cậu nhìn sang chị Hai Lụa đang ôm ngực nghẹn ngào, nhìn sang anh Triết đang gật đầu cười rạng rỡ trong ánh chiều tà. Ngọn gió từ dòng kênh Xanh thổi thốc qua hàng hiên, làm lay động những vạt áo bà ba thêu hoa lục bình và thổi bùng lên trong tim người thầy giáo trẻ một ngọn lửa tri thức ngút ngàn, sẵn sàng soi sáng cho tương lai của cả một vùng đất cù lao đang vươn mình trỗi dậy.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
