Chương 26: Mùa Bưởi Xanh Tươi
Tiếng còi sắt trên trạm gác rít lên từng chập xé toạc ráng chiều rực rỡ, kéo theo những đợt rung bần bật dội thẳng vào lồng ngực Lụa. Chiếc khăn rằn vắt hờ trên vai cô trượt xuống mép bàn gỗ mít, chén chè thưng bốc khói dở dang chao đảo làm sánh ra vài giọt nước cốt dừa béo ngậy. Trước mắt cô, bóng lưng Triết lao vụt đi như một mũi tên xé gió, chiếc kính cận vừa kịp giật vội nhét tọt vào túi áo sơ mi sẫm màu.
“Trời đất quỷ thần ơi! Bục vữa non mép cống phụ rồi kìa!”
Tiếng la hoảng hốt của bà Năm Búp làm cả khoảng sân trước tiệm may vỡ òa thành một mớ âm thanh hỗn độn. Mấy chục người đang rôm rả đờn ca, nâng chén mừng công bỗng chốc buông đũa, mặt mày nhớn nhác. Ông Bảy Kiên quăng phịch cái gáo dừa xuống mé mương, hàm râu kẽm rung lên bần bật, đôi chân thoăn thoắt bấm chặt xuống mặt đất sình lầy phóng thục mạng bám theo Triết.
Lụa chẳng kịp nghĩ ngợi đắn đo, đôi tay thon dài quen cầm kim khâu liền chụp vội chiếc khăn rằn, dợm bước chạy theo.
“Lụa! Nguy hiểm lắm con!” Bà Hai Nhị níu nhẹ tay áo cô, nét quý phái trên gương mặt người mẹ thị thành giờ đây ngập tràn nỗi hoảng sợ tột cùng khi thấy con trai độc nhất lao thẳng về phía dòng nước xiết.
“Dạ không sao đâu bác Hai, con phải ra coi anh Triết ra sao. Bác cứ ngồi yên trong chái hiên này nghen!”
Lụa gỡ nhẹ tay bà, bước chân thoăn thoắt vượt qua triền dốc bờ kênh. Dưới chân cô, đất phù sa dẻo quánh bám chặt vào đế dép xốp, nhưng đôi mắt cô chỉ đau đáu dán chặt vào bóng dáng cao ráo đang trượt vội xuống triền bờ kè đá hộc phía khoang cống phụ.
Nơi cửa xả cống phụ, cảnh tượng hỗn loạn hiện ra đến nghẹt thở. Dòng nước ngọt sông Tiền cuồn cuộn đổ dồn về vàm kênh với lưu lượng cực lớn, tạo thành những quầng xoáy trắng xóa cuộn trào ngùn ngụt. Chỗ vách vữa non nối giữa trụ bê tông và mảng cọc cừ tràm mới gia cố hôm qua bị áp lực nước xé toạc một mảng rộng cỡ hai gang tay. Nước rít qua khe nứt nghe “ục… ục… xì xì” chói tai, mang theo từng tảng đất sét non dưới chân móng cuốn phăng ra ngoài dòng chính. Cánh van gỗ bọc thép chao đảo từng chặp, bulông giằng cừ kêu ken két như sắp sửa bung ra từng mảng.
“Cắt dòng giảm áp ngay!” Giọng Triết khàn đặc nhưng đanh thép vang lên giữa tiếng nước sôi réo. “Hai chú bên trạm tời kéo hạ bớt cửa van chính xuống bốn tấc! Đội kỹ thuật khiêng ngay bó cọc tràm ba mét và bao cát trộn đất sét dẻo lại đây!”
Triết không hề lùi bước. Anh tuốt phăng đôi dép rọ, xắn ống quần kaki quá gối, một tay vịn chặt vào thanh giằng sắt, nhoài hẳn nửa thân trên qua mép vách đất đang sụt lở để soi xét. Gương mặt rám nắng của anh đanh lại, vệt sẫm mờ nơi trán – dấu tích của cú ngã hố móng đợt trước – lấm tấm những hạt mồ hôi lạnh toát. Mất đi cặp kính cận, đôi mắt anh nheo lại thật chặt, tập trung cao độ vào từng chuyển động của dòng xoáy ngầm.
“Anh Triết! Đáy móng phụ bị rỗng chân khay, nếu ép cừ không khéo là sụp luôn cả mảng vách đó!” Người công nhân trẻ níu lấy thắt lưng Triết, giọng run bần bật vì sợ hãi.
“Không phải sụp toàn bộ móng!” Triết gằn giọng, bàn tay thô ráp sờ sâu vào khe nứt dưới mặt nước đục ngầu, nơi dòng chảy đang th*c m*nh. “Đây là đoạn ống thép xả áp tạm thời bị lệch mối hàn do dư chấn đóng cọc lúc sáng! Nước luồn qua kẽ hở làm xói lớp vữa chưa kịp ninh kết hoàn toàn. Chỉ cần bịt được họng rò của ống và khóa chân khay thì vách cống sẽ đứng vững!”
Đứng trên bờ kè cao, Lụa nghe rõ mồn một từng hiệu lệnh dứt khoát của anh. Tim cô thắt lại từng cơn khi thấy Triết trượt chân, nửa th*n d*** chìm lỉm trong dòng xoáy ngầu bọt phù sa. Nhưng nhìn đôi bàn tay gân guốc của anh bám riết lấy cọc gỗ, nhìn ngọn lửa kiên định cháy rực trong mắt anh, nỗi run rẩy trong lòng Lụa bỗng tan biến, nhường chỗ cho một sự quả quyết lạ kỳ.
“Mấy chú, mấy anh ơi! Lấy rơm khô trong chái bếp nhà em trộn với đất sét nhồi bao!” Lụa cất tiếng gọi giật giọng, âm thanh trong trẻo mà vang xa. “Bà con mình ai có rơm, có bao tải gai đem hết ra bờ đê tiếp sức cho đội công trình!”
Tiếng gọi của Lụa như một mồi lửa thổi bùng tinh thần dân làng. Ông Bảy Kiên quắc mắt, xắn tay áo bà ba chần bông xám tro nhảy tót xuống đống bao tải bên bờ: “Bà con đâu, nghe con Lụa nói hôn? Trai tráng đâu cả rồi, xuống lội sình với thằng Triết! Giữ cho bằng được cái móng cống, mất cống là mất cả vụ bưởi nghen con!”
Trong chớp mắt, một dây chuyền người sống được thiết lập dọc theo triền đê. Thành và mấy thanh niên trong xóm ôm từng bao đất sét trộn rơm nêm chặt, chuyền tay thoăn thoắt xuống cho tổ thợ. Lụa nhanh tay xé đôi những manh chiếu rách, nhúng nước bùn rồi cột chặt quanh những cây cọc tràm tươi theo đúng hướng dẫn của thợ cả để tạo độ ma sát bịt kín mạch ngầm.
Dưới lòng mương, Triết cùng ba người thợ cứng cựa nhất ghì chặt đầu bó cừ tràm, lựa đúng khoảnh khắc cửa van chính vừa hạ bớt áp lực để nêm thẳng vào miệng họng rò.
“Một… hai… ba… Đóng!”
Tiếng vồ gỗ nện chan chát lên đầu cọc vang dội cả một khúc kênh. Bùn non bắn tung tóe lên mặt, lên tóc Triết, nhưng anh không buồn chớp mắt. Mỗi nhát vồ nện xuống là một lần bó cọc lún sâu vào túi bùn, chèn chặt lấy đoạn ống rò rỉ. Hai bao đất sét dẻo quện rơm khô được ấn lút vào khe hở, lớp rọ đá nặng hàng tạ lập tức được thả chồng lên trên để khóa cứng chân khay.
Dòng xoáy ngầm dần dần thu hẹp lại. Tiếng rít “xì xì” rợn người thưa dần rồi tắt hẳn, chỉ còn lại tiếng nước ngọt va đập êm ả vào vách gỗ bọc thép. Cánh van cống phụ ngừng rung lắc, đứng sừng sững, vững chãi giữa lòng kênh như một bức tường thành kiên cố. Đoạn ống rò đã được khắc phục hoàn toàn trong gang tấc mà không làm thất thoát một tấc nước ngọt nào vào mương thoát phèn.
“Khóa được họng rò rồi! Nền móng an toàn rồi anh em ơi!”
Tiếng hò reo vang dội mặt sông. Hàng trăm con người đứng ken dày trên triền đê vỗ tay rầm rập, tiếng thở phào nhẹ nhõm như xua tan sạch bóng những âu lo đè nặng suốt nửa buổi chiều.
Lụa vội vã bước xuống những bậc tam cấp trơn trượt nơi mép bờ kè. Triết đang được hai người thợ đỡ leo lên bờ, toàn thân ướt sũng bùn sình phù sa, hàm răng va vào nhau lập cập vì ngâm nước lạnh quá lâu. Thấy cô đi tới, anh đưa tay sờ vội túi áo ngực xem chiếc kính có bị rơi mất không, rồi nở một nụ cười méo xẹo, ngượng ngùng “Anh… làm em sợ hả?”
Lụa không đáp. Cô khẽ cắn môi, đưa chiếc khăn rằn ấm áp lên lau nhẹ những vệt bùn bám trên gò má và vệt sẫm mờ nơi trán anh. Đôi bàn tay cô mềm mại mà vững chãi, hơi ấm từ lớp vải bông quen thuộc lan tỏa khiến Triết cảm thấy mọi mệt nhọc trên da thịt dường như tan biến hết.
“Bận đồ ướt mem vầy mà còn cười được,” Lụa khẽ trách, giọng rưng rưng nhưng ánh mắt ngập tràn niềm yêu thương kín đáo. “Mau lên nhà thay đồ kẻo trúng gió lạnh. Má anh đang trông đứt ruột ngoài hiên kìa.”
Triết nhìn sâu vào mắt Lụa, thấy trong đáy mắt người con gái bên bờ kênh Xanh là hình ảnh của chính mình – phong trần, lấm lem nhưng chưa bao giờ ấm áp đến thế. Anh gật đầu, siết nhẹ lấy mép khăn rằn trong tay cô rồi cùng bước lên bờ.
Khi cơn nguy biến qua đi, dòng nước ngọt lành từ sông Tiền lại tiếp tục hành trình êm ả, len lỏi sâu vào từng mạch đất của cù lao Tân Bình. Nước đỏ quạch phù sa, ấm nồng hơi thở của đất mẹ phương Nam, từ từ dâng đầy các con mương liếp, xua tan đi vị mặn chát của những ngày hạn hán khắc nghiệt.
Sáng hôm sau, ngày mười sáu tháng Giêng, cù lao bừng lên một sức sống mới lạ thường. Đi dọc theo con đường đất đỏ rợp bóng dừa nước, Lụa ngỡ như mình đang bước đi trong một bức tranh thêu sống động nhất mà cô từng thấy. Những liếp bưởi da xanh của ông Bảy Kiên hôm nào còn rũ lá, héo hon vì ngậm phèn, nay đã vươn mình đón nắng sớm. Từng phiến lá bưởi dày dặn, xanh bóng mỡ màng như vừa được gột rửa bằng thứ nước thần diệu. Đọt non mơn mởn nhú ra từ những cành khẳng khiu, và đâu đó quanh bờ liếp, những nụ hoa bưởi trắng ngần he hé nở, phả vào ngọn gió thoang thoảng một mùi hương thanh khiết, ngào ngạt đến nao lòng.
Bên gốc bưởi cổ thụ đầu vàm kênh – cái cây do chính tay người con trai đã khuất của ông Bảy Kiên vun trồng – một bàn hương án trang nghiêm đã được dựng lên tự bao giờ. Dân làng tụ họp đông đủ, ai nấy đều bận những bộ đồ tươm tất nhất.
Mâm lễ tạ ơn sông nước cù lao chẳng có gì cao lương mỹ vị, chỉ rặt những sản vật bình dị chắt chiu từ mồ hôi nước mắt: nải chuối xiêm chín vàng ươm, đĩa xôi nếp dẻo thơm lừng hạt gạo đầu mùa, mấy trái bưởi da xanh bóng bẩy đầu tiên vừa hái ngoài liếp, và một bình hoa bần trắng muốt cắm trong chiếc lọ sành cổ.
Ông Bảy Kiên đứng trước bàn thờ, chiếc áo bà ba chần bông xám tro Lụa may tặng tôn lên vóc dáng quắc thước của người cựu chiến binh già. Ông chắp tay, khói nhang nghi ngút quyện vào chòm râu bạc như cước “Kính lạy trời đất, Thành hoàng bổn cảnh, kính lạy dòng kênh Xanh chở che cho dân làng cù lao bao đời nay… Nay cống đập đã vững, dòng ngọt đã về, phèn mặn tiêu tan, cây trái lại trổ hoa đơm trái. Già xin dâng chén rượu cay tạ ơn tiền nhân khai hoang mở cõi, tạ ơn lòng người đồng lòng hiệp lực…”
Ông Bảy nghiêng chén rượu trắng, rưới một vòng xuống dòng nước phù sa đang cuộn chảy dưới chân cống. Khi quay lại nhìn dân làng, đôi mắt già nua của ông long lanh ngấn lệ. Ông bước đến nắm lấy tay Triết và Lụa, kéo hai người lại gần nhau trước sự chứng kiến của cả xóm “Bà con coi đó, công trình này dựng lên bằng mồ hôi của thằng Triết, bằng tình nghĩa của con Lụa, bằng sự đùm bọc của má thằng Triết từ Cần Thơ mang xuống cho xứ mình. Già này hôm nay thay mặt bà con tuyên bố: đám bưởi trúng mùa năm nay, già dành riêng mười cây đầu liếp ngon nhứt để làm sính lễ, đứng ra lo trọn vẹn chuyện trăm năm cho đôi trẻ này!”
Tiếng vỗ tay, tiếng reo hò rộn rã nổi lên như pháo ran. Bà Hai Nhị đứng cạnh bà Năm Búp, miệng cười tươi rói, đưa chiếc khăn tay viền đăngten chấm nhẹ khóe mắt. Người phụ nữ thị thành từng mang nhiều nỗi âu lo giờ đây nhìn Lụa bằng tất cả sự tin yêu và hãnh diện. Lụa cúi đầu, hai má ửng hồng như cánh sen đầu hạ, cảm nhận bàn tay Triết khẽ siết lấy những ngón tay mình – một cái nắm tay ấm sực, bình yên đến lạ lùng.Bữa tiệc cúng tạ ơn kéo dài đến tận trưa với những câu hò, điệu lý thân thương. Mùi cá lóc nướng trui thơm lừng quyện với vị cay nồng của ớt hiểm, đĩa rau đắng đất mọc hoang quanh bờ mương ngọt lịm trên đầu lưỡi, tất cả hòa quyện thành bản hòa ca của một cuộc sống mới đang đâm chồi nảy lộc.
Sau ngày lễ tạ ơn sông nước, nhịp sống bên hiên tiệm may Cúc Áo bước sang một trang hoàn toàn mới, rộn ràng và tươi vui hơn bao giờ hết.
Khoảng chái hiên rộng rãi lợp ngói âm dương rêu phong, nơi từng đón những cơn gió lạnh lẽo của những ngày tiệm may ế ẩm, nay được quét dọn sạch bóng. Triết cùng mấy anh em thợ mộc trong xóm đã đóng thêm ba chiếc bàn dài bằng gỗ tràm vững chãi, kê ngay ngắn dưới bóng mát rượi của rặng dừa nước.
Đó là lớp học phụ đạo chữ và văn miễn phí do Thành đứng lớp dành cho bầy trẻ nhỏ quanh xóm.
Kỳ thi tuyển sinh Đại học Sư phạm Cần Thơ còn mấy tháng nữa mới diễn ra vào mùa hè, nhưng Thành đã miệt mài dùi mài kinh sử từ trước Tết. Nhờ có Triết kèm cặp môn toán lý và gửi về cho những bộ tài liệu luyện thi quý giá từ thành phố Cần Thơ, Thành ngày càng tự tin và nắm chắc kiến thức. Tranh thủ những buổi ban ngày sau giờ tự học, cậu xin phép chị Hai tận dụng hàng hiên rợp mát để gom tụi nhỏ trong cù lao lại dạy chữ, chuẩn bị hành trang cho chúng trước khi bước vào năm học mới.
“Nào, các em đọc theo anh nghen: ‘O O tròn như quả trứng gà…’”
Giọng Thành vang lên trong trẻo, trầm ấm và đầy kiên nhẫn. Cậu thiếu niên gầy gò, từng mang mặc cảm nghèo khó ngày nào nay đã chững chạc hẳn trong chiếc áo sơ mi trắng cắm thùng, vóc dáng thư sinh toát lên vẻ đĩnh đạc của một người thầy giáo tương lai. Thành ân cần cúi xuống, cầm lấy bàn tay nhỏ thó, lấm lem phèn của thằng Tí – đứa em nhỏ của Út Mơ – nắn nót từng nét chữ trên trang vở giấy bổi đóng bìa bao xi măng.
Xung quanh chiếc bàn dài, hơn mười đứa trẻ da cháy nắng, mắt tròn xoe, chăm chú lắng nghe từng lời giảng. Những tiếng đọc bài ê a, ngọng nghịu nhưng rộn rã hòa quyện nhịp nhàng với tiếng máy may Butterfly cọt kẹt bên trong gian nhà.
Lụa đứng bên bàn cắt gỗ mít, tay cầm cây thước gỗ và viên phấn may, nhìn ra ngoài hiên mà khóe mắt cay cay. Má cô ngày xưa từng mơ ước Thành được học hành thành tài, được đứng trên bục giảng dạy chữ cho con em xóm nghèo. Lời trăng trối năm nào của má giờ đây như đang hiển hiện từng bước ngay dưới mái nhà này. Cậu em trai từng suýt phải bỏ học đi vác lúa mướn đêm nay đã biết đem con chữ gieo mầm hy vọng cho những phận đời lam lũ.
“Chị Hai, nhìn kìa, thằng Tí bữa nay viết được chữ ‘Mẹ’ ngay ngắn rồi đó!” Thành quay đầu vào trong, khoe với chị bằng nụ cười rạng rỡ như nắng ban mai.
“Giỏi dữ hôn!” Lụa mỉm cười, với tay lấy rổ bánh lá dừa bà Năm Búp mới đem cho đặt lên góc bàn học. “Mấy đứa học xong lát nữa chia nhau ăn bánh nghen.”
Lũ trẻ reo lên thích thú, tiếng cười giòn tan xua tan mọi nhọc nhằn, làm bừng sáng cả một góc bến sông.
Chỉ ít ngày sau lễ tạ ơn sông nước, vào những ngày cuối tháng Giêng năm 1992, tiệm may Cúc Áo chính thức đón nhận một bước ngoặt quan trọng: Lụa mở buổi hội thảo tập huấn và ra mắt “Tổ hợp tác Thêu May Cúc Áo xã cù lao Tân Bình”.
Từ sáng sớm tinh sương, bến đò kênh Xanh đã tấp nập tiếng mái chèo khua nước. Không chỉ có phụ nữ trong làng, mà hơn ba mươi chị em gái, các bà mẹ trẻ từ các xã lân cận bên cồn Bình Hòa Phước, cồn An Bình cũng rủ nhau chèo xuồng ba lá sang tham dự. Họ là những người phụ nữ quanh năm quen với việc dãi nắng dầm mưa ngoài đồng ruộng, đôi bàn tay chai sần vì cấy lúa, cắt cỏ, mang trong lòng niềm khao khát cháy bỏng học lấy một cái nghề thủ công để phụ giúp gia đình mà không phải dứt áo ly hương làm thuê nơi đất khách.
Gian nhà ba gian ngập tràn sắc màu và hương thơm của vải lụa mới. Trên chiếc bàn cắt dài, từng xấp lụa tơ tằm mềm như nước, lụa Tân Châu màu mỡ gà, màu xanh ngọc bích và tím lục bình được xếp ngay ngắn. Hàng trăm con chỉ thêu bóng bẩy với đủ các gam màu rực rỡ nằm gọn trong những chiếc giỏ mây đan khéo.
Lụa bước ra giữa gian nhà trong chiếc áo bà ba màu lam nhạt, cổ áo khoét hình giọt nước thanh thoát, vạt áo chít eo khéo léo tôn lên vóc dáng mảnh mai duyên dáng. Mái tóc đen nhánh được bới gọn gàng sau gáy bằng chiếc kẹp đồi mồi cũ của má, gương mặt ánh lên vẻ tự tin, cương nghị nhưng vẫn tràn đầy nét đôn hậu thân thương.
Út Mơ thoăn thoắt đi quanh các hàng ghế, phát cho mỗi chị em một khung thêu tròn bằng tre và một mảnh vải mẫu.
“Thưa các cô, các chị, các em,” Lụa cất lời, giọng nói ngọt ngào, ấm áp như rót mật vào lòng người nghe. “Tiệm may Cúc Áo của ba má em để lại xưa nay chỉ quen may đo truyền thống. Nhưng thời buổi bây giờ đã đổi khác, áo quần may sẵn từ chợ đổ về nhiều, nếu mình không chịu làm mới, không nâng niu từng đường kim mũi chỉ thì nghề may của xứ mình sẽ mai một.”
Lụa giơ cao một tà áo bà ba lụa màu trắng ngà. Trên vạt áo xẻ tà mềm mại, một chùm hoa lục bình tím biếc bung nở sống động như thể vừa được vớt lên từ dòng nước mát, từng giọt sương mai đọng trên cánh hoa được thể hiện bằng những hạt cúc bọc chỉ tơ lấp lánh “Người ta chuộng đồ chợ vì nó nhanh, nó rẻ. Nhưng chiếc áo bà ba thêu tay của chị em mình có linh hồn của đất đai, sông nước miền Tây. Mỗi nhành hoa lục bình, mỗi búp hoa bần, bông điên điển thêu trên vạt áo là tình cảm, là sự nhẫn nại của người phụ nữ Nam Bộ. Tổ hợp tác của tụi mình lập ra không phải để cạnh tranh bán buôn hơn thua, mà là để chị em mình cùng nhau nắm tay giữ nghề, cùng có thêm thu nhập nuôi con ăn học mà không phải bỏ xứ đi xa.”
Những lời gan ruột, chân chất của Lụa làm cả gian phòng lặng phắc. Những đôi mắt từng mệt mỏi vì lo toan cơm áo bỗng rực lên những tia hy vọng mới.
Lụa bắt đầu cầm khung thêu, ngồi xuống chiếc ghế đẩu giữa phòng để thị phạm. Từng động tác của cô uyển chuyển, nhẹ nhàng. Mũi kim thép nhỏ xíu luồn sợi chỉ tơ tím óng ả đâm xuyên qua thớ lụa một cách chuẩn xác, khéo léo.
“Mũi thêu hoa dại không được thêu dày cộm như thêu rồng phụng trên gấm,” Lụa vừa làm vừa giảng giải cặn kẽ. “Cánh hoa lục bình mỏng manh lắm, các chị phải dùng kỹ thuật thêu lướt vặn kết hợp với sa hạt. Luồn chỉ thật êm tay, kéo nhẹ nhàng để mặt vải không bị nhăn nhúm. Cúc áo thì mình bọc vải cùng màu, đơm thật khít để khi người bận cử động, tà áo vẫn ôm sát đáy lưng ong mà không bị hở…”
Út Mơ đứng bên cạnh, hai bím tóc len lắc lư theo từng nhịp tay, lanh lợi hướng dẫn các chị em cách xâu chỉ và căng mặt trống của khung thêu “Chị Bảy đừng sợ đâm trúng tay nghen! Hồi đầu em cũng bị kim châm chảy máu hoài, nhưng chị Lụa chỉ cho cách cầm kim bằng ba đầu ngón tay là êm ru liền hà. Ai học chăm, tuần sau thêu được tà áo hoàn chỉnh là tổ hợp tác bao tiêu sản phẩm, trả tiền công sòng phẳng ngay tại chỗ luôn đó!”
Tiếng kim chỉ rào rạt vang lên như đàn tằm ăn rỗi. Tiếng cười nói, tiếng trao đổi kinh nghiệm rộn rã khắp gian nhà. Những phụ nữ vốn rụt rè, lam lũ giờ đây say sưa uốn nắn từng đường chỉ đầu tiên, ánh mắt lấp lánh niềm tin vào một hướng đi mới bằng chính bàn tay mình.
Qua khung cửa sổ gỗ mở rộng đón gió sông, Lụa khẽ ngước mắt lên và bắt gặp bóng dáng Triết đang đứng tựa lưng ngoài hiên. Chiếc sơ mi sẫm màu đã được giặt sạch thơm mùi nắng, cặp kính cận viền đồi mồi sáng lên dưới ánh ban mai. Anh không bước vào để tránh làm gián đoạn buổi học, chỉ lặng lẽ đứng đó dõi theo cô, nơi khóe môi phảng phất nụ cười ấm áp và ánh nhìn chan chứa sự khích lệ, tin cậy. Chạm phải ánh mắt thân thương ấy, ngực Lụa khẽ rung lên một nhịp đập êm đềm, bao mỏi mệt trong người dường như tan biến hết.
Đúng lúc buổi tập huấn bước vào phần sôi nổi nhất, một chiếc xe con màu đen từ từ dừng lại bên bờ dốc dẫn vào tiệm may – một hình ảnh hiếm thấy tại vùng sông nước này.
Từ trên xe bước xuống là hai vị cán bộ lớn tuổi trong trang phục công chức chỉnh tề, đi cùng là ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện. Họ rảo bước vào hiên tiệm, ngạc nhiên thích thú ngắm nhìn lớp học chữ của Thành rồi bước thẳng vào gian hội thảo thêu may của Lụa.
Người đàn ông đi đầu – vầng trán cao, nụ cười đôn hậu, trên ngực áo cài huy hiệu của Ban phát triển Kinh tế Xã hội tỉnh – chậm rãi tiến lại gần chiếc bàn trưng bày. Ông cẩn thận nâng tà áo bà ba thêu hoa lục bình lên, ngắm nghía từng đường kim mũi chỉ tinh xảo, rồi nhìn quanh gian nhà ngập tràn khí thế lao động hăng say của mấy chục phụ nữ nông thôn.
“Tuyệt vời quá! Thật sự là một mô hình ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi!” Vị đại diện tỉnh thốt lên đầy vẻ khâm phục.
Ông quay sang nhìn Lụa, ánh mắt tràn đầy sự trân trọng “Cô Lụa này, chúng tôi theo dõi công trình cống Kênh Xanh và biết tiếng tiệm may Cúc Áo của cô đã lâu. Hôm nay trực tiếp chứng kiến quy mô và tinh thần của tổ hợp tác, chúng tôi thực sự xúc động. Vừa hay tỉnh đang chuẩn bị mở một trung tâm trưng bày sản phẩm làng nghề truyền thống và phục vụ xúc tiến thương mại tại ngay trung tâm tỉnh lỵ.”
Vị cán bộ ngừng lại một nhịp, mỉm cười nhìn sang Triết và lãnh đạo huyện, rồi đưa ra một lời đề nghị trang trọng làm cả gian nhà bỗng chốc nín thở “Tỉnh muốn mời Tổ hợp tác Thêu May Cúc Áo của cô đứng ra thành lập một chi nhánh đại diện ngay tại trung tâm tỉnh lỵ! Toàn bộ mặt bằng và thủ tục pháp lý, tỉnh sẽ tạo điều kiện hỗ trợ tối đa. Cô nghĩ sao về việc đưa tà áo bà ba thêu hoa lục bình của cù lao Tân Bình vươn xa hơn nữa?”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
