Chương 24: Bàn Tay Bô Lão

Tiếng đất nứt răng rắc dưới chân trụ cống dội thẳng vào màng nhĩ ông Bảy Kiên như tiếng vỏ trứng vỡ giữa mùa ấp dở. Mùi sình lầy tanh tao quyện với mùi cát ngậm mặn bốc lên nồng nặc. Trên bờ đê, mấy tấm phên tre vừa bị gió chướng giật tung bay phần phật, đập vào thân dừa nước nghe chan chát. Dưới mép nước, cột bê tông xám xịt nghiêng nhẹ một góc chừng nửa lóng tay, kéo theo vệt nứt mỏng như sợi tóc trên thân trụ toác dần ra, rỉ ra những giọt nước lấm tấm bùn non.

Ông Bảy Kiên không đứng chôn chân thêm một khắc nào. Cả một đời sáu mươi lăm năm nếm đủ cay đắng của từng con nước lớn ròng trên vàm sông Tiền, ông hiểu rõ cái thứ âm thanh rục rịch dưới lòng đất kia là mầm mống của sự sụp đổ. Ông quăng mạnh cây gậy tre trên tay xuống cỏ, không kịp xắn lại ống quần đã ướt sũng, nhảy ào một bước xuống bãi lầy. Bùn lạnh ngập qua bắp chân, m*t chặt lấy đôi bàn chân gân guốc.

“Triết! Đừng có đứng sững đó!” Giọng ông Bảy rền vang, lấn át cả tiếng sóng vỗ bập bềnh vào vách bao cát. “Muốn cứu cột thì phải ghì đầu, chèn chân! Thằng Thành, chạy ngược lên bến đò lấy ngay hai cuộn cáp bọc vỏ dừa của đội xáng cạp về đây! Ba Lực đâu, điều hết đám trai tráng vác cừ tràm đực ra!”

Triết giật mình choàng tỉnh sau thoáng bàng hoàng. Đôi mắt sau tròng kính cận lóe lên tia nhìn rực lửa, anh lập tức lội tới sát mép hố xói, một tay bám vào gờ ván khuôn, tay kia quờ xuống dòng nước đang cuộn xoáy dưới chân trụ. Vết bầm sẫm màu nơi vầng trán rộng của anh giần giật theo từng nhịp thở dồn dập.

“Ý ông Bảy chí lý!” Triết hét lớn, giọng đanh lại giữa tiếng gió gầm. “Nước ngầm đang rút cát mịn dưới đáy móng. Cột bị hẫng chân nên vặn mình gây nứt thân. Chúng ta phải néo đỉnh cột ngược vào hai gốc bần cổ thụ phía bờ trong để triệt tiêu lực kéo của cánh van, rồi nêm cừ tràm vát nhọn hình chữ A quanh chân trụ để giữ túi cát lại!”

Cả khúc bờ kênh như bừng tỉnh giữa cơn nguy biến. Không ai bảo ai, hàng chục bóng người lội ào xuống dòng nước đục ngầu. Thành thoăn thoắt kéo cuộn dây cáp nặng trịch từ trên bờ đê lao xuống, vạt áo ướt đẫm mồ hôi dính chặt vào sống lưng gầy. Hai đầu cáp thép bọc bao bố được luồn thật khéo qua cổ trụ bê tông, đầu kia kéo căng, chằng ba vòng siết chặt vào gốc bần xù xì bám rễ sâu cả thế kỷ bên triền đất thịt.

“Một, hai, ba… ghì!”

Tiếng ông Bảy Kiên bắt nhịp hào sảng, hai cánh tay gân guốc tr*n tr** bám chặt vào đầu đòn bẩy gỗ sao. Dân làng dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể ngả về phía sau. Sợi cáp thép căng ra kêu ken két, nước từ lớp bao bố bọc ngoài túa ra ròng ròng. Thân cột bê tông khẽ rùng mình một cái, thế nghiêng lập tức bị chặn đứng.

Nhưng hiểm họa dưới chân móng vẫn chưa dứt. Dòng nước ngầm từ lòng sông Cái dồn vào lườn cống vẫn đùn lên sùng sục, khoét rỗng dần lớp đất nền. Nhìn những bao cát thả xuống đều bị dòng xoáy cuốn trôi tuột, ông Bảy Kiên nghiến chặt hàm răng, giậm chân quát “Đổ cát rời vào lúc này chỉ tổ làm mồi cho nước cuốn! Lũ trẻ tụi bây mau bện rơm lúa mùa với đất sét dẻo thành từng lọn lớn như bắp tay, nhét chèn trước vào các kẽ rỗng, rồi mới nêm đá hộc đè lên! Rơm giữ bùn, bùn giữ cát, đá giữ cừ!”

Kinh nghiệm truyền đời của những người nông dân chuyên trị sạt lở bờ bao cù lao lập tức phát huy tác dụng. Lụa cùng chị em trong tổ thêu thoăn thoắt nhào đất sét với rơm rạ khô, vo thành từng khối dẻo quánh chuyền xuống mép cống. Triết cùng ông Bảy và mấy anh thợ lặn ngụp dưới dòng nước lạnh, dùng tay trần nhồi chặt từng búi rơm sét vào họng nước đùn, đoạn dùng vồ gỗ đóng phầm phập những cây cọc tràm đực già đanh cắm sâu vào tầng đất cứng.

Đêm đen sụp xuống vàm kênh tự bao giờ. Ngọn đuốc dầu mù u và ánh đèn măngxông đỏ quạch quét qua những gương mặt lấm lem bùn sình nhưng ánh lên quyết tâm sắt đá. Chín giờ tối, con nước đỉnh triều dâng mấp mé mặt bờ bao, sóng đánh dập dồn tung bọt trắng xóa vào phên tre. Nhưng kỳ diệu thay, dưới sự giằng giữ kiên cường của hệ thống cáp neo và vành đai cọc tràm bọc đá hộc, chân trụ cống vững như bàn thạch. Dòng nước ngầm bị bít kín, vệt sủi bọt tắt lịm, và vết nứt mỏng trên thân cột không hề toác thêm dù chỉ một phần mười milimét.

Khi con nước bắt đầu chững lại rồi từ từ hạ xuống theo nhịp ròng, cả khúc đê vỡ òa trong tiếng thở phào nhẹ nhõm. Đám thanh niên ngã vật ra triền cỏ ướt, th* d*c. Triết ngồi bệt bên chân cột cống, cả người run lên bần bật vì ngấm lạnh, nhưng khóe môi nở một nụ cười rạng rỡ. Ông Bảy Kiên bước lại gần, đặt bàn tay nặng trịch lên vai người cán bộ kỹ thuật, khẽ gật đầu mà không thốt nên lời. Đêm cù lao chìm dần vào giấc ngủ muộn màng, chỉ còn tiếng côn trùng rả rích bên bờ nước ngọt vừa được bảo toàn qua miệng tử thần.

Trưa hôm sau, cái nắng chang chang của mùa gió chướng đổ lửa xuống triền đê Kênh Xanh. Mặc dù mối nguy sập trụ trong đêm đã tạm qua đi, nhưng công việc gia cố toàn diện thân cống, trám vữa chuyên dụng vào vết nứt và dựng hệ thống đê phụ giảm áp lực vẫn còn ngổn ngang trăm mối. Sau một đêm thức trắng đánh vật với thủy thần, bà con trong xóm ai nấy đều bơ phờ, mắt trũng sâu, đôi vai rã rời vì khuân vác đá tảng. Không khí trên công trường có phần chùng xuống, nặng nề như mặt nước kênh lúc đứng trưa.

Ngồi trên bờ đất nhìn quanh một lượt, ông Bảy Kiên hiểu rằng sức người có hạn, nếu không kịp thời xốc lại tinh thần thì chỉ cần một đợt triều cường nữa ập tới, mọi nỗ lực sẽ đổ sông đổ biển. Ông đứng dậy, phủi lớp đất khô bám trên ống quần, cất giọng sang sảng “Bà Năm Búp ơi! Mấy thím mấy cô trong xóm đâu rồi? Mau bắc cái chảo gang bự lên góc hiên trạm khảo sát giùm tôi! Bữa nay làng mình ăn chung một bữa cơm giữa đồng, đứa nào có con cá, cọng rau, củ khoai thì đem hết ra đây!”

Tiếng gọi của ông lão bô lão như một luồng gió mát thổi qua khúc kênh đang oi nồng. Bà Năm Búp đang ngồi quạt than bên chòi lập tức đon đả đáp lời, miệng nhai trầu đỏ thắm: “Dạ có liền ông Bảy ơi! Sáng nay ghe cào ghé vàm, tui gom được một rổ cá rô mề với mớ bông súng tươi rói đây nè!”

Chính tay ông Bảy Kiên xắn tay áo, lội ra mương vườn bưởi gần đó nhổ mấy bụi ngò gai, ngắt nắm lá me non mang về. Chẳng mấy chốc, một góc bờ đê rộn rã hẳn lên. Phụ nữ trong xóm tụ họp lại, người vo gạo, người nhóm lửa, tiếng dao thớt băm chặt lách cách hòa cùng tiếng cười nói râm ran. Mấy cái chiếu manh rách được trải ngay trên bãi cỏ râm mát dưới bóng rặng dừa nước.

Mâm cơm dã chiến dọn ra thơm lừng góc kênh: nồi canh chua cá rô đồng nấu bông súng nghi ngút khói, đĩa cá sặc kho quẹt đậm đà mỡ hành tiêu sọ cháy cạnh vàng ươm, kèm rổ đọt nhãn lồng, rau đắng đất mọc hoang ven bờ. Không mâm cao cỗ đầy, không chén bát kiểu cách, chỉ có những bát cơm đầy vun chan nước canh chua ngọt thanh mát.

Ông Bảy Kiên đứng đầu chiếu, hai tay bưng chén cơm nóng, ánh mắt đôn hậu nhìn khắp lượt những gương mặt thân thương đang quây quần: từ cánh trai tráng Ba Lực, thằng Thành thủ khoa sư phạm, cho đến các chị em tổ thêu của Lụa và đội ngũ cán bộ công trình.

“Bà con mình nghe tôi nói đôi câu,” giọng ông Bảy trầm ấm, vang vọng chân thành. “Vùng đất cù lao Tân Bình này, bao đời nay ông bà mình cắm câu, lập vườn đều nhờ dòng phù sa của trời đất. Mấy tháng nay con nước mặn tràn vào làm cháy lá bưởi, nghẽn đường sinh nhai, cả làng mình như ngồi trên đống lửa. Đêm qua, nếu không có cái đầu tính toán của chú Triết, không có đôi tay của từng đứa tụi bây nhảy xuống ôm cột cống, thì sáng nay nước mặn đã l**m sạch tới tận ngọn cây sau vườn rồi.”

Ông ngừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn Triết đang ngồi cạnh Thành, rồi nhìn sang Lụa “Cái cây muốn đứng vững qua giông bão thì rễ phải bám chặt lấy đất. Làng mình muốn giữ được dòng nước ngọt thì lòng người phải quấn quýt lấy nhau. Hột cơm này là mồ hôi của đất, con cá này là ân huệ của sông. Ăn một bữa cơm chung để nhớ rằng hoạn nạn có nhau, chia ngọt sẻ bùi. Dù lát nữa có phải vác thêm ngàn bao đá, đào thêm trăm thước mương, bà con cù lao mình cũng quyết không lùi một bước!”

“Đúng rồi! Quyết giữ cống tới cùng ông Bảy ơi!” Tiếng anh Ba Lực hô to, kéo theo tràng pháo tay rộn rã khắp bờ đê. Mọi mệt mỏi, uể oải dường như tan biến theo làn khói bếp bảng lảng trên mặt kênh. Bữa cơm trưa chan hòa tiếng cười nói, người múc cho người kia muỗng canh, kẻ gắp cho bạn miếng cá kho. Nhìn bà con húp từng ngụm nước canh ngon lành, ánh mắt ông Bảy ánh lên niềm kiêu hãnh và xúc động khôn xiết.

Sau bữa cơm trưa rộn rã, khi cánh thợ thuyền tranh thủ ngả lưng chợp mắt dưới những tán dừa nước rì rào, bà Hai Nhị từ trạm chỉ huy chậm rãi bước ra mép đê.

Bà bận chiếc áo bà ba bằng lụa màu hạt dẻ sang trọng nhưng chân đi đôi dép nhựa giản dị, chiếc nón lá cầm hờ trên tay. Trải qua những ngày cùng ăn, cùng lo với dân làng, nét đài các, xa cách của một phu nhân chốn thị thành Cần Thơ đã nhường chỗ cho vẻ đôn hậu, trầm tĩnh của một người mẹ từng trải. Bà bước đến chiếc ghế gỗ đặt dưới bóng râm rặng tràm, nơi ông Bảy Kiên đang ngồi vấn điếu thuốc rê.

“Bác Bảy cho tôi ngồi nhờ bóng mát một lát nghen,” bà Hai Nhị cất tiếng chào nhẹ nhàng.

Ông Bảy Kiên vội vã dụi điếu thuốc vào vỏ ốc bươu, cười xởi lởi: “Kìa, bà Hai cứ tự nhiên. Mấy bữa rày nhờ có giàn máy bơm công suất lớn của bà tài trợ mà nước rỉ trong hố móng được hút cạn trơn, công việc mới trôi chảy được vậy đó.”

Bà Hai Nhị khẽ lắc đầu, ánh mắt hướng về phía chiếc lán dựng tạm, nơi Triết đang ngồi trên chiếc phản gỗ, cúi đầu thảo luận phương án kỹ thuật với kỹ sư Hoàng. Gương mặt Triết gầy rộc đi, nước da trắng trẻo ngày nào giờ đã nhuộm màu nắng gió sông nước, và trên vầng trán vẫn còn in rõ vết bầm tím sau cú ngã xuống hố móng bữa trước.

“Thấy nó vất vả, thân làm mẹ như tôi ruột gan xót xa lắm bác Bảy à,” giọng bà Hai Nhị chùng xuống, phảng phất nỗi niềm sâu kín. “Hồi nó nằng nặc từ chối suất đi nước ngoài, nằng nặc xin về cái cù lao heo hút này, tôi giận đến nỗi mấy tháng trời không thèm nhìn mặt. Tôi cứ nghĩ con mình học hành đỗ đạt ở thành phố lớn, phải ngồi phòng giấy mát mẻ, việc gì phải đâm đầu vào chốn bùn lầy nước đọng, ăn bờ ngủ bụi cho khổ thân.”

Bà đưa tay vuốt lại lọn tóc mai bị gió thổi bay, khóe môi khẽ nở một nụ cười bao dung “Nhưng về đây tận mắt chứng kiến đêm qua nó liều mình bảo vệ công trình, nhìn bà con cả làng tin tưởng, xúm lại cứu nó như con em ruột thịt trong nhà, tôi mới giật mình hiểu ra. Thằng Triết nó chọn đúng con đường rồi bác ạ. Hạnh phúc của một đứa làm công trình không phải là những tấm bằng khen nằm trên bàn giấy, mà là được thấy dòng nước ngọt chảy qua liếp vườn của bà con.”Ông Bảy Kiên gật gù, lòng dạ cảm phục sự thấu hiểu sâu sắc của người mẹ: “Bà Hai nói phải lắm. Chú Triết nó có cái tâm sáng như trăng rằm, dân cù lao chúng tôi mang ơn chú ấy nhiều đời không hết.”

Bà Hai Nhị quay sang nhìn ông Bảy, ánh mắt trở nên ấm áp lạ kỳ “Còn một chuyện này nữa, tôi muốn thưa thiệt với bác Bảy. Mấy ngày tôi ở trạm xá chăm thằng Triết, rồi dọn về tiệm may Cúc Áo tá túc, tôi đã nhìn thấy hết nết ăn, nết ở của con Lụa. Cái con bé mồ côi mà sao ngoan ngoãn, tháo vát, bụng dạ lại trong sáng đến nhường ấy. Lúc thằng Triết sốt mê man sau trận ngâm bùn, con Lụa nó thức trắng hai đêm liền, giã từng củ gừng tươi xoa bóp tay chân cho thằng nhỏ, nấu từng muỗng cháo lá tía tô thổi nguội rồi mới đút cho nó ăn. Ánh mắt con bé nhìn thằng Triết lo lắng đến thắt ruột, không một chút tính toán so đo.”

Bà Hai Nhị nắm nhẹ bàn tay gầy của mình lại, giọng nói đầy xúc động và quả quyết “Người thành phố hay câu nệ chuyện môn đăng hộ đối, nhưng với tôi bây giờ, tìm được một người con gái vừa nết na, vừa biết thương chồng thương dân như con Lụa là phúc phận lớn của gia đình tôi. Tôi đã nói chuyện riêng với thằng Triết rồi. Đợi đợt hạn mặn này qua đi, cống Kênh Xanh hoàn thành đâu ra đấy, tôi sẽ mang trầu cau sang tiệm Cúc Áo làm lễ dạm ngõ đàng hoàng cho hai đứa. Mong bác Bảy là bậc bô lão trong làng đứng ra làm chủ hôn giùm tụi nó nghen bác!”

Nghe những lời ruột gan ấy, ông Bảy Kiên thấy lồng ngực mình ấm sực lên như vừa uống một hớp rượu nếp nồng. Ông cười khà khà, chòm râu bạc rung rinh: “Chèn ơi, nghe bà Hai nói câu này tôi mừng rớt nước mắt! Hai đứa nó đẹp đôi vừa lứa, tâm đầu ý hợp như cá với nước. Bà Hai cứ yên tâm, chuyện đại sự của tụi nó, già này xin đứng ra lo liệu từ đầu tới cuối!”

Đúng lúc ấy, từ phía rặng bần ven lối đi dẫn ra tiệm may Cúc Áo, một bóng áo bà ba màu lam quen thuộc nhẹ nhàng bước tới. Lụa đi tới mép đê, trên tay ôm một bọc đồ được gói ghém cẩn thận trong tấm vải dù sạch sẽ. Thấy ông Bảy và bà Hai Nhị đang ngồi trò chuyện, cô khẽ dừng bước, gương mặt ửng hồng e ấp rồi cất tiếng dạ thưa “Dạ, con chào bà Hai, con chào ông Bảy.”

Bà Hai Nhị mỉm cười đôn hậu, đứng dậy vỗ nhẹ lên vai Lụa: “Hai bác cháu cứ nói chuyện đi nghen, tôi qua xem thằng Triết nó phác thảo lại mặt bằng cống phụ đây.”

Đợi bà Hai Nhị đi khuất, Lụa mới rụt rè bước lại gần chiếc ghế tre, ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện ông Bảy Kiên. Cô mở bọc vải dù ra, để lộ một chiếc áo bà ba chần bông dày dặn, màu xám tro nền nã. Từng đường kim mũi chỉ chần ô quả trám thẳng tắp, đều đặn như hạt bắp phơi nong. Lớp bông gòn thiên nhiên bên trong được vỗ tơi xốp, mềm mại và thơm mùi nắng mới. Hàng cúc bọc vải cùng màu được kết ngay ngắn, tinh xảo dọc theo nẹp áo.

Lụa nâng chiếc áo bằng cả hai tay, giọng cô run run đầy vẻ kính trọng “Ông Bảy ơi… Đêm qua con thấy ông dầm mình dưới bùn lạnh mấy tiếng đồng hồ, lưng còng xuống vì đỡ đòn bẩy. Con nhớ hồi tía con còn sống, cứ hễ trở gió chướng là hai bên bả vai với thắt lưng lại đau nhức buốt xương. Con… con biết mấy bữa nữa là tới ngày giỗ anh Hai rồi. Suốt tuần qua, con tranh thủ những lúc vãn việc thêu áo hội diễn, thức đêm dồn hết số bông gòn tốt nhất của tiệm để may chiếc áo chần bông này biếu ông.”

Cô ngước lên, đôi mắt đen láy đong đầy tình cảm chân phương “Chiếc áo này con may vạt rộng hơn một phân, chần bông dày ở sau lưng để ông mặc mỗi khi ra đê canh nước lúc đêm hôm cho đỡ lạnh ngực, ấm lưng. Con mong ông nhận tấm lòng thảo của chị em con…”

Ông Bảy Kiên ngồi chết lặng. Đôi bàn tay chai sạn, đầy những vết sẹo của những năm tháng vật lộn với sóng gió khẽ run rẩy vươn ra, chạm vào mặt vải mịn màng. Hơi ấm từ lớp bông gòn như thấm qua từng đầu ngón tay, lan tỏa thẳng vào sâu thẳm lồng ngực già nua.

Tiếng 'anh Hai' mà con Lụa vừa nhắc tới chính là thằng Kiên – người con trai cả của ông. Ký ức đau đớn của mùa lũ năm 1978 bỗng dội về như một cơn lốc xoáy. Năm ấy, thằng Kiên hăm hở vác cuốc đi đắp đập thủy nông ngăn lũ ở vàm sông, rồi một chiều mưa bão tầm tã, bờ đất bất ngờ sạt lở vùi lấp nó dưới lòng bùn sâu. Mấy chục năm ròng rã, nỗi đau mất con biến thành vết thương mưng mủ không bao giờ lành, biến ông thành một kẻ gàn dở, cay nghiệt, thù ghét tất cả những bản vẽ, những khối bê tông sắt thép của các kỹ sư thành phố đưa về cù lao. Ông từng sợ rằng những công trình đào đắp sẽ lại một lần nữa cướp đi sinh mạng của những đứa trẻ vô tội.

Nhưng giờ đây, nhìn chiếc áo chần bông ấm áp được chắp nối bằng từng đường kim mũi chỉ tỉ mỉ của cô gái mồ côi hiền thục, nhìn Triết – người cán bộ trẻ sẵn sàng nhảy xuống hố xoáy bùn để cứu lấy cống nước của làng mà không màng sống chết, vết sẹo cay đắng bao năm qua trong lòng ông Bảy bỗng chốc tan biến như làn sương sớm gặp nắng mai.

Một giọt nước mắt già nua trượt dài trên gò má nhăn nheo, rơi xuống mặt vải xám tro. Ông Bảy Kiên vội đưa mu bàn tay quệt ngang mắt, giọng nghẹn ngào “Con Lụa… Mày chu đáo quá con ơi. Tía má mày dưới suối vàng chắc ngậm cười mãn nguyện vì có đứa con gái thơm thảo như mày. Cái áo này… ấm lắm con à, ấm từ ngoài da vào tới tận trong tim già này rồi…”

Nhìn khóe mắt con bé rưng rưng mà rạng rỡ nét thảo thơm, lòng dạ ông Bảy ấm sực lại khôn cùng. Tình làng nghĩa xóm, sự gắn kết keo sơn của những con người cùng chung dòng máu đất phù sa đã xóa nhòa đi mọi khoảng cách, mọi vết thương của quá khứ.

Đến buổi chiều tà, công trường cống Kênh Xanh bước vào những công đoạn gia cố cuối cùng với một khí thế hừng hực. Hỗn hợp vữa xi măng mác cao trộn với phụ gia đông kết nhanh do bà Hai Nhị tiếp tế được thợ bơm áp lực trám sâu vào từng kẽ nứt li ti trên thân trụ cống. Những tấm đai thép bản rộng được công nhân siết chặt quanh cột bê tông bằng bulông cỡ lớn, tạo thành một khung xương bọc ngoài vững chãi. Toàn bộ hàng cọc cừ tràm quanh chân móng được liên kết giằng chéo bằng những thanh gỗ sao to bản, khóa chặt tầng bùn cát đáy kênh.

Năm giờ chiều, Triết cho vận hành thử nghiệm việc nâng hạ cánh van thép lớn. Tiếng bánh răng xích quay đều êm ru, cánh van từ từ hạ xuống khít rịt vào ngưỡng cống, không còn một tiếng rít hay rung lắc nào. Mặt nước mặn ngoài sông lớn gầm gào vỗ vào cửa van nhưng bên trong lòng cống vẫn khô ráo, tĩnh lặng. Trụ cống đứng sừng sững, vững chãi như một pháo đài thép ngăn cách giữa sự sống của cù lao và hiểm họa biển khơi. Cống Kênh Xanh đã hoàn toàn an toàn!

Tiếng reo hò rộn rã của bà con vang dậy cả một khúc sông. Thành ôm chầm lấy Triết, Lụa đứng cạnh bên mỉm cười rạng rỡ, còn ông Bảy Kiên trong chiếc áo chần bông mới tinh đứng trên đỉnh đê, chòm râu bạc rung rinh trong gió chiều đầy vẻ kiêu hãnh.

Thế nhưng, giữa lúc niềm vui vừa chớm nở trọn vẹn, tiếng máy nổ đuôi tôm xé toạc không gian tĩnh lặng ven bờ. Một chiếc ghe máy từ phía thị xã lao vun vút vào bến trạm, rẽ sóng trắng xóa hai bên mạn.

Đồng chí cán bộ phòng Thủy lợi huyện nhảy vội lên cầu tàu, bước chân dồn dập, gương mặt tái nhợt và hớt hải khác thường. Trên tay anh cầm một phong bì công văn hỏa tốc có đóng dấu đỏ chót. Anh chạy thẳng lên trạm chỉ huy, thở không ra hơi “Anh Triết đâu rồi! Có công điện khẩn từ Ủy ban tỉnh và Sở Nông nghiệp!”

Mọi tiếng cười nói trên triền đê bỗng chốc im bặt. Triết vội bước tới, đỡ lấy tập hồ sơ dày cộp. Ông Bảy Kiên cùng Thành và Lụa cũng vội vã tiến lại gần, linh tính báo cho ông biết một điều chẳng lành đang ập đến.

Triết lật nhanh những trang công văn, đôi mày anh nhíu chặt lại, sắc mặt dần biến đổi từ ngỡ ngàng sang bàng hoàng tột độ. Bàn tay anh siết chặt mép giấy đến mức nhăn nhúm.

“Có chuyện gì vậy chú Triết?” Ông Bảy Kiên sốt ruột hỏi, giọng run lên.

Triết ngẩng đầu lên, ánh mắt chất chứa nỗi âu lo tột cùng nhìn khắp lượt bà con đang đứng nín thở quanh mình “Tỉnh vừa có quyết định điều chỉnh ngân sách khẩn cấp… Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và yêu cầu tập trung vốn cho tuyến đê biển quốc gia phòng chống bão số 5, toàn bộ các dự án thủy lợi cấp huyện đều bị rà soát cắt giảm… Cống Kênh Xanh của mình… bị cắt giảm hơn một nửa kinh phí đợt cuối. Toàn bộ vật tư lắp đặt hệ thống âu thuyền và kênh dẫn ngọt nhánh phụ… có nguy cơ bị đình chỉ vô thời hạn!”

Lời nói của Triết rơi xuống bờ kênh như một tiếng sét xé toạc bầu trời chiều. Cả xóm cù lao chết lặng trong sự bàng hoàng. Cột cống vừa thoát khỏi bàn tay tử thần của con nước ngầm, nay lại đứng trước nguy cơ trở thành một công trình dở dang, phơi mình bất lực giữa mùa hạn mặn khốc liệt. Ông Bảy Kiên đứng sững trên triền đê, ánh mắt đau đớn nhìn về phía dòng kênh thăm thẳm, nơi gió chướng bắt đầu rít lên từng hồi lạnh buốt qua rặng dừa nước đang oằn mình.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.