Chương 20: Dầm Mình Giữa Dòng Bùn Sụt Lún
Khối đất thịt dưới đế giày bảo hộ của Triết hụt bẫng đi trong tích tắc, tựa như một tấm chiếu rách bị ai đó thô bạo giật phăng khỏi mặt sàn.
Tiếng nổ rền “ẦM!” vang lên từ sâu thẳm lòng đất không phải là tiếng sấm rạch trời, mà là thanh âm ghê rợn của túi bùn ngầm bị bục vỡ dưới áp lực ngàn cân của con nước lớn. Đất đá, rễ dừa nước mục và những mảng taluy dài cả chục thước rùng rùng tuôn trút xuống như thác đổ. Trong chớp mắt ngả nghiêng ấy, giữa muôn ngàn tiếng la ó thất thanh và tiếng gầm rú của dòng nước mặn đang chực chờ nuốt chửng công trình, Triết nghe rõ mồn một tiếng thét xé ruột của Lụa vọng xuống từ triền đê lộng gió. Tiếng thét ấy giáng thẳng vào lồng ngực anh, đau nhói như một vết dao cứa, xua tan ngay lập tức cơn choáng váng vừa chớm nở.
Bằng phản xạ sinh tồn được tôi luyện qua những năm tháng lăn lộn khắp các công trường sông nước, Triết không nhảy lùi về phía sau – nơi lớp đất đang rạn nứt hàm ếch cực kỳ nguy hiểm. Anh nghiêng người, nương theo đà trượt của mảng đất lở, co gối trượt dài chừng hai thước rồi tung người bám chặt lấy một thân cọc tiêu bằng gỗ mù u cắm sâu ở mép bệ phản áp.
Bùn nhão bắn tung tóe lên mặt, lọt cả vào khóe mắt xót buốt, nhưng hai bàn tay anh vẫn siết chặt lấy thân gỗ như gọng kìm.
“Anh Triết ơi! Coi chừng!”
Tiếng kỹ sư Hoàng gào lên từ góc vách phía Đông, giọng lạc đi giữa tiếng đất lở ầm ào. Trước mắt Triết, cảnh tượng bày ra hoang tàn đến nghẹt thở. Cả một góc vách phía Tây của hố móng cống chính – yết hầu của toàn bộ đồ án ngăn mặn – đã sụp đổ hoàn toàn. Túi bùn lỏng ngầm tích tụ bao đời dưới đáy lòng kênh, nay gặp con nước mặn đầu mùa đẩy xiết từ sông Cái vào, đã bục tung một lỗ hổng đường kính gần hai thước. Dòng nước mặn đục ngầu, sủi bọt trắng xóa đang cuồn cuộn đùn lên từ đáy vực sâu, mang theo thứ mùi bùn tanh nồng và vị mặn chát của biển khơi.
Dòng nước ngầm hung hãn xé toạc lớp bạt chắn địa kỹ thuật mỏng manh, cuốn phăng hàng chục cọc cừ tràm mới gia cố buổi sáng. Từng thân tràm dài bốn năm thước bị dòng xoáy nhấc bổng lên như những que tăm, va đập loảng xoảng vào giàn giáo sắt rồi trôi tuột về phía lòng hố sâu.
“Sập hết rồi! Bờ bao vỡ tới nơi rồi!”
“Chạy đi anh em ơi! Ở lại đất nó vùi chết tươi bây giờ!”
Mấy người thợ đào đất địa phương hoảng loạn vứt cuốc xẻng, mặt cắt không còn hột máu, xô đẩy nhau trèo tháo thân lên triền dốc taluy còn sót lại. Kỹ sư Hoàng cũng cuống cuồng lùi bước, hai tay ôm khư khư tập tài liệu đo đạc đã ướt sũng bùn đất, vừa lùi vừa ngoái đầu hét lớn “Triết! Lên bờ mau! Mạch nước ngầm này áp lực lớn quá, bệ móng giữ không nổi đâu! Rút quân thôi, để nó sập hết rồi tính sau!”
“Không được chạy!”
Triết hét lên, thanh âm đanh thép đến mức át cả tiếng nước gầm gào. Anh trèo ngược lên bệ phản áp, hai chân đứng vững chãi giữa lớp bùn nhão nhoét ngập đến bắp chuối. Đôi mắt sau tròng kính lấm lem bùn đất quắc lên tia nhìn cương nghị đến run rẫy “Hoàng! Đứng lại! Bà con thợ thuyền nghe tôi nói đây! Ai cũng không được bỏ chạy! Hố móng này mà trôi, túi bùn sẽ ngoạm đứt toàn bộ chân đê quai trong vòng nửa tiếng đồng hồ nữa! Con nước mặn bốn phần ngàn ngoài vàm đang lên tới đỉnh triều, nếu để nó tràn qua cửa cống này lọt vào kênh Xanh, toàn bộ mấy ngàn mẫu vườn bưởi, ruộng lúa của cù lao Tân Bình coi như chết đứng, mùa này trắng tay hết! Mồ hôi nước mắt của cả làng đổ xuống đây mấy tháng trời, mấy người cam tâm nhìn nó trôi ra biển sao?”
Lời nói như sấm sét của chàng kỹ sư trẻ ghim chặt vào không gian oi nồng, khiến bước chân hoảng loạn của những người thợ khựng lại. Họ nhìn nhau, rồi nhìn trân trân xuống vực bùn sủi bọt đang gầm réo. Nỗi sợ hãi cái chết giằng xé với nỗi xót xa mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Vườn bưởi da xanh đang kỳ ra hoa, những liếp cam sành trĩu quả của gia đình họ nằm ngay sau con đê mong manh này.
Triết không chần chừ thêm một giây nào. Với một kỹ sư công trình, từng khoảnh khắc chần chừ lúc này đều phải trả giá bằng sự sụp đổ dây chuyền của toàn bộ kết cấu.
Anh lao tới đống vật tư dự phòng bên mố cầu tạm, chộp lấy cuộn dây thừng bện bằng xơ dừa to bằng cổ tay. Một đầu dây, Triết quấn chặt ba vòng quanh một cụm cọc cừ đôi cắm sâu vào vách đá ngầm; đầu còn lại, anh thắt nút số tám chuyên dụng, siết chặt quanh ngang hông mình.
“Hoàng! Cầm lấy đầu dây giằng này! Giữ cho chắc!” Triết ném mối nối cho Hoàng, giọng dứt khoát như lệnh phát ra giữa trận tiền. “Mấy anh ai sợ thì đứng trên bờ tiếp ứng, chuẩn bị cọc tràm với bao cát! Tôi xuống đáy bịt mạch đùn!”
“Triết! Cậu điên rồi! Dưới đó là bùn lỏng ngập ngang ngực, nó hút cậu xuống đáy sông bây giờ!” Hoàng hốt hoảng kêu lên, hai tay run rẩy nắm lấy sợi thừng.
Triết không đáp. Anh quay mặt về phía triền đê cao ngất.
Ở nơi ấy, Lụa đang đứng bám chặt lấy cọc tiêu. Ánh mắt cô nhìn xoáy vào anh, đôi mắt mở to ngập tràn kinh hãi nhưng không hề có sự ngăn cản yếu mềm. Khi bốn mắt chạm nhau qua làn khói bụi và hơi nước mịt mù, Triết nhìn thấy Lụa khẽ cắn chặt môi, hai bàn tay đan chặt trước ngực như thầm cầu nguyện trời phật che chở cho anh. Ánh nhìn ấy như rót vào tim anh một ngọn lửa nóng rực, thiêu đốt mọi nỗi do dự đời thường.
Triết hít một hơi lồng ngực đầy mùi bùn phèn cay nồng, rồi buông mình nhảy thẳng xuống hố móng.
“ÙM!”
Dòng nước mặn và bùn quánh lạnh buốt lập tức ập tới, táp mạnh vào mặt, vào cổ anh. Bùn lỏng ngập sâu đến tận ngực. Cảm giác nhớp nháp, nặng trịch tựa như hàng chục cánh tay vô hình dưới đáy sâu đang cố sức níu kéo thân thể anh chìm nghỉm vào bóng tối. Từng vết xước do dăm gỗ cào rách da thịt trong những ngày lăn lộn trên công trường nay gặp nước mặn chát lập tức rát bỏng như bị than hồng dí vào.
Dòng xoáy ngầm cuộn tròn ngay dưới bụng Triết. Áp lực của túi nước ngầm đẩy bùn và cát mịn xối xả đùn lên, tạo thành một miệng phễu tử thần đang gặm nhấm chân vách đất taluy.
“Cọc tràm! Thả cọc tràm loại sáu phân xuống đây cho tôi! Mau lên!” Triết gào lên giữa những đợt sóng bùn chồm qua cằm.
Anh dùng hết sức bình sinh ghì chặt hai chân vào lớp đất sét dẻo phía dưới, lần mò bằng đôi bàn tay trần trong dòng nước đục ngầu để xác định tim mạch đùn. Bùn cát chà xát vào lòng bàn tay, rách toạc da thịt, máu ứa ra hòa tan ngay vào dòng nước mặn. Nhưng Triết không thấy đau. Trong đầu anh lúc này chỉ có những biểu đồ địa chất, những phương trình thủy lực về cân bằng áp lực đáy móng. Nếu không tạo được một lớp màng lọc ngược để chặn cát và giảm áp, khối đất taluy bên trên sẽ sụp đổ hoàn toàn trong chốc lát!
Bỗng nhiên, từ trên bờ đê vang lên một tiếng quát sang sảng như chuông đồng “Tổ cha tụi bây! Một thằng cán bộ thành phố trói gà không chặt mà nó dám nhảy xuống bùn cứu đất cù lao, tụi bây râu ria xồm xoàm, ăn cơm đất này mà đứng ngó hay sao hả?”
Một bóng người cao lớn, mái tóc bạc phơ như cước lao vụt qua đám đông. Chiếc khăn rằn trên cổ bay phần phật, vạt áo bà ba đen ướt đẫm mồ hôi. Đó là ông Bảy Kiên!
Lão nông sáu mươi lăm tuổi, người từng căm ghét những công trình đắp đập ngăn sông vì vết thương lòng mất con, nay không một chút đắn đo, nhảy thẳng xuống mép hố bùn! Tiếng nước bắn tung tóe khi đôi chân trần gân guốc của ông đạp mạnh vào dòng nước xoáy.
“Bác Bảy! Nguy hiểm lắm, bác lên bờ đi!” Triết hoảng hốt kêu lên, cố dằn giọng giữa tiếng nước sôi sùng sục.
“Câm cái miệng lại mà thở đi con!” Ông Bảy Kiên gầm lên, hai tay túm lấy một thân cọc tràm vừa trôi dạt tới, dùng bờ vai vạm vỡ ghì chặt lấy nó, chặn ngang mép nước cuộn. “Mày coi thường cái mạng già này của tao hả Triết? Năm xưa thằng Hai tao chết vì lở đê, tao hận cái đê một, tao thương mảnh đất này mười! Tao không để mày chết trôi dưới lòng kênh Xanh này đâu con!”
Lời thốt ra từ gan ruột của người cha già mất con như một hồi kèn xung trận làm thức tỉnh toàn bộ xóm bãi.
“Anh em ơi! Nhảy xuống tiếp sức với thầy Triết với bác Bảy!”
“Bà con ơi, cứu cống Kênh Xanh!”
Tiếng hô vang dậy cả khúc sông. Năm người, mười người, rồi cả ba chục thanh niên trai tráng của cù lao Tân Bình cởi phăng áo ngoài, nối đuôi nhau nhảy ào ào xuống dòng bùn nhão. Họ ken đặc thành một bức tường người vững chãi, giăng ngang trước vách taluy đang sạt lở.
Trên triền đê, Lụa không đứng khóc. Đôi mắt cô rực sáng một niềm tin mãnh liệt. Cô quay sang hét lớn với những người phụ nữ và người già đang đứng ngơ ngác “Dì Năm! Mấy chị ơi! Chạy ra bãi vật tư khiêng bao cát! Các mẹ chạy vào xóm gom hết rơm bện với bao bố tời mang ra đây mau! Mau lên, rơm bện mới chặn được cát trôi!”
Cả cù lao Tân Bình như bừng tỉnh giữa một cơn đại hồng thủy. Không còn ranh giới giữa dân làng và cán bộ công trường, không còn ai đo đo đếm đếm công xá hay sự hiềm khích năm cũ. Hàng trăm con người lập thành một dây chuyền sống động kéo dài từ bãi tập kết vật tư xuống tận lòng hố móng. Từng bao tải cát nặng trĩu, từng bó cọc tràm tươi rói, từng cuộn rơm rạ khô bện chặt được chuyền tay thoăn thoắt qua những bàn tay thô ráp lấm lem bùn đất.
Dưới đáy bùn sâu ngập ngang ngực, Triết trở thành linh hồn của cuộc chiến.“Bác Bảy! Đè bó rơm bện này xuống ngay tâm mạch rò! Đúng rồi, đè chặt lại! Cát hạt mịn sẽ bị rơm giữ lại, chỉ cho nước trong thoát ra thôi!” Triết vừa thở hổn hển vừa chỉ đạo. “Hoàng ơi! Chuyền bao cát xuống đây! Xếp bao cát thành hình vành khăn quanh miệng hố, tạo một bờ quai phản áp! Mau lên, phải cân bằng lại cột nước ngầm!”
Đôi bàn tay Triết tứa máu, những ngón tay cào bới trong bùn nhuyễn lạnh buốt đã bắt đầu tê dại, mất hết cảm giác. Cứ mỗi lần một mảng đất taluy bên trên rung rinh chực trượt xuống, Triết lại gồng mình, dùng cả tấm lưng trần đè vào thân cọc văng bằng gỗ mù u để chịu lực. Đất đá sạt trúng vai, cào xước cả một mảng da thịt sau lưng, máu tưa ra đỏ ối trên nền da rám nắng, nhưng anh không hề hé răng kêu một tiếng. Anh biết, nếu anh lùi bước một phân, bức tường người phía sau sẽ tan vỡ.
Hoàng đã quăng tập bản vẽ từ lúc nào, lội bùn bì bõm cạnh Triết, hai tay khuân từng tảng đá hộc lớn chèn vào chân cọc giằng. Mặt Hoàng tái mét vì ngâm nước lâu, nhưng ánh mắt đã ánh lên ngọn lửa kiên cường chưa từng thấy.
Mặt trời đứng bóng dần trôi về phía Tây. Nắng trưa gay gắt như thiêu như đốt nhường chỗ cho ráng chiều đỏ quạch như máu đổ trên dòng kênh Xanh. Rồi bóng tối lạnh lẽo của màn đêm buông xuống, phủ trùm lên công trường đang ngập trong bùn đất và sự sống chết cận kề.
Nước triều sông Cái bắt đầu dâng cao trở lại. Đây là đỉnh triều thứ hai trong ngày, cũng là thời khắc thử thách sinh tử đối với công trình.
Gió chướng từ cửa sông thổi vào lồng lộng, mang theo hơi lạnh buốt giá và vị mặn khô khốc xát vào da thịt trầy trụa của những con người đang ngâm mình dưới đáy bùn. Toàn thân Triết đã tím tái đi vì lạnh và kiệt sức. Cơn sốt do nhiễm lạnh và nhiễm trùng vết thương bắt đầu âm ỉ bốc lên sau gáy, làm đầu óc anh chao đảo, mắt hoa lên từng chập. Nhưng đôi chân anh vẫn cắm chặt dưới bùn như một chiếc cọc sắt, đôi tay vẫn siết chặt sợi dây giềng điều phối việc đóng các thanh cọc chống chéo.
Trên bờ đê, những ngọn đuốc làm bằng lá dừa khô được thắp sáng rực rỡ, bập bùng soi rọi khúc sông đêm. Chiếc bóng đèn điện kéo từ máy nổ công trường hắt xuống lòng hố móng một luồng sáng vàng vọt nhưng kiên cường.
“Uống chút nước ấm đi anh Triết ơi!”
Một giọng nói nghẹn ngào, dịu ngọt vang lên bên tai. Triết chớp mắt, cố gạt đi màng nước mờ ảo trước mặt. Lụa đã lội xuống bệ phản áp tự lúc nào, bùn non dính bê bết trên vạt áo bà ba màu lam giản dị. Cô bưng một chiếc bát sành bốc khói nghi ngút, bên trong là nước sả gừng nấu đường phèn đậm đặc.
Bàn tay Lụa run rẩy đưa mép bát tới tận môi Triết. Hương thơm ấm nồng của gừng tươi và vị ngọt lành của đường phèn lan tỏa qua làn môi nứt nẻ, chảy xuống cuống họng đang cháy rát của anh, đánh thức sinh lực đang lịm dần.
“Lụa… sao em lại xuống đây… nguy hiểm lắm…” Triết thều thào, giọng khàn đặc không còn ra tiếng.
“Anh đừng nói nữa! Uống hết đi cho ấm người!” Nước mắt Lụa rơi lã chã xuống dòng nước bùn dưới chân, nhưng ánh mắt cô nhìn anh chan chứa một tình yêu vô bờ và niềm tin bất diệt. “Em ở đây với anh. Cả làng ở đây với anh. Anh Triết, nhất định phải giữ được cống nghen anh!”
Nhìn vào đôi mắt đẫm lệ của Lụa, nhìn những ngọn đuốc rực sáng trên bờ đê và hàng chục con người đang nghiến răng ghì chặt từng cây cọc tràm quanh mình, Triết cảm thấy một luồng sức mạnh phi thường trào dâng trong huyết quản. Anh uống cạn bát nước gừng nóng, quẹt ngang miệng một cái dứt khoát “Lên bờ đi Lụa! Chờ anh!”
Cuộc chiến nghẹt thở kéo dài thâu đêm suốt sáng. Tiếng búa tạ gõ vào đầu cọc tràm chan chát: “Cắc… tùng! Cắc… tùng!” vang vọng đều đặn trong màn đêm tĩnh mịch, hòa cùng tiếng hò dô tiếp sức trầm hùng của dân cù lao.
Từng bó rơm bện, từng lớp đá dăm, từng rọ đá hộc nặng cả tạ được thả chuẩn xác vào tâm phễu cát dưới sự chỉ huy sít sao của Triết. Vành móng bao cát phản áp cao dần lên, từng bước cân bằng lại áp lực thủy tĩnh của túi bùn ngầm.
Khi những vì sao thưa thớt trên bầu trời bắt đầu lặn dần về phía chân trời xa, sương sớm buông dày đặc trên mặt kênh Xanh, mang theo cái lạnh thấu xương của buổi ban mai.
Đến khoảng bốn giờ sáng, phép màu của sức người và khoa học đã xuất hiện.
Dòng xoáy ngầm sủi bọt trắng xóa bỗng nhiên dịu lại, rồi tắt hẳn. Mạch nước ngầm hung hãn đã bị tầng lọc ngược bằng rơm bện và rọ đá ghì chặt, không còn một hạt cát mịn nào bị cuốn trôi. Lớp bờ quai phản áp bằng bao cát xếp chồng khít khao, kết hợp cùng hệ thống cọc văng chống chéo bằng gỗ mù u đan cài chằng chịt đã giữ đứng vững toàn bộ mảng vách taluy phía Tây. Mặt nước bên trong hố móng phẳng lặng trở lại, bùn cát đã lắng xuống đáy sâu.
Túi bùn ngầm đã bị thuần phục hoàn toàn!
Kỹ sư Hoàng dùng cây sào đo cắm xuống kiểm tra cao trình đáy móng lần cuối, rồi buông sào, ngửa mặt lên trời gào to trong cơn phấn khích tột cùng “Được rồi! Giữ được rồi! Vách móng ổn định rồi bà con ơi!”
Một tiếng hò reo vang dội xé toạc màn sương sớm, bùng nổ khắp khúc sông kênh Xanh. Những người đàn ông m*nh tr*n lấm lem bùn đất ôm chầm lấy nhau, nhảy cẫng lên giữa vũng lầy lội, nước mắt hòa lẫn với bùn non và mồ hôi mặn chát. Trên bờ đê, tiếng vỗ tay, tiếng reo hò của phụ nữ và trẻ em vang rền như ngày hội lớn. Ông Bảy Kiên vuốt mái tóc bạc bết dính phù sa, cười ha hả làm rung cả chòm râu kẽm, rồi quay sang vỗ mạnh vào vai Triết “Thằng Hai tao dưới suối vàng chắc nó đang cười đó Triết ơi! Mày giỏi lắm con! Mày đã cứu cả cái xứ cù lao này rồi!”
Nhưng Triết không còn nghe rõ những lời tán dương ấy nữa.
Khi gánh nặng ngàn cân về trách nhiệm kỹ thuật và sự an nguy của công trình vừa được trút bỏ, nguồn năng lượng cuối cùng nâng đỡ cơ thể anh cũng cạn kiệt. Cơn sốt cao tích tụ suốt một ngày một đêm bùng phát dữ dội, thiêu đốt tâm can anh. Đôi chân ngâm bùn suốt gần hai mươi tiếng đồng hồ tê dại hoàn toàn, không còn chút cảm giác. Trước mắt Triết, vòm trời rạng đông bỗng chao đảo dữ dội, màu xanh của rặng dừa nước ven bờ nhòe đi, hòa thành một mảng sương mờ mịt mùng.
Triết lảo đảo, hai đầu gối khuỵu xuống. Thân hình cao ráo của anh đổ sập về phía trước như một thân cây tràm vừa bị đốn hạ.
“Triết! Thầy Triết!”
“Đỡ nó mau! Thằng nhỏ xỉu rồi!”
Tiếng kêu hoảng hốt của ông Bảy Kiên vang lên khi cánh tay gân guốc của ông kịp thời lao tới, ôm trọn lấy lồng ngực gầy guộc của Triết. Hoàng và ba thanh niên lực lưỡng lập tức nhào tới, xốc nách, bế bổng chàng kỹ sư trẻ lên khỏi hố bùn sâu, cẩn trọng đưa anh vượt qua bờ taluy trơn trượt để tiến lên triền đê khô ráo.
Lụa chạy nhào tới, quỳ sụp xuống bên thảm cỏ ướt đẫm sương đêm. Cô run rẩy đỡ lấy đầu Triết, đặt lên đùi mình. Gương mặt anh trắng bệch không còn một giọt máu, bờ môi nứt nẻ tím ngắt vì lạnh, nhưng hơi thở phả ra lại nóng rực như lửa đốt. Toàn thân anh nhuộm đen một màu bùn phù sa kênh Xanh, những vết cào xước trên cánh tay và bờ vai vẫn còn rỉ máu. Lụa lấy chiếc khăn rằn sạch sẽ vắt trên vai mình, vừa khóc vừa cẩn thận lau đi lớp bùn đất bết dính trên vầng trán nóng hổi và đôi mắt nhắm nghiền của anh.
“Anh Triết… anh Triết ơi… tỉnh lại đi anh…” Lụa nghẹn ngào gọi tên anh trong làn nước mắt đầm đìa, trái tim cô thắt lại từng cơn đau đớn.
Đúng lúc ấy, từ phía khúc quanh của dòng kênh Xanh, một âm thanh lạ lùng bỗng vang lên, phá vỡ bầu không khí xúc động nghẹn ngào trên triền đê.
Đó là tiếng máy nổ êm ru, đều đặn và sang trọng của một chiếc đò máy cao tốc vỏ composite màu trắng muốt – thứ phương tiện hiện đại và đắt tiền hiếm khi nào xuất hiện ở vùng cù lao hẻo lánh này. Chiếc đò máy xé toạc làn sương sớm mờ ảo, lướt đi êm ả trên mặt nước phù sa rồi từ từ giảm ga, cập sát vào chiếc cầu bến tạm bằng tre lá của công trường cống Kênh Xanh.
Người lái đò mặc áo bà ba trắng tinh tươm nhanh nhẹn nhảy lên mũi, buộc chặt dây neo vào thân cọc dừa. Ngay sau đó, tấm rèm vải nhung che khoang thuyền sang trọng được vén lên.
Một người phụ nữ trung niên trạc gần sáu mươi tuổi từ từ bước ra mui thuyền.
Bà khoác trên mình chiếc áo dài bằng lụa Hà Đông màu tím huế trang nhã, cổ đeo chuỗi ngọc trai sáng lấp lánh, mái tóc vấn cao quý phái theo phong thái của những phụ nữ gia thế chốn thị thành Cần Thơ xưa cũ. Nét mặt bà nghiêm nghị, đài các nhưng đôi lông mày thanh tú đang nhíu chặt lại đầy vẻ âu lo và bất an. Cầm trên tay chiếc quạt lụa và chiếc giỏ xách da đắt tiền, bà thận trọng bước từng bước lên chiếc cầu tre trơn ướt, đôi giày nhung đen khẽ nhấc lên để tránh những vệt sình lầy vương vãi trên bến.
Bà đưa mắt nhìn quanh quang cảnh công trường ngổn ngang cọc tràm, đất đá và những ngọn đuốc còn âm ỉ khói tàn, rồi ánh mắt sắc sảo của bà dừng lại ở đám đông đang quây quần trên triền đê phía trước.
Người phụ nữ quý phái sững sờ bước nhanh lên dốc đê. Chiếc quạt lụa trên tay bà bỗng nhiên buông thõng, rơi tọt xuống bãi cỏ đẫm sương mà bà không hề hay biết.
Bà Hai Nhị chết lặng, hai mắt mở to bàng hoàng tột độ khi nhìn thấy đứa con trai độc nhất – niềm tự hào tuyệt đối của dòng họ Trần danh giá chốn đô hội – lúc này đang nằm bất tỉnh nhân sự, toàn thân nhuốm đen bùn đất và máu tươi, đầu gục trọn trong lòng một cô gái quê mùa lấm lem nơi bến nước nghèo nàn.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
