Chương 17: Ánh đèn Vàng Soi Sáng Giấc Mơ Em

Mùi lụa tơ tằm cháy khét lẹt vẫn còn quẩn quanh nơi cánh mũi, quyện với mùi dầu hỏa nồng nặc bốc lên từ chiếc đèn hoa kỳ vừa bị gió chướng tạt nghiêng.

Thành đứng sững bên mép chõng tre, hai bàn tay siết chặt lấy thân gậy, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì bàng hoàng. Đáy mắt cậu nhói lên khi trông thấy chị Hai mình đang quỳ gối trên manh chiếu rách, một tay ôm lấy bờ vai run rẩy của chị Thắm, còn bàn tay phải – nơi vừa đè nghiến lên tàn than đỏ rực để dập lửa – đang giấu vội ra sau vạt áo bà ba, những ngón tay co quắp lại vì cơn bỏng rát thấu xương.

“Lụa ơi… Tao có tội với mầy, tao làm hư xấp lụa quý của mầy rồi! Trời ơi là trời, tao đui mù chi mà để tàn đèn rớt trúng… Tao biết lấy tiền đâu mà đền cho mầy đây Lụa ơi!”

Tiếng khóc nấc của người đàn bà góa nghèo xé toạc màn đêm tĩnh mịch bên bờ kênh Xanh. Mấy chị em ngồi quanh bàn thêu mặt mày tái mét, không ai dám thốt lên một lời, chiếc khung thêu trên tay ai nấy run rẩy chực rơi.

Thành hít một hơi sâu, nén cơn đau âm ỉ nơi cổ chân vừa tháo bấc nẹp, khập khiễng bước từng bước nặng nề qua ngạch cửa. Cậu không nói không rằng, chống gậy đi thẳng xuống gian bếp sau, múc một gáo nước mưa mát lạnh trong lu sành đổ ra chiếc chén sành da lươn, rồi lục tìm trên chạn bếp hũ mỡ trăn mà ngày trước má hay dùng mỗi khi chị em cậu lỡ chạm tay vào thanh củi đỏ.

Lúc Thành tập tễnh bưng chén nước và que tre quết mỡ trăn trở lại hàng hiên, Lụa đã dịu dàng đỡ chị Thắm ngồi ngay ngắn lại trên ghế. Giọng Lụa nhỏ nhẹ, êm đềm như dòng nước ròng chảy xuôi, dẫu đuôi mắt cô vẫn còn đọng lại một giọt nước long lanh chưa kịp khô “Chị Thắm nín đi, đừng khóc nữa mà. Lỗi đâu phải tại chị. Tại cái đèn dầu này hột vịt tù mù quá, gió ngoài kênh lại thốc vô bất tử chớ bộ. Chị coi nè, chỗ cháy này chỉ bằng đầu ngón tay út, lại nằm sát ngay góc lượn của tà áo trước. Lúc nãy em ngắm kỹ rồi, mình hổng có bỏ xấp vải này đâu. Em sẽ dời cụm hoa bần thêu lấn qua mé bên này một chút, lấy kéo bấm tỉa sạch cái rìa sém đen, rồi dùng chỉ tơ đâm xô nổi gân hoa lá đè kín lên. Khéo léo một chút, chỗ thủng này sẽ biến thành cái nh** h** bần đương lúc bung nở e ấp, khéo người ta nhìn vô còn khen đẹp hơn mẫu vẽ ban đầu đó chớ.”

Chị Thắm ngẩng gương mặt đẫm nước mắt lên, hai mắt đỏ hoe nhìn Lụa “Thật hửng mầy? Mầy… mầy hổng gạt để an ủi tao chớ Lụa? Xấp lụa tơ tằm này quý giá biết chừng nào…”

“Em gạt chị mần chi,” Lụa mỉm cười, nụ cười hiền hậu làm sáng bừng cả góc hiên tranh tối tranh sáng. “Mấy chị em mình ngồi lại đây là để đùm bọc nhau mà kiếm đồng tiền sắm Tết, chớ đâu phải để bắt đền bắt tội. Thôi, chị lau nước mắt đi, uống miếng nước trà quao cho ấm bụng.”

Thành bước tới, đặt chén nước lạnh xuống cạnh bàn cắt, rồi khẽ khàng kéo bàn tay phải của chị gái ra. Lòng bàn tay Lụa đã phồng lên một bọng nước đỏ ửng, da thịt rát bỏng. Thành mím môi, nghe sống mũi mình cay xè “Chị Hai đưa tay đây em bôi mỡ trăn cho. Chị cứ lo dỗ người ta, còn cái tay mình thì giấu nhẹm đi.”

Lụa giật mình định rụt tay lại, nhưng thấy ánh mắt cương nghị mà chan chứa thương xót của em trai, cô ngoan ngoãn để Thành nhúng vạt khăn sạch vào nước mát áp lên da, rồi tỉ mẩn chấm từng giọt mỡ trăn làm dịu vết thương. Nhìn đôi bàn tay chai mịn vì cầm kéo của chị gái nay lại thêm một vết sẹo bỏng, cổ họng Thành nghẹn ứ. Cậu tự trách mình tàn phế vô dụng, chân cẳng chưa lành lặn hẳn nên chỉ biết đứng nhìn chị gánh hết nhọc nhằn này đến tai ương khác.

Đêm đó, sau khi chị Thắm và mọi người lục tục ra về trong nỗi bùi ngùi, gian tiệm may Cúc Áo lại chìm vào sự tịch mịch đến não lòng. Gió chướng ngoài bến kênh rít qua liếp cửa, thổi ngọn đèn dầu chao đảo như muốn tắt ngấm. Tiến độ hai mươi bộ áo bà ba tơ tằm thêu tay giao trước mùng mười tháng Giêng đè nặng lên từng hơi thở. Nếu cứ tiếp tục làm việc trong cảnh tranh tối tranh sáng, mắt mũi mờ mịt và hiểm họa tàn lửa chực chờ như thế này, giấc mơ đổi đời của tiệm may và cơ hội vào giảng đường đại học của Thành sẽ tan thành mây khói.

Mấy ngày sau đó, vết nứt xương nơi cổ chân của Thành tiến triển rất tốt. Cậu đã có thể buông bớt một bên nạng tre, chỉ cần chống một cây gậy ngắn do anh Triết kỳ công đẽo gọt từ thân tre già luộc kỹ, các mấu tre được mài nhẵn thín không làm xước da tay.

Không còn phải nằm liệt một chỗ trên chõng, Thành cố gắng làm tất cả những việc vặt trong nhà để đỡ đần cho chị Hai. Sáng sớm, khi con nước vừa chớm lớn, cậu chống gậy ra sàn nước xách từng gàu nước đổ đầy lu, quét tước sân trước ngõ sau, rồi ngồi vào bàn gỗ phụ Lụa phân loại chỉ màu và ghi chép sổ đo.

Thế nhưng, điều khiến Thành xót xa nhất mỗi ngày chính là nhìn cảnh chị em trong xóm vật lộn với những đường kim mũi chỉ.

Ban ngày, ai nấy đều phải vất vả mưu sinh, người lo chăm mấy luống cải, người đi giẫy cỏ vườn thuê, người chăm đàn con mọn. Chỉ đến khi ráng chiều đỏ quạch buông xuống vàm kênh, việc nhà tạm xong xuôi, họ mới vội vã cắp khung thêu chạy sang tiệm may Cúc Áo. Và cứ thế, cơn ác mộng của bóng tối lại bắt đầu.

Cả cù lao Tân Bình này bao đời nay chưa từng biết đến một ánh điện lưới. Khi mặt trời lặn sau rặng bần bên kia sông lớn, cả xóm cù lao như bị dìm vào một hũ mực đen đặc, thăm thẳm. Để phục vụ cho bảy tám người thêu, Lụa gom hết đèn trong nhà ra, thắp lên ba chiếc đèn hoa kỳ và hai ngọn đèn dầu hột vịt. Nhưng ngọn lửa vàng vọt, tù mù ấy chỉ đủ soi một quầng sáng nhỏ bằng cái nón lá.

Thành ngồi ở góc bàn ghi chép, ngước mắt lên là thấy cảnh tượng nghẹn lòng. Chị Thắm, thím Năm Ve, con Út Mơ… người nào người nấy phải còng rạp lưng xuống, mặt dí sát vào bóng thủy tinh hun khói. Khói dầu hỏa khét lẹt cứ xộc thẳng vào mắt, làm ai nấy chớp mắt lia lịa, nước mắt nước mũi ròng ròng.

“Mắt tao hổm rày nó mờ căm như có đám mây che vậy đó bay ơi,” thím Năm Ve vừa nheo mắt vừa cọ cọ mu bàn tay lên mí mắt đỏ hoe. “Cứ đâm kim xuống là thấy hai ba cái bóng chỉ chập chờn, hổng biết đường nào mà lần.”

Lụa ngồi ở đầu bàn, tay thoăn thoắt bấm chỉ nhưng trán cô lấm tấm mồ hôi, thái dương giật giật từng cơn vì nhức đầu. Đôi mắt trong veo của cô thợ may trẻ giờ đây trũng sâu, viền mắt thâm quầng sau những đêm thức trắng chong đèn. Cứ mỗi lần có cơn gió chướng thốc mạnh làm tim đèn chao đảo, tất cả mọi người lại thót tim, vội vã lấy tay che chắn cho tà áo tơ tằm, sợ một đốm tàn than vô tình lại gieo rắc tai họa.

Thành nhìn cuốn tập ôn thi môn Văn và cuốn đề toán của mình nằm trơ trọi trên chõng tre mà lòng dạ cồn cào. Cậu thèm đọc sách, thèm giải từng bài tập hóc búa để chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh Đại học Sư phạm Cần Thơ đang đến gần. Nhưng dưới ánh đèn dầu le lói này, việc đọc từng dòng chữ in mờ trên giấy bổi rẻ tiền làm mắt cậu nhức nhối như có kim châm, huống hồ nhường một ngọn đèn cho cậu học thì chị em lại bớt đi một góc sáng để thêu áo. Thành đành ngậm ngùi gấp sách lại, cắn môi nhìn bóng chị Hai đổ dài, méo mó trên vách nứa.

Buổi chiều hôm ấy, khi ráng chiều vừa chớm tắt, kỹ sư Triết từ công trường cống Kênh Xanh trở về. Anh ghé qua tiệm may để trả lại chiếc nẹp tre cũ của Thành và kiểm tra xem chân cậu đã bớt sưng hay chưa. Vừa bước chân lên bậc thềm gỗ, Triết đã khựng lại.

Trước mắt anh là gian nhà ba gian mù mịt khói đèn dầu. Mùi dầu hỏa cay nồng bốc lên khiến anh phải khẽ húng hắng ho. Dưới ánh sáng vàng vọt như đom đóm, bảy người phụ nữ đang lặng lẽ còng lưng trên những mảnh lụa tơ tằm, gương mặt ai nấy hốc hác, căng thẳng, mồ hôi nhễ nhại giữa đêm gió chướng buốt lạnh.

Triết không nói gì nhiều. Anh đứng tựa vào cột hiên nhìn Lụa đang tỉ mỉ thùa từng chiếc khuy áo, đôi mắt anh đăm chiêu, ẩn chứa một nỗi niềm đau đáu, xót xa đến nghẹn ngào. Anh bước lại gần Thành, vỗ nhẹ lên vai cậu thiếu niên rồi khẽ hỏi “Tối nào mấy chị em cũng phải ráng thêu trong cảnh này hả Thành?”

Thành ngước nhìn Triết, gật đầu, giọng chùng xuống “Dạ anh Ba. Đơn hàng hai mươi bộ áo gấp quá, mùng mười tháng Giêng người ta lấy rồi. Ban ngày hổng đủ thời gian, đêm nào chị Hai với mấy chị cũng ráng tới gà gáy canh ba. Khói đèn hun mắt chị em cay xè, con Út Mơ hôm qua còn bị kim đâm lút cả đầu ngón tay vì quáng gà… Em thấy mà bất lực quá anh Ba ơi.”

Triết nhìn bọc thuốc mỡ trăn còn nằm bên góc bàn, nhìn vệt băng trắng nơi ngón tay Lụa, đôi lông mày rậm của anh khẽ nhíu lại. Anh siết chặt quai chiếc túi bạt đựng bản vẽ, trầm ngâm giây lát rồi vỗ vai Thành “Em với chị Hai ráng chút nghen. Để anh tính.”

Nói đoạn, Triết quay người bước nhanh ra ngõ, bóng dáng cao ráo của anh hòa vào màn đêm đang buông xuống mặt kênh.

Mãi về sau Thành mới biết, ngay đêm hôm ấy, Triết đã tìm gặp tổ thợ vận hành máy nổ của công trường cống Kênh Xanh. Chiếc máy nổ chạy dầu diesel đặt ở lán trại ngoài vàm vốn dùng để bơm nước hố móng và cấp điện thắp sáng hai bóng đèn bảo vệ kho vật tư xi măng, sắt thép. Triết đã ngồi thuyết phục anh em công nhân suốt hai tiếng đồng hồ, phân tích rằng máy nổ công suất còn dư tải, có thể chia sẻ thêm một nhánh dây nhỏ. Để không làm phiền đến quỹ chung của đội thi công, Triết đã tự nguyện móc cạn túi áo lấy ra toàn bộ số tiền phụ cấp công trình còm cõi của mình trong tháng – số tiền anh định dành dụm gửi về mua thuốc cho mẹ ở Cần Thơ – để chịu trọn tiền dầu phát sinh.

Chưa dừng lại ở đó, trưa hôm sau, bất chấp cái nắng chang chang đổ lửa trên mặt sông, Triết xin đi nhờ ghe chở đá vượt hơn bảy cây số đường sông sang tận chợ thị trấn huyện. Anh lặn lội khắp các tiệm tạp hóa mua cho bằng được một cuộn dây điện bọc nhựa cách điện ruột đồng nhiều sợi to bản, một chục đui sứ cách điện màu trắng, chiếc công tắc quả nhót, và đặc biệt là một chiếc bóng đèn tròn dây tóc 75W hiệu Điện Quang – thứ ánh sáng mà người dân cù lao nghèo này chỉ mới được thấy loáng thoáng trên phim ảnh chiếu bóng lưu động.

Khoảng bốn giờ chiều ngày hăm bảy tháng Chạp, một sự kiện chấn động đã diễn ra ngay trước cửa tiệm may Cúc Áo.

Triết vác một chiếc thang tre dài trên vai, tay xách cuộn dây điện đen bóng cùng giỏ đồ nghề lỉnh kỉnh bước vào sân. Đi sau anh là hai anh công nhân trẻ của đội công trình, người vác sào tre, người ôm cuộn dây thép mạ kẽm.

“Anh Ba! Anh mần cái chi mà rình rang dữ vậy?” Thành ngạc nhiên chống gậy bước ra hiên hỏi dồn.

Triết đặt thang tre xuống, quệt vệt mồ hôi rịn trên trán, nở một nụ cười rạng rỡ làm sáng bừng cả khuôn mặt rám nắng “Anh kéo điện từ máy nổ ngoài vàm về cho tiệm may của chị Hai em đây! Chiều nay xóm mình sẽ có đèn điện!”

Nghe thấy tiếng reo của Triết, Lụa từ trong buồng bước vội ra, tay vẫn còn cầm chiếc kéo cắt vải. Cô sững sờ nhìn cuộn dây điện đen nhánh và chiếc bóng đèn tròn thủy tinh trong veo nằm lọt thỏm trong lòng bàn tay Triết “Anh Triết… Anh kéo điện thiệt hả? Sao… sao mần được? Ngoài vàm kênh cách đây cả đoạn xa lơ xa lắc mà!”

“Đo đạc kỹ rồi, chừng hơn trăm mét dây chớ mấy,” Triết cười hiền, ánh mắt nhìn Lụa đầy vẻ ấm áp, bao dung. “Anh với mấy anh em đóng cọc men theo rặng dừa nước, câu dây qua mấy nhánh bần chắc chắn lắm, bọc cách điện ba lớp an toàn tuyệt đối. Mấy hôm nay thấy chị em thêu áo dưới đèn dầu khói cay xè mắt, anh xót ruột quá. Cứ để vậy hoài, áo chưa may xong thì mắt người đã hỏng hết.”

Lụa đứng chết trân bên bậu cửa, đôi mắt long lanh ngấn lệ. Cô hiểu chiếc bóng đèn này không chỉ là ánh sáng, mà nó được đánh đổi bằng mồ hôi, công sức và cả những đồng tiền phụ cấp chắt chiu của người kỹ sư trẻ giàu lòng trắc ẩn.

Không để lãng phí thời gian, Triết thoăn thoắt bắt tay vào việc. Anh dựng thang tre lên hàng hiên, trèo thoăn thoắt lên sát mái ngói âm dương rêu phong. Thành lăng xăng chống gậy đứng dưới chân thang, phụ anh giữ chặt chân thang và chuyền kìm, tuốc nơ vít, băng keo đen.

Ở trên cao, Triết dùng khoan tay cẩn thận bắt từng chiếc đui sứ cách điện vào vì kèo gỗ dầu vững chãi. Bàn tay anh dù chai sần vì dầm mưa dãi nắng ở công trường nhưng khi luồn dây đồng, gọt vỏ nhựa lại vô cùng khéo léo, chuẩn xác. Từng mối nối được anh quấn băng keo cẩn thận từng vòng một để tránh ẩm ướt mùa gió chướng. Sau đó, anh thả một sợi dây điện lòng thòng từ xà nhà xuống ngay chính giữa chiếc bàn cắt gỗ mít dài – nơi các khung thêu tụ hội – rồi cẩn thận xoáy chiếc bóng đèn tròn quả lê vào đui sứ.Tin tiệm may Cúc Áo sắp có đèn điện lan nhanh như một cơn gió chướng thổi qua cù lao.

Đến chạng vạng, khi mặt trời vừa khuất dạng, khoảng sân trước tiệm may đã chật kín người. Lũ trẻ con trong xóm đứa c** tr*n, đứa mặc áo rách vai túa ra reo hò ầm ĩ: “Có đèn điện rồi tụi bây ơi! Tiệm cô Lụa sắp có mặt trời nhân tạo rồi!”. Thím Năm Ve, chị Thắm, bà Năm Búp nhai trầu đỏ thắm miệng, rồi cả mấy bác nông dân tay còn dính bùn phèn đi làm đồng về cũng đứng túm tụm dưới mé kênh, ai nấy đều hồi hộp ngước nhìn chiếc bóng đèn tròn treo lơ lửng giữa hiên nhà.

Triết leo xuống thang, đứng bên chiếc cầu dao nhỏ gắn trên cột gỗ. Anh nhìn quanh một lượt, thấy ánh mắt đầy âu lo lẫn mong mỏi của Lụa, thấy nụ cười háo hức của Thành, anh mỉm cười khẽ bảo “Chuẩn bị nghen bà con!”

Ngoài vàm kênh, tiếng máy nổ diesel bỗng gầm lên giòn giã: Tạch… tạch… tạch… bùm… bùm… Nhịp nổ đều đặn, khỏe khoắn xé toạc không gian tĩnh mịch của dòng sông.

Triết đưa tay gạt chiếc cầu dao đóng lại cái tách.

Trong tíc tắc, sợi dây tóc vonfram bên trong chiếc bóng thủy tinh tròn ửng lên màu cam đỏ, rồi bừng sáng rực rỡ!

Một luồng ánh sáng vàng óng ả, ấm áp và trong trẻo như mật ong lập tức tràn ngập, chan hòa khắp gian nhà ba gian, xua tan hoàn toàn bóng đen đặc quánh bấy lâu nay bủa vây hàng hiên gỗ. Quầng sáng rực rỡ tỏa rộng ra tận mé nước kênh Xanh, soi rõ từng dề lục bình hoa tím đang bập bềnh trôi, soi rõ từng vạt lá dừa nước và những khuôn mặt ngỡ ngàng, rạng rỡ của người dân cù lao.

“Chèn ơi! Sáng quá trời sáng rồi!” Bà Năm Búp vỗ đùi đánh đét một cái, cười toe toét để lộ hàm răng nhuộm đen nhánh. “Cứ như ban ngày vậy nè tụi bây ơi!”

“Mẹ ơi, sáng trưng luôn, thấy rõ cả từng đường gân trên lá bưởi nè!” Lũ trẻ con nhảy cẫng lên, vỗ tay reo hò râm ran cả một khúc kênh.

Chị Thắm bước lại gần bàn cắt, run run đưa tay sờ lên mặt vải lụa tơ tằm trắng ngà đang căng trên khung thêu. Dưới ánh đèn điện 75W, từng thớ tơ óng ánh hiện lên mồn một, tinh khôi và mịn màng; những múi chỉ thêu màu tím hoa cà, màu xanh đọt chuối, màu vàng nghệ sáng bừng lên như một bức tranh sống động. Không còn một chút khói dầu hôi hám, không còn cảnh chập chờn ma quái, mắt chị Thắm không còn phải nheo lại, không một giọt nước mắt nào phải rơi vì cay xè nữa.

Chị Thắm quay sang nhìn Lụa, rồi nhìn Triết, hai tay chắp lại trước ngực nghẹn ngào “Cảm ơn chú Ba… Chú Ba tốt bụng quá chừng. Có cái đèn này rồi, mắt tao sáng ra cả chục tuổi, đường kim mũi chỉ chạy ro ro cho coi!”

Lụa đứng nép bên cột gỗ, hai má ửng hồng dưới ánh đèn vàng ấm áp. Cô ngước nhìn chiếc bóng đèn tròn đang tỏa hơi ấm dịu dàng, rồi nhìn sang Triết. Bắt gặp ánh mắt đong đầy sự chở che và dịu dàng của chàng kỹ sư đang hướng về mình, Lụa bối rối cúi đầu, nhưng khóe môi nở một nụ cười rạng rỡ, đẹp đến nao lòng. Đứng bên cạnh, Thành bắt trọn khoảnh khắc ấy, trong lòng trào dâng một niềm xúc động khó tả. Ánh sáng này không chỉ thắp sáng gian tiệm may nghèo, mà dường như đang thắp lên một ngọn lửa tình cảm chân phương, sâu thẳm giữa hai con người mà cậu yêu quý nhất trên đời.

Đêm đó là đêm kỳ diệu nhất mà bờ kênh Xanh từng chứng kiến.

Dưới ánh đèn vàng rực rỡ, không khí làm việc tại tiệm may Cúc Áo rộn ràng như ngày hội. Tiếng máy may chân đạp Butterfly của Lụa vang lên rộn rã, tiếng con thoi chạy lách cách đều đặn, nhịp nhàng như một bản hòa tấu lao động vui tươi. Nhóm thợ thêu của chị Thắm, thím Năm Ve, Út Mơ ngồi quây quần quanh bàn gỗ, đôi tay ai nấy thoăn thoắt lướt kim trên mặt lụa. Đường kim hạ xuống dứt khoát, chuẩn xác, từng cánh hoa bần trắng muốt, từng đóa lục bình tím biếc, từng nhành so đũa thanh mảnh cứ thế đua nhau nở rộ trên tà áo bà ba. Tiến độ công việc tăng lên gấp đôi, gấp ba so với những đêm chong đèn dầu tù mù trước đó.

Ở góc chõng tre kê sát mép hiên, Thành ngồi ngay ngắn trước chiếc bàn gỗ nhỏ. Ánh sáng vàng ấm áp từ trên xà nhà rọi xuống, phủ lên trang giấy trắng tinh của cuốn tập ôn thi Sư phạm.

Thành cầm cây bút Trường Sơn bơm mực tím, nắn nót viết từng dòng chữ. Không còn làn khói dầu khét lẹt hun vào mắt, từng con chữ hiện ra rõ ràng, sắc nét. Cậu say sưa đọc lại những áng văn hào hùng của cụ Đồ Chiểu, những trang văn chan chứa tình nhân ái của Nam Cao, Thạch Lam. Những con chữ không còn nhảy múa, mờ ảo như trước, mà sáng rõ như chính con đường tương lai đang mở ra trước mắt cậu thiếu niên nghèo. Thành hít một hơi thật sâu, cảm nhận mùi hương thoang thoảng của giấy bổi hòa quyện cùng mùi gỗ dầu ấm sực dưới ánh đèn điện. Giấc mơ bước chân vào giảng trường Đại học Sư phạm Cần Thơ, giấc mơ trở thành thầy giáo mang cái chữ về khai sáng cho lũ trẻ lam lũ trên mảnh đất cù lao này chưa bao giờ gần gũi và chân thực đến thế.

Đang lúc Thành mải mê suy nghĩ về một đề luận văn phân tích vẻ đẹp tâm hồn của người lao động trong thời kỳ mới, một bóng người cao ráo khẽ bước lại gần.

Triết đã tắm rửa sạch sẽ lớp bùn đất công trường, thay chiếc áo sơ mi màu cỏ úa xắn tay gọn gàng. Anh kéo chiếc ghế đẩu gỗ ngồi xuống cạnh chõng tre của Thành, trên tay cầm hai củ khoai lang luộc còn bốc khói nghi ngút mà bà Năm Búp vừa mang sang cho.

“Ăn miếng khoai cho chắc bụng rồi học tiếp em,” Triết đưa củ khoai cho Thành, mỉm cười ấm áp.

“Dạ, em cảm ơn anh Ba,” Thành đón lấy củ khoai, cảm nhận hơi nóng ấm lan qua kẽ tay. Cậu chỉ vào trang giấy chi chít những gạch đầu dòng, ngập ngừng bảo: “Anh Ba, em đang làm bài luận này, mà đoạn liên hệ giữa tri thức khoa học với kinh nghiệm thực tiễn của người nông dân em viết cứ thấy gượng gạo sao đó…”

Triết chăm chú nhìn vào trang tập của Thành. Đôi mắt sau cặp kính cận gọng đồi mồi của người kỹ sư ánh lên sự nâng niu, trân trọng đối với sự hiếu học của cậu em. Anh nghiêng người, chỉ ngón tay có vết chai vào một đoạn văn của Thành, giọng nói trầm ấm, rành rọt “Em viết đoạn này bằng cảm xúc rất tốt, nhưng còn thiếu cái thực tế của đất và nước cù lao mình. Em coi nè, giống như chuyện làm cống Kênh Xanh vậy đó. Sách vở trường đại học dạy anh tính toán lưu lượng dòng chảy, tính toán sức chịu tải của bê tông cốt thép. Đó là khoa học, là chân lý lý thuyết. Nhưng khi về tới đây, nếu anh hổng chịu lắng nghe ông Bảy Kiên nói về quy luật con nước ròng nước lớn, hổng hiểu tập quán đi lại của chiếc xuồng ba lá chở bưởi chở lúa, thì cái cống của anh dù kiên cố mấy cũng chỉ là một khối bê tông vô hồn, thậm chí làm hại dân làng.”

Triết ngừng lại một chút, nhìn sâu vào mắt Thành, ánh mắt tràn đầy kỳ vọng “Học văn hay học làm thầy giáo cũng vậy đó Thành. Chữ nghĩa trong sách là cái gốc, nhưng cái hồn của bài văn, cái tâm của người thầy phải bắt rễ từ chính cuộc đời lam lũ của bà con mình. Sau này em đi thi, cứ đem hết cái bụng dạ thương người, cái tình nghĩa thủy chung của cù lao này vào bài thi. Những người chấm thi họ có học hàm học vị cao tới đâu, họ cũng sẽ bị lay động bởi những trang viết chân thành, có máu thịt cuộc đời như vậy.”

Thành lắng nghe từng lời của Triết, ngực như mở cờ. Những gút thắt trong tư duy bấy lâu nay bỗng chốc được tháo gỡ sáng tỏ như dòng nước ngọt ngào trút xuống mảnh ruộng phèn. Cậu gật đầu lia lịa, cầm bút ghi vội những ý tứ sâu sắc mà anh Ba vừa gợi mở.

Triết vỗ mạnh lên vai Thành, giọng đầy tin tưởng “Cố gắng lên nghen Thành. Chân cẳng sắp lành lặn rồi, bài vở cũng đâu vào đấy. Em là đứa sáng dạ, lại có lòng hiếu nghĩa. Anh tin chắc chắn em sẽ đỗ thủ khoa Sư phạm đợt này. Ráng học thành tài, để đền đáp lại bao nhiêu mồ hôi nước mắt của chị Hai em, và để cù lao Tân Bình này tự hào về em.”

“Dạ! Em hứa với anh Ba, em sẽ thi đậu, hổng phụ lòng chị Hai với anh đâu!” Thành siết chặt nắm tay, ánh mắt rực sáng niềm kiên định.

Đêm càng về khuya, gió chướng ngoài bãi bần thổi càng lồng lộng, mang theo hơi sương lạnh buốt phả vào bờ kênh.

Khoảng hơn mười một giờ đêm, khi hai chiếc áo lụa cuối cùng trong ngày đã hoàn tất các mảng thêu hoa bần rực rỡ, Triết ra hiệu cho tổ thợ nghỉ tay để máy nổ ngoài vàm ngừng hoạt động, tiết kiệm dầu. Mọi người vui vẻ thu dọn khung thêu, ríu rít chào nhau ra về trong sự phấn khởi chưa từng có.

Chiếc bóng đèn điện tắt đi, bóng tối lại phủ xuống, nhưng trong lòng mỗi người đều đã ngập tràn một thứ ánh sáng ấm áp của hy vọng. Thành phụ chị Hai dọn dẹp bàn cắt, cất các ống chỉ màu vào giỏ mây, rồi khép cánh cửa gỗ ba gian cài then cẩn thận. Lụa bảo em trai đi ngủ sớm cho lại sức, còn cô lui vào gian buồng trong thắp ngọn đèn dầu nhỏ để kiểm tra lại từng đường kim mũi chỉ trước bàn thờ ba má.

Nằm trên chõng tre, Thành trằn trọc mãi không sao chợp mắt được. Niềm vui có đèn điện, sự phấn chấn từ những lời khuyên bảo của anh Triết cứ rạo rực trong lồng ngực. Khoảng nửa đêm, cổ chân cậu bỗng thấy hơi nhức mỏi do lúc chiều đi lại hơi nhiều. Cảm thấy khát nước và muốn rửa mặt cho tỉnh táo, Thành khẽ khàng chống gậy ngồi dậy, bước từng bước êm ru qua cánh cửa hông bên chái bếp, đi ra chiếc cầu ván bắc ra mé kênh.

Đêm nay là đêm cận rằm, mảnh trăng thượng tuần đã treo lơ lửng giữa trời cao, dát một lớp bạc lung linh, bàng bạc xuống mặt nước kênh Xanh đang mùa nước ròng êm ả. Không gian tĩnh mịch đến mức nghe rõ cả tiếng cá quẫy đuôi đớp bọt nước bên rặng lục bình và tiếng lá dừa nước xào xạc trong gió khuya.

Thành vừa bước tới đầu hàng hiên thì bước chân bỗng khựng lại.

Dưới ánh trăng mờ ảo và ánh sáng leo lét của ngọn đèn bão đặt trên sàn gỗ, dưới chân cầu ván bắc ra mé nước, có một bóng người đang ngồi lặng lẽ một mình.

Đó là anh Triết.

Triết ngồi xếp bằng trên chiếc đòn gỗ nhỏ, chiếc áo sơ mi cởi hai nút cổ phanh ra để đón gió sông mát rượi. Trên tay anh là một con dao gọt nhỏ sắc lẻm, sáng loáng dưới ánh trăng. Anh đang tỉ mẩn, cẩn trọng đẽo gọt một mẩu gỗ xà cừ màu nâu đỏ sẫm. Mùi tinh dầu gỗ xà cừ ngai ngái, thơm ngát, ấm nồng lan tỏa thoang thoảng trong làn gió đêm buốt lạnh.

Thành nín thở, nép mình sau thân cột cái bằng gỗ dầu, tò mò dõi mắt nhìn theo từng cử động của người kỹ sư.

Dưới đôi bàn tay tài hoa đầy vết trầy xước của Triết, mẩu gỗ xà cừ thô ráp đang dần dần thành hình một chiếc hộp nhỏ nhắn, vuông vức, nắp hộp được gọt giũa vô cùng tinh xảo. Triết chăm chú vào từng nhát dao, cẩn thận gọt từng đường nét uốn lượn li ti. Trên nắp chiếc hộp gỗ ấy, anh đang khắc nổi hình hai bông hoa cúc áo nhỏ nhắn đan lồng khắng khít vào một nhành hoa lục bình đang nở rộ.

Mỗi khi gọt xong một đường chỉ gỗ tinh vi, Triết lại khẽ dừng tay. Anh đưa chiếc hộp gỗ lên ngang ngực, lấy vạt áo sơ mi cọ nhẹ lớp mạt cưa mịn màng, rồi ngẩng đầu lên.

Ánh mắt Triết nhìn thẳng về phía khung cửa sổ hé mở của gian tiệm may Cúc Áo. Nơi đó, dưới ánh đèn dầu le lói từ bàn thờ ba má hắt ra, chiếc áo bà ba màu lam giản dị của Lụa đang được treo phơi trên giá gỗ, tà áo khẽ đung đưa theo từng ngọn gió chướng hiền hòa.

Trong đôi mắt người kỹ sư phong trần lúc này không còn vẻ nghiêm nghị của những con số trắc địa, không còn nỗi âu lo của những vách cừ tràm sụt lún. Nơi đáy mắt anh chỉ còn lại một tình yêu thương sâu thẳm, dịu dàng, nồng đượm và giấu kín đến nghẹn ngào – một thứ tình cảm mộc mạc như đất phù sa, âm thầm bồi đắp từng ngày bên bờ kênh Xanh.

Thành đứng lặng trong bóng tối, bàn tay vịn chặt vào cây gậy tre nhẵn bóng. Một nụ cười ấm áp, rạng rỡ khẽ nở trên môi người thiếu niên cù lao. Cậu lặng lẽ quay gót, bước thật khẽ trở về chiếc chõng tre của mình, lòng ngập tràn một niềm bình yên vô tận giữa màn đêm sông nước mênh mông.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.