Chương 16: Hàng Hiên Rộn Rã Mũi Kim Thêu

Tiếng nổ “ĐOÀNG!” xé toang không gian tĩnh mịch của bến vàm Kênh Xanh khiến đôi tay Lụa run bắn, chiếc rổ tre trên tay chực rớt xuống đất. Nước chè xanh nấu gừng từ miệng ấm nhôm tròng trành, sánh vài giọt ấm nóng lên mu bàn tay thon nhỏ. Bên cạnh cô, Út Mơ thất thanh kêu lên một tiếng “Chèn ơi!” rồi níu chặt lấy cánh tay áo bà ba của Lụa.

Trước mắt hai người, khói đen từ buồng máy chiếc xáng cạp cuồn cuộn bốc lên nghi ngút, khét lẹt mùi dầu cặn và kim loại cháy sém. Chiếc cần cẩu sắt nặng hàng tấn vừa đổ sụp xuống mép nước, cày một vệt sâu hoắm vào dải đất lở ven bờ, làm bọt nước đục ngầu phù sa bắn tung tóe.

“Cháy máy rồi! Trục láp gãy đôi rồi bà con ơi!” Tiếng ai đó trên bờ la hoảng.

Hơn bốn mươi người dân đang hăm hở vác cuốc xẻng bỗng dạt lùi lại, nét mặt rạng rỡ vừa mới bừng lên ban nãy thoắt cái đã đông cứng thành nỗi kinh hoàng tột độ. Giữa luồng khói đen mù mịt, Lụa thấy bóng Triết lao vụt đi. Anh không hề do dự, quăng vội chiếc cặp tài liệu sang tay kỹ sư Hoàng, cởi phăng chiếc áo sơ mi xanh bạc màu vắt lên bờ đất rồi nhảy ào xuống dòng nước lội bùn sâu tới ngang hông.

“Bác tài xế đâu? Bác Hai ơi!” Giọng Triết khản đặc, vang lên giữa tiếng xèo xèo của dầu máy sôi réo.

“Tao… tao đây chú Ba! Tao văng ra mé sàn sau!” Bác tài xế xáng cạp lóp ngóp từ khoang sau bò ra, mặt mày xám ngoét vì hoảng loạn, hai bàn tay dính đầy muội than đen sì.

Triết lội sấn tới, cùng một thanh niên làng xốc nách bác tài dìu lên bờ an toàn. Đoạn anh quay ngoắt lại, bám vào thành sắt còn nóng rẫy của chiếc xáng cạp, nhoài người nhìn sâu vào khoang động cơ. Dưới đáy máy, trục truyền động bằng thép đúc dày bằng bắp đùi đã bị vặn xoắn gãy gập, những chiếc răng xích vỡ vụn vương vãi khắp nơi. Cỗ máy sắt từng được coi là “xương sống” của công trình giờ nằm chết trân như một con quái vật gãy xương sống, ngâm mình bất lực giữa dòng nước ròng đang chảy xiết ra sông lớn.

“Thôi rồi… gãy trục láp giữa chừng thế này thì lấy gì nạo vét lòng cống?” Kỹ sư Hoàng ôm đầu, mặt không còn một giọt máu. “Phụ tùng này phải lên tận xưởng cơ khí tỉnh trên Mỹ Tho hay Cần Thơ mới tiện lại được, mà ngặt nỗi cận Tết thế này, ai người ta chịu đúc thép cho mình!”

Không khí trên bến vàm bỗng chốc chùng xuống ngột ngạt. Mấy bác nông dân bắt đầu buông cán cuốc, tiếng xì xào hoang mang lại râm ran nổi lên: “Đã bảo mà, đất này xưa giờ thuận theo con nước trời cho, đụng chạm máy móc vô là long mạch trở chứng liền… Giờ máy hư, nước mặn ngoài sông lớn chừng mươi bữa nửa tháng nữa là tràn vô, công cốc hết rồi!”.

Lụa đứng bên rào dâm bụt, tim thắt lại từng cơn. Cô nhìn Triết đang ngập trong bùn lầy, cả tấm lưng trần rám nắng ướt đẫm mồ hôi và bùn non, đôi bờ vai anh khẽ run lên trước áp lực nặng nề tưởng chừng có thể bẻ gãy bất cứ người đàn ông can trường nào. Nhưng Triết không gục ngã. Anh hít một hơi thật sâu, dùng tay áo lau vội vệt khói trên trán rồi ngẩng đầu lên.

Bất ngờ, ông Bảy Kiên bước phăm phăm xuống mép nước. Cây gậy tầm vông trong tay ông gõ cành cạch xuống mặt đất bùn “Bà con im hết coi! Mới gãy có cái khúc sắt mà đã nhụt chí hết trơn hết trọi rồi sao?” Ông Bảy quay sang nhìn Triết, ánh mắt già nua quắc thước không hề có chút trách móc, trái lại còn ánh lên vẻ kiên nghị lạ lùng. “Chú Ba, tao hỏi thiệt, hổng có cái máy này, sức người cù lao mình có nạo vét đắp đất nổi hổng?”

Triết ngước nhìn ông lão, ánh mắt sau cặp kính cận mờ hơi sương bỗng bừng sáng: “Dạ thưa bác Bảy, thưa bà con! Máy móc là để đỡ sức người, nhưng cù lao này từ thời ông cha khai hoang mở cõi đều dựng nên từ mồ hôi và hai bàn tay trắng. Nếu chờ máy sửa xong thì vườn bưởi, ruộng lúa đã bị nước mặn thiêu rụi. Em tính rồi, chỉ cần bà con mình chịu khó chia ca, dùng xuồng ba lá chở đất, dùng búa tạ đóng cừ tràm thế cho cọc bê tông ở các mép phụ, chúng ta vẫn kịp ngăn mặn trước Tết!”

“Nghe rõ chưa bà con!” Ông Bảy Kiên vung gậy quát to. “Hồi chiến tranh, bom đạn cày xới nát đất này người ta còn đào hầm đắp lũy được, huống chi giờ đắp cái đập cứu nồi cơm của chính mình! Mấy thằng trẻ đâu, xắn quần xuống sình với chú Triết mau!”

Tiếng hô vang dội của ông Bảy như một liều thuốc trợ lực diệu kỳ. Hàng chục thanh niên trong xóm lập tức ùa xuống mé kênh, tiếng cuốc xẻng lại bập bập vào lòng đất bùn phù sa, át đi nỗi sợ hãi vừa mới nhen nhóm.

Lụa thở phào một tiếng nhẹ nhõm, bưng rổ nước tiến lại gần mép bờ. Cô khẽ gọi: “Anh Triết…”.

Triết quay lại, gương mặt lấm lem bùn đất bỗng giãn ra một nụ cười hiền hậu khi nhìn thấy Lụa. Anh đón lấy chiếc bát sành đựng nước chè xanh nghi ngút khói từ tay cô, uống ừng ực một hơi cạn sạch. Lụa rút chiếc khăn rằn vắt trên vai mình, ngập ngừng đưa lên chấm nhẹ những vệt than đen bám trên gò má anh.

“Anh coi chừng miểng sắt cứa trúng chân đó nghen,” Lụa khẽ dặn, giọng nhỏ nhẹ mà run run lo lắng.

Triết nắm lấy mép chiếc khăn rằn, ánh mắt nhìn sâu vào mắt cô, ấm áp lạ thường: “Anh không sao đâu. Em về tiệm đi kẻo gió chướng tạt lạnh. Hai mươi chiếc áo lụa thêu hoa dại của phòng văn hóa thị xã là cơ hội lớn nhất đời em, cũng là tiền ăn học của thằng Thành. Em ráng tập trung mần cho kịp trước mùng mười tháng Giêng, việc công trường ở đây đã có anh với bà con lo liệu”.

Nhìn sự can trường và niềm tin vững chãi nơi đáy mắt người kỹ sư trẻ, Lụa gật đầu. Cô quay lưng bước về con đường đất dẫn vào tiệm may, trong lòng ngổn ngang trăm mối tơ vò.

Bước qua ngạch cửa gỗ của tiệm Cúc Áo, mùi lụa tơ tằm thơm dìu dịu quyện với mùi dầu máy Singer quen thuộc lập tức bao bọc lấy Lụa. Gian nhà ba gian hôm nay bỗng trở nên rộng thênh thang và cô quạnh đến nao lòng.

Trên chiếc chõng tre kê sát vách, Thành đang ngồi tựa lưng vào gối, chiếc chân bó bột trắng toát gác ngay ngắn trên chiếc ghế con. Thấy chị Hai bước vào với gương mặt đăm chiêu, Thành chống cây gậy tre do chính tay Triết đẽo gọt hôm trước, nhổm người dậy hỏi dồn “Chị Hai, ngoài vàm kênh có chuyện chi mà nghe nổ lớn dữ vậy chị? Em ngồi đây nghe đất rung rinh luôn đó!”

Lụa đặt chiếc rổ không lên bàn cắt gỗ mít, khẽ vuốt lại lọn tóc mai dính bết bên thái dương: “Máy xáng cạp bị gãy trục rồi em. Nhưng anh Triết với bác Bảy Kiên vận động bà con đào đất bằng tay, coi bộ mọi người đồng lòng lắm”.

Nói rồi, Lụa quay sang nhìn xấp lụa tơ tằm màu trắng ngà và màu tím nhạt xếp ngay ngắn trên kệ tre. Hai mươi chiếc áo bà ba truyền thống cách tân thêu hoa dại bản địa – đó là một đơn hàng khổng lồ, một giấc mơ có thật với số tiền cọc năm trăm ngàn đồng đang nằm trong hộp sắt bánh quy gỉ sét. Nhưng cái giá của nó là một kỳ hạn nghiệt ngã: mùng mười tháng Giêng âm lịch phải giao đủ để đội văn nghệ kịp lên tỉnh hội diễn.

Hôm nay đã là hăm bốn tháng Chạp. Vỏn vẹn đúng mười lăm ngày, lại vắt ngang qua mấy ngày Tết Nguyên đán.

“Chị Hai nè…” Thành ngập ngừng nhìn những đường phấn vẽ trên mặt vải. “Một chiếc áo bà ba thêu hoa dại tỉ mỉ như chiếc áo hôm trước chị may cho cô giáo Mai, chị thức trắng hai đêm mới thêu xong một bên vạt. Hai mươi chiếc là bốn mươi vạt áo, chưa kể may ráp, vô tay, thùa khuy bọc cúc… Một mình chị Hai, dẫu có ba đầu sáu tay thức suốt sáng thâu đêm cũng hổng mần cách nào kịp đâu chị ơi!”.

Lời nói chân thật của đứa em trai như một mũi kim đâm trúng nỗi sợ hãi lớn nhất đang chực trào trong lồng ngực Lụa. Đôi vai cô khẽ chùng xuống. Phải, cô thợ may trẻ hiểu quá rõ sức người có hạn. Nếu chậm trễ, không những mất trắng số tiền cọc, phải đền hợp đồng cho phòng văn hóa huyện thị, mà uy tín cả đời gầy dựng của tiệm may do ba má để lại cũng sẽ tan thành mây khói. Giấc mơ vào trường Sư phạm của Thành, tương lai của cả gia đình bên bờ kênh này cũng theo đó mà dang dở.

Út Mơ ngồi bên bậu cửa, hai bím tóc len đung đưa, mặt buồn rười rượi: “Phải chi em thêu giỏi giang như chị Lụa thì em phụ một tay… Đằng này em mới học xỏ chỉ, đâm mũi kim còn run bần bật, lỡ làm hư xấp lụa quý của chị thì em mang tội chết!”.

Lụa bước ra hiên nhà, tựa người vào chiếc cột gỗ dầu đã bóng nước thời gian. Gió chướng cuối năm từ mặt Kênh Xanh thổi thốc vào bờ, làm những rặng dừa nước xao xác nghiêng ngả. Xa xa mé bến đò ngang, mấy chị em phụ nữ trong xóm đang ngồi túm tụm giặt giũ bên sàn nước. Tiếng thở dài của chị Thắm nhà nghèo đông con, tiếng cô Lành lỡ thì quanh năm chỉ biết đi cấy mướn, mò cua bắt ốc kiếm vài đồng bạc lẻ lay lắt… Ai nấy đều rầu rĩ vì năm nay lúa thất bát, đồ may sẵn ở chợ ế ẩm, Tết nhất tới nơi mà trong túi không có nổi một đồng sắm cho con tấm áo mới.

Một ý nghĩ bất chợt lóe lên trong tâm trí Lụa, sáng bừng và ấm áp như ngọn đèn bão giữa đêm giông.

Lời ông Bảy Kiên ngoài bến vàm khi nãy lại văng vẳng bên tai cô: “Hồi xưa cha ông mình khai hoang lập ấp cũng nhờ vần công chung lưng đấu cật… Đất gặp nạn thì người cù lao mình cùng xắn tay áo lên gánh vác!”

Đất đai cần vần công đắp đập, vậy cớ sao đường kim mũi chỉ lại không thể vần công?

Lụa quay ngoắt vào nhà, ánh mắt rực lên ngọn lửa kiên quyết “Út Mơ! Em chạy mau ra xóm bến, ghé từng nhà rủ chị Thắm, cô Lành, con Nhàn, cả thím Năm Ve nữa… Ai rảnh rỗi muốn học nghề thêu thì qua tiệm may Cúc Áo liền nghen! Chị Hai dạy thêu miễn phí, dạy chừng nào biết làm thì thôi!”.

Út Mơ tròn xoe mắt, há hốc mồm: “Chị Hai nói thiệt hả? Nghề thêu tơ tằm này là nghề gia truyền của ba má chị để lại mà, người ta giấu như giấu vàng, sao chị lại đem dạy không công cho cả xóm?”.

Lụa mỉm cười, nụ cười đôn hậu bừng sáng cả gương mặt thanh tú: “Nghề may, nghề thêu quý là ở đôi bàn tay và cái tâm người thợ, giữ rịt cho riêng mình thì hạt lúa để trong bồ cũng mọt thôi em. Giờ tiệm mình cần người phụ, mà chị em trong xóm lại đang cần việc mần kiếm tiền sắm Tết. Mình chia sẻ với người ta, người ta sẽ cùng mình vượt qua cơn ngặt nghèo này. Em đi mau đi!”.

“Dạ! Em đi liền!” Út Mơ reo to một tiếng, xỏ vội đôi dép nhựa lẹp xẹp lao như bay ra ngõ, tiếng gọi ríu rít tan vào trong gió sớm.

Chỉ chưa đầy nửa ngày sau, hàng hiên ba gian rợp bóng mát cây vú sữa và giàn hoa tigôn của tiệm Cúc Áo đã chật kín người. Gần mười người phụ nữ trong xóm kéo đến, người mang theo chiếc ghế đẩu, người cắp theo chiếc rổ con. Họ đứng e dè trước thềm bao lơn, những đôi bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì phèn chua và bùn ruộng cứ lúng túng giấu sau vạt áo bà ba vá chằng vá đụp.

“Con Lụa ơi… Thiệt tình là mầy chịu dạy tụi tao thêu hả con?” Thím Năm Ve ngập ngừng lên tiếng, giọng run run không dám tin. “Tay chân tụi tao quen cầm cuốc, cầm liềm, cầm cái đòn gánh nặng chình ch*ch… Giờ cầm cây kim nhỏ xíu, liệu có mần hư vải lụa của mầy hổng?”

Lụa vội bước xuống thềm, ân cần dắt tay thím Năm và chị Thắm bước lên hàng hiên. Cô rót từng bát nước chè xanh ấm nóng mời mọi người, rồi bưng ra đĩa khoai mì luộc rắc muối mè thơm phức mà Thành vừa phụ chị hấp chín lúc ban trưa.

“Bà con cô bác đừng lo!” Lụa cất giọng trong trẻo, chân tình. “Hồi xưa má con dạy con, má nói bàn tay người phụ nữ xứ mình dẫu có chai sần vì dãi nắng dầm sương, nhưng sâu thẳm trong lòng ai cũng có sự khéo léo và tình thương. Cầm cuốc nuôi được gia đình thì cầm kim nhất định cũng sẽ làm đẹp được cho đời. Bữa nay con không chỉ dạy cho vui, mà con muốn chị em mình cùng làm chung đơn hàng hai mươi chiếc áo thêu này. Vạt áo nào thêu đạt, con trích tiền cọc trả tiền công sòng phẳng cho từng người để mọi người có tiền đón Tết!”.

Nghe tới hai chữ “tiền công”, đôi mắt thâm quầng vì lo toan của chị Thắm bỗng ươn ướt. Chị nghẹn ngào: “Mầy nói thiệt hả Lụa? Mấy bữa nay tao rầu muốn thắt ruột, ba thằng nhỏ đi mần mướn chưa về, trong lu còn có nửa lon gạo… Nếu kiếm được chút tiền công may vá này, tao mừng còn hơn trúng số!”.

“Thiệt mà chị! Giờ chị em mình bắt tay vô mần nghen!”

Không khí ngượng ngùng ban đầu nhanh chóng tan biến. Lụa đem ra những chiếc khung thêu tròn bằng tre cật đã được ba cô chuốt nhẵn bóng từ nhiều năm trước. Cô không vội cho mọi người thêu ngay lên lụa tơ tằm đắt đỏ, mà cẩn thận căng những miếng vải thô, vải vụn cotton lên khung để tập dợt.Lụa ngồi ở giữa chiếc chiếu bông trải rộng nơi hàng hiên, xung quanh là những ánh mắt chăm chú, háo hức dõi theo từng cử chỉ của cô.

“Thêu hoa dại bản địa này hổng có khó, nhưng đòi hỏi mình phải thả lỏng cái tâm,” Lụa vừa nói, vừa cầm một tép chỉ thêu màu tím huế. “Đầu tiên là cách se sợi chỉ. Sợi chỉ tơ tằm người ta se đôi, mình phải dùng ngón tay tách nhẹ làm hai, chỉ lấy một sợi mảnh như tơ nhện thì đường thêu mới mịn màng, không bị cộm. Rồi tới xỏ kim, chớ có l**m nước miếng dính vào chỉ làm ố màu, cứ dùng lưỡi kéo bén cắt xéo một góc là luồn qua lỗ kim êm ru”.

Mười đôi mắt dán chặt vào đôi bàn tay thon dài của Lụa. Cây kim thép nhỏ xíu thoăn thoắt đưa lên hạ xuống, kéo theo đường chỉ tím mềm như một nét vẽ.

“Cánh hoa lục bình này, mình phải dùng kỹ thuật thêu bó bạt ở phần rìa ngoài để cánh hoa có độ cong tròn, đầy đặn,” Lụa kiên nhẫn giải thích từng thao tác. “Tới phần lòng cánh hoa, mình chuyển sang thêu đâm xô. Thêu đâm xô tức là mũi chỉ này gối lên mũi chỉ kia, so le nhau. Mình đi từ màu tím thẫm nơi cuống cánh, rồi pha dần sang màu tím lạt phớt hồng, cuối cùng điểm một giọt chỉ vàng rực như ánh nắng ban mai ngay chính giữa nh** h**. Có như vậy, đóa hoa trên vạt áo mới sống động như đang trôi bềnh bồng trên mặt nước Kênh Xanh”.

Chị Thắm, thím Năm và mấy cô gái trẻ bắt đầu cầm khung thêu của mình lên. Nhưng hỡi ôi, nói thì dễ mà làm thì trầy vi tróc vảy. Những ngón tay quen cầm cán cuốc, quen bẻ bắp bưng trấu thô ráp vụng về đến tội nghiệp. Cây kim nhỏ xíu cứ trơn tuột khỏi kẽ tay.

“Ái da!” Con Nhàn kêu ré lên một tiếng, đầu ngón tay trỏ đã rướm một giọt máu tròn xoe vì bị kim đâm trúng.

“Chèn ơi, cái tay tao nó cứng như khúc gỗ, xỏ mũi kim xuống mà nó cứ xiên xẹo, chỉ rối nùi nùi như tổ quạ!” Thím Năm Ve than thở, mặt đỏ bừng ngượng nghịu tính buông khung thêu xuống.

Lụa vội ngồi xích lại gần, nhẹ nhàng cầm lấy bàn tay thím Năm. Đôi bàn tay của người phụ nữ lam lũ một đời in hằn những vết nứt nẻ sâu hoắm của phèn chua, thô ráp như vỏ cây tràm. Lụa không hề tỏ ra khó chịu, cô lấy chiếc khăn tay sạch lau nhẹ giọt máu trên tay con Nhàn, rồi vòng tay mình qua tay thím Năm, nhẹ nhàng uốn nắn từng đốt ngón tay “Hổng sao đâu thím Năm, hồi mới học may, tay con cũng bị kim đâm nát bét hà. Thím đừng gồng ngón tay dữ quá, cứ thả lỏng ra như mình đang ngắt đọt rau lang ngoài vườn vậy đó. Nè, thím đâm kim vuông góc với mặt vải, ngón trỏ tay trái đỡ phía dưới để cảm nhận mũi kim đi tới đâu, kéo sợi chỉ vừa tay thôi, đừng giật mạnh kẻo nhăn mặt lụa… Đó, thím coi, mũi chỉ này thẳng thớm rồi nè!”.

Được Lụa kiên nhẫn cầm tay chỉ việc, thím Năm thở phào một cái, nụ cười móm mém bừng nở trên gương mặt nhăn nheo. Những mũi kim tiếp theo của thím đã bắt đầu đi vào nề nếp.

Bên góc chõng tre, Thành không chịu ngồi yên. Cậu chống gậy đứng dậy, khập khiễng bước lại gần bàn cắt vải.

“Chị Hai, để em phụ chị phân loại chỉ thêu cho các cô, các chị nghen!” Thành vui vẻ nói.

Cậu thiếu niên mười tám tuổi, dù một chân còn đang bó bột nặng trịch, nhưng đôi mắt sáng ngời và đôi bàn tay thư sinh thoăn thoắt chia các tép chỉ màu vào từng chiếc rổ mây nhỏ: màu tím lục bình, màu trắng hoa bần, màu vàng hoa so đũa, màu xanh lá mạ của cọng bèo tây. Chưa hết, Thành còn lấy cuốn sổ tập học trò bìa xanh ra, nắn nót ghi chép lại họ tên từng người phụ trách thêu vạt áo nào, số đo vòng ngực, vòng eo của từng chiếc áo theo bảng danh sách mà phòng văn hóa thị xã đã giao.

“Cậu Thành học giỏi có khác, chữ viết đẹp như rồng bay phượng múa, tính toán đâu ra đó!” Chị Thắm tấm tắc khen ngợi, làm Thành đỏ bừng cả hai tai, ngượng ngùng cúi đầu cười trừ.

Tiếng lách cách của kéo cắt vải, tiếng sột soạt của sợi tơ luồn qua mặt vải căng phơi phới, tiếng ríu rít cười đùa của chị em phụ nữ làm rộn rã cả một góc cù lao. Những câu chuyện đời, chuyện xóm giềng mộc mạc cứ thế tuôn chảy tự nhiên: chuyện mùa gió chướng năm nay lạnh hơn mọi bận, chuyện đám cưới con gái bác Tám ngoài vàm kênh, chuyện cống ngăn mặn của chú kỹ sư Triết… Những âu lo, túng quẫn cơm áo gạo tiền đè nặng bấy lâu bỗng chốc nhẹ tênh theo từng đường kim mũi chỉ.

Đến xế chiều, khi nắng vàng như mật đổ dài trên mặt kênh, những bông hoa thêu đầu tiên trên nền vải thô đã thành hình. Tuy chưa thật sự tinh xảo như tay nghề mười mấy năm của Lụa, nhưng những cánh hoa lục bình của chị Thắm, đóa hoa bần của cô Lành đã toát lên cái hồn mộc mạc, sống động lạ kỳ.

Lụa cẩn thận kiểm tra từng khung thêu, gật đầu mãn nguyện. Cô bước vào gian trong, mở chiếc hộp sắt bánh quy đựng tiền cọc. Lụa lấy ra những tờ tiền giấy bạc mới tinh mệnh giá mười ngàn, hai mươi ngàn đồng xếp ngay ngắn thành từng phần.

Bước ra hiên, Lụa trân trọng trao tận tay từng người “Bữa nay chị em mình mần giỏi lắm! Đây là phần tiền công con tạm ứng trước cho mỗi người năm chục ngàn đồng. Ngày mai, chị em mình sẽ chính thức thêu lên vạt áo lụa tơ tằm thiệt nghen!”.

Cầm xấp tiền còn thơm mùi giấy mới trong tay, chị Thắm đứng chết trân, hai bàn tay run rẩy như không tin vào mắt mình. Năm mươi ngàn đồng thời giá năm 1992 là một số tiền không hề nhỏ đối với một gia đình nghèo ở cù lao – đủ để đong một bao gạo trắng hai mươi ký, mua mấy ký thịt ba rọi ướp nước mắm kho tàu và sắm thêm cho hai đứa nhỏ hai đôi dép nhựa mới diện Tết.

Nước mắt chị Thắm bỗng trào ra, rớt lã chã xuống mu bàn tay chai sạn: “Lụa ơi… Tao… tao cảm ơn mầy nhiều lắm con ơi! Hồi trưa bước chân qua đây tao còn tính quẩn, sợ Tết này hổng có tiền mua gạo cho con… Ai dè nhờ đường kim mũi chỉ của mầy mà mẹ con tao có cái Tết ấm no rồi!”.

Thím Năm Ve cũng lau vội khóe mắt cay xè: “Đúng là trời Phật hổng triệt đường sống của người nghèo. Mầy hổng những dạy nghề cho tụi tao, mà còn cho tụi tao thấy cái nghề này nó đáng quý biết bao nhiêu!”.

Nhìn những nụ cười rạng rỡ hòa cùng giọt nước mắt hạnh phúc của những người phụ nữ cù lao, Lụa thấy lồng ngực mình trào dâng một niềm xúc động thiêng liêng. Cô hiểu rằng, tiệm may Cúc Áo không chỉ là nơi lưu giữ di nguyện của ba má, không chỉ là nơi cô kiếm tiền nuôi em trai ăn học, mà giờ đây nó đã trở thành điểm tựa sinh kế, thắp lên ngọn lửa hy vọng tự chủ cho những mảnh đời nghèo khó quanh bờ Kênh Xanh.

Ráng chiều đỏ quạch nơi chân trời xa dần lụi tàn, nhường chỗ cho màn đêm đen kịt buông xuống cù lao Tân Bình. Gió chướng thổi rít từng cơn qua hàng dừa nước, mang theo hơi lạnh buốt giá của đợt rét muộn.

Đã quá giờ cơm chiều, nhưng không một ai chịu ra về. Chị em phụ nữ ai nấy đều tiếc từng phút từng giây, muốn nấn ná ở lại thêu thêm vài mũi cho kịp tiến độ để Lụa an lòng.

Thế nhưng, khó khăn ngặt nghèo nhất của vùng cù lao nghèo lúc bấy giờ lập tức phơi bày khi bóng tối ập đến.

Ở xóm cù lao này, điện lưới quốc gia vẫn còn là một giấc mơ xa vời vợi nằm bên kia sông lớn. Đêm xuống, cả làng chìm trong bóng đen đặc quánh, chỉ có ánh trăng mờ ảo và những đốm sáng lập lòe từ những ngọn đèn dầu hột vịt, đèn hoa kỳ leo lét.

Út Mơ vội vàng đi châm dầu hỏa vào ba chiếc đèn dầu nhỏ, đặt rải rác trên chiếc bàn gỗ mít dài và chõng tre. Ngọn lửa vàng vọt, tù mù như hạt đỗ chỉ tỏa ra một quầng sáng yếu ớt chưa đầy gang tay, xung quanh chập chờn những bóng đen ma quái lay động theo từng cơn gió lùa qua kẽ liếp.

“Chèn ơi… Tối quá, con mắt tao quáng gà hổng thấy rõ đường chỉ nữa rồi,” thím Năm Ve nheo mắt lại, dí sát khung thêu vào tận bóng thủy tinh của ngọn đèn dầu.

Khói dầu hỏa khét lẹt bốc lên từ tim đèn, gặp gió chướng thổi tạt vào mặt làm mắt ai nấy đều cay xè, nước mắt chực ứa ra. Để nhìn rõ từng sợi tơ tằm mảnh dẻ và những mũi thêu đâm xô li ti, chị em phải còng rạp cả lưng xuống, mặt gần như chạm sát vào ngọn lửa đèn dầu leo lét. Đôi vai họ mỏi nhừ, lưng đau ê ẩm, từng đường kim hạ xuống bắt đầu ngập ngừng, chậm chạp hẳn đi.

Lụa ngồi ở đầu bàn, vừa hướng dẫn vừa nheo mắt thùa khuy cho một chiếc áo đã cắt xong. Khói đèn hun mắt cô cay rát, thái dương giật lên từng cơn đau buốt. Nhìn bóng người chập chờn trong ánh sáng tù mù, nỗi bất an lại trào dâng trong lòng Lụa. Cứ làm việc trong cảnh tranh tối tranh sáng thế này, tiến độ không thể nào nhanh được, chưa kể mắt mũi chị em sẽ mờ hết trước khi xong đơn hàng.

Bỗng nhiên, một tiếng thét hốt hoảng của chị Thắm phá tan bầu không khí tĩnh mịch “Ối trời đất ơi! Cháy… cháy áo rồi!”

Mọi người giật nảy mình nháo nhác. Do quá mỏi mắt và cúi sát vào ngọn đèn để nhìn đường kim, tay chị Thắm run lên, vô tình quẹt vành khung thêu vào bóng đèn dầu hoa kỳ. Một tàn muội đèn đỏ rực rớt xuống, bén ngay vào vạt áo lụa tơ tằm màu trắng ngà đang căng trên khung!

Ngọn lửa nhỏ xíu bùng lên một tiếng xèo, mùi vải tơ tằm cháy khét lẹt lập tức bốc lên nồng nặc.

“Dập mau! Lấy vạt khăn dập mau!” Thành hốt hoảng chống gậy hét to.

Lụa phản ứng nhanh như chớp. Cô lao bổ tới, không màng nguy hiểm dùng chính lòng bàn tay của mình chụp mạnh lên đốm lửa, dập tắt ngúm tàn muội than đang âm ỉ cháy trước khi nó kịp bùng to.

Chiếc áo lụa được cứu thoát trong gang tấc. Nhưng khi Lụa run rẩy nhấc tay ra, dưới ánh đèn dầu leo lét vàng vọt, tất cả mọi người đều chết lặng, bàng hoàng không thốt nên lời.

Ngay nơi góc vạt trước của chiếc áo lụa tơ tằm trắng ngà – nơi dự định sẽ thêu chùm hoa bần tuyệt mỹ – một lỗ thủng tròn bằng đầu ngón tay cái đã bị cháy sém đen sì, viền vải co quắp lại, nham nhở như một vết thương rỉ máu.

Chiếc khung thêu trên tay chị Thắm rơi đánh cạch xuống nền đất. Người phụ nữ nghèo ngồi thụp xuống chiếu, ôm mặt bật khóc nức nở trong nỗi ân hận tột cùng “Lụa ơi… Tao có tội với mầy, tao làm hư xấp lụa quý của mầy rồi! Trời ơi là trời, tao đui mù chi mà để tàn đèn rớt trúng… Tao biết lấy tiền đâu mà đền cho mầy đây Lụa ơi!”.

Cả gian hàng hiên bỗng chốc lặng ngắt như tờ, chỉ còn lại tiếng nấc nghẹn ngào của chị Thắm và tiếng gió chướng rít qua khe liếp lạnh buốt. Mấy chị em thợ thêu nhìn nhau, nét mặt ai nấy đều tái nhợt, đôi mắt cay xè nhìn ngọn đèn dầu hạt đỗ đang chập chờn như sắp tắt.

Lụa quỳ xuống bên chị Thắm, nhẹ nhàng ôm lấy đôi vai đang run rẩy của chị. Bàn tay cô, nơi vừa áp vào đốm lửa dập tàn than, còn rát bỏng và đỏ ửng. Nhưng nỗi đau trên da thịt chẳng thấm tháp gì so với nỗi xót xa, nghẹn đắng đang dâng trào trong lồng ngực cô gái trẻ.

Cô ngước nhìn ngọn đèn dầu tù mù, khói đen vẫn bốc lên cay xè, nhuộm đen một góc vách gỗ. Một tấm vải lụa tơ tằm đắt đỏ đã bị hủy hoại chỉ vì một đốm tàn đèn rơi rớt trong đêm tối. Nếu không có ánh sáng, làm sao những đôi bàn tay lam lũ này có thể thêu nên giấc mơ đổi đời giữa màn đêm mịt mùng của cù lao? Nỗi bất lực trước sự tăm tối, nghèo nàn của quê hương như một tảng đá ngàn cân đè nặng lên trái tim Lụa, khiến giọt nước mắt kìm nén bấy lâu cuối cùng cũng lăn dài trên má.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.