Chương 15: Bản Vẽ âu Thuyền Và Lòng Bô Lão
Trần Minh Triết xách chiếc nẹp tre vừa gọt lại cho nhẵn thèm bước qua rặng dâm bụt trổ bông đỏ chói mé ngõ tiệm may Cúc Áo. Nắng xế chiều rây từng vệt vàng như mật qua tàn dừa nước, rớt lên bến kênh đang độ nước ròng trơ ra từng bãi bồi xám xịt phù sa. Đang định cất tiếng gọi Thành để xem cái chân bó bột của cậu em đỡ nhức buốt chưa, bước chân Triết chợt khựng lại khi thấy thím Ba Cúc cùng hai người phụ nữ lạ mặt bận đồ âu sang trọng, tay xách cặp da, vừa cười nói rôm rả vừa rảo bước ra mé lộ làng.
Linh tính của một người quen quan sát chi tiết mách bảo Triết có điều chi đó vừa xảy ra. Anh vội rảo bước qua khoảng sân phơi đầy hoa mười giờ, bước lên bậc thềm tam cấp lót gạch tàu cũ kỹ.
Bên trong gian nhà ba gian thơm ngai ngái mùi vải mới, bầu không khí dường như đặc quánh lại. Trần Minh Triết sững người khi nhìn thấy Lụa. Cô thợ may trẻ đứng chết lặng giữa bàn cắt gỗ mít dài, hai bàn tay thon gầy ôm chặt lấy một xấp tiền cọc năm trăm ngàn đồng dày cộm buộc dây thun. Gương mặt Lụa tái nhợt, đôi mắt đen láy vốn luôn phẳng lặng như mặt nước mùa thu giờ đây mở to thất thần, run rẩy dán chặt vào tờ giấy ghi danh sách số đo và thời hạn bàn giao đặt trên mặt bàn.
“Cô Lụa? Có chuyện chi vậy cô?” Triết bước nhanh tới, giọng anh trầm ấm nhưng không giấu nổi vẻ lo lắng.
Tiếng gọi của Triết kéo Lụa giật thót mình thoát khỏi cơn bàng hoàng. Cô ngước nhìn anh, bờ môi mỏng khẽ mấp máy, giọt nước mắt nghẹn ngào chực trào nơi khóe mi “Anh Triết… Hai mươi bộ áo bà ba lụa tơ tằm thêu tay… Họ… họ đòi giao đúng mùng mười tháng Giêng để diễn văn nghệ toàn tỉnh. Chỉ còn… đúng mười lăm ngày nữa thôi anh…”
Triết cúi xuống, đưa mắt lướt nhanh qua dòng chữ mực xanh nắn nót ở cuối bản hợp đồng: “Số lượng: đúng 20 bộ áo bà ba lụa tơ tằm thêu tay tinh xảo. Thời hạn bàn giao toàn bộ: ngày mùng mười tháng Giêng…”
Trái tim Triết thắt lại một nhịp. Là một kỹ sư công trình quen tính toán khối lượng và ngày công, anh hiểu rành rọt con số đó tàn khốc đến mức nào. Một chiếc áo bà ba lụa tơ tằm thêu tay tỉ mỉ từng cánh hoa dại bản địa phải mất ít nhất hai đến ba ngày làm việc miệt mài của một người thợ lành nghề. Huống chi, hiện tại tiệm may chỉ có mình Lụa là thợ chính, Út Mơ mới chập chững cầm kim, còn Thành thì đang nằm bất động trên chõng tre với cái chân bó bột. Mười lăm ngày vắt qua cả ba ngày Tết bận rộn, đó là một khối lượng công việc vượt ngoài sức chịu đựng của một người con gái mảnh mai.
Từ gian trong, nghe tiếng chị run rẩy, Thành chống cây gậy tre tập tễnh bước ra mé cửa buồng, giọng cậu thiếu niên nghẹn lại “Chị Hai… Hay là mình trả cọc lại cho người ta đi chị? Em… em không đi thi đợt này cũng được, em ở nhà phụ chị làm vườn…”
“Bậy nè Thành!” Triết nghiêm giọng ngắt lời, anh quay sang nhìn thẳng vào mắt Lụa, ánh nhìn cương nghị sau cặp kính cận gọng đồi mồi như truyền sang cô một luồng hơi ấm vững chãi. “Cô Lụa, đây là cơ hội ngàn năm có một để tiệm Cúc Áo chứng minh giá trị của tà áo bà ba truyền thống, cũng là cánh cửa mở ra tương lai cho thằng Thành. Cầm được năm trăm ngàn tiền cọc nghĩa là người ta đã trân quý tài năng của cô đến nhường nào. Đừng vội nản lòng. Chuyện khó tới đâu cũng có cách gỡ, người cù lao mình hồi nào tới giờ đâu có chịu đầu hàng số phận. Cô cứ bình tâm suy tính, nếu cần người phụ giúp việc lặt vặt, tôi và anh em ngoài công trường sẵn sàng xắn tay áo làm tiếp cô!”
Lời nói mộc mạc mà chắc như đinh đóng cột của chàng kỹ sư trẻ khiến lồng ngực Lụa khẽ run rẩy. Cô hít một hơi thật sâu, chùi nhẹ giọt nước mắt vương trên khóe mắt, nhìn xấp tiền rồi nhìn sang Triết. Nỗi kinh hoàng nghẹt thở ban nãy dường như vơi bớt đi đôi phần trước sự hiện diện điềm đạm của anh.
Nhìn dáng vẻ cố nén âu lo để gượng cười của Lụa, trong lòng Triết cuộn lên một nỗi niềm sâu kín. Cô gái nhỏ nhắn ấy đang phải gồng mình gánh vác cả gia đình, đối diện với những thử thách nghiệt ngã của cuộc mưu sinh mà không một lời than vãn. Còn anh, một người đàn ông mang danh kỹ sư ăn học đàng hoàng, mang theo cả hoài bão cứu vãn vùng đất cù lao ngập mặn này, lẽ nào lại chịu chùn bước trước những rào cản kỹ thuật và định kiến của xóm làng?
Sau khi ân cần thay chiếc nẹp tre mới cho Thành và dặn dò cậu nghỉ ngơi, Triết lặng lẽ quay trở về trạm khảo sát bên mé vàm Kênh Xanh.
Bóng chiều đã sụp xuống tự lúc nào. Gió chướng cuối năm thổi thốc từng cơn ràn rạt qua rặng bần già, mang theo vị mằn mặn ngai ngái của con nước biển Đông bắt đầu lấn sâu vào cửa sông. Căn lán trại dựng tạm bằng tre lá của đội thủy lợi rung lên bần bật theo từng đợt gió. Trên chiếc bàn ghép bằng những tấm ván coffa gồ ghề, ngọn đèn măngxông tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, soi rõ gương mặt hốc hác, râu ria lởm chởm vì thiếu ngủ của Triết.
Suốt mấy ngày đêm qua, Triết không tài nào chợp mắt nổi. Từng lời nói nghẹn ngào xen lẫn uất ức của ông Bảy Kiên trong đêm giỗ anh Hai Thuận vẫn văng vẳng bên tai anh: “Tụi tao sống nhờ con nước, đi lại bằng cái xuồng, con cá con tôm nuôi sống mấy đời. Cống đập của tụi bây bít kín vàm kênh, ghe xuồng chở bưởi chở dừa đi đường nào? Cá tôm làm sao vô đồng đẻ trứng? Tụi bây chặn dòng nước là bóp nghẹt đường sống của dân cù lao này rồi!”
Đó không phải là sự gàn dở bảo thủ vô cớ. Đó là tiếng lòng đau đáu của những người nông dân cả đời gắn ruột rà với sông nước Cửu Long. Một công trình thủy lợi ngăn mặn nếu chỉ biết cắm những tấm cửa van thép sừng sững để chắn nước, biến lòng kênh Xanh thành một cái ao tù bế tắc, thì dẫu có ngăn được mặn cũng vô tình bẻ gãy tập quán sinh hoạt bao đời của người dân.
Nghĩ tới đó, Triết vùng dậy, trải một cuộn giấy can lớn lên mặt bàn, dùng những hòn sỏi chặn bốn góc. Đôi bàn tay đầy vết chai sần và xước xát do lội bùn đo đạc cẩn thận cầm lấy chiếc thước chữ T và cây bút chì kỹ thuật.
Anh bắt đầu phác thảo lại toàn bộ sơ đồ mặt bằng cụm đầu mối cống Kênh Xanh. Thay vì phương án cống hộp đóng kín đơn thuần như thiết kế ban đầu của Ty Thủy lợi, Triết quyết định táo bạo bổ sung một hạng mục hoàn toàn mới: một âu thuyền nhỏ nằm nép về bờ hữu của dòng kênh.
Ngòi bút chì lướt thoăn thoắt trên mặt giấy can, kéo theo những đường nét mạch lạc, chuẩn xác. Triết tính toán chi tiết từng kích thước: buồng âu thuyền dài mười lăm mét, rộng ba mét rưỡi, đủ cho hai chiếc xuồng ba lá hoặc một chiếc ghe tam bản chở nặng nông sản đi lọt. Hệ thống van đóng mở hai đầu được bố trí so le, vận hành dựa trên nguyên lý cân bằng mực nước. Khi con nước lớn ròng chênh lệch, buồng âu sẽ đóng vai trò như một bậc thang nước trung gian, giúp ghe xuồng của bà con dễ dàng qua lại giữa sông Cái và lòng kênh Xanh mà không để một giọt nước mặn nào rò rỉ vào nội đồng. Hơn thế nữa, các cửa van ngầm dưới đáy âu thuyền còn được thiết kế dạng lưới chắn rác di động, mở he hé theo con nước triều để dòng phù sa màu mỡ và ấu trùng tôm cá vẫn có thể men theo con nước ngọt ùa vào đồng bãi.
Triết miệt mài vẽ, tẩy, rồi lại đặt compa đo đạc cao trình đáy kênh. Mồ hôi túa ra trên trán, chảy ròng ròng xuống sống mũi làm mờ cả tròng kính cận. Anh lấy vạt áo sơ mi quẹt vội, trong đầu chỉ đau đáu một ý nghĩ duy nhất: phải làm sao cho dòng nước ngọt chảy về mà lòng dân không bị nghẽn lại.
“Cậu điên rồi Triết! Cậu thật sự mất trí rồi!”
Một tiếng thét thất thanh vang lên xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của lán trại. Kỹ sư Hoàng – đồng nghiệp cùng khóa của Triết ở Ty Thủy lợi, người chịu trách nhiệm giám sát thi công – vừa bước vào lán, nhìn thấy bản vẽ mới tinh trên bàn liền trợn trừng mắt, hai tay ôm lấy đầu.
Hoàng giật phắt cây bút chì trên tay Triết, chỉ thẳng vào bản vẽ âu thuyền “Cậu có biết mình đang làm cái quái gì không hả Triết? Đồ án cống Kênh Xanh này đã được Ủy ban tỉnh và Ty Thủy lợi phê duyệt từ nửa năm trước! Từng đồng ngân sách, từng khối bê tông, từng cây cọc cừ tràm đều đã được chốt cứng ngắc trong dự toán. Bây giờ cậu tự ý vẽ thêm một cái âu thuyền, cậu có biết nó sẽ đội kinh phí lên bao nhiêu không? Ai sẽ rót thêm tiền cho cậu? Rồi thời gian đào đắp, gia cố móng âu thuyền sẽ kéo dài thêm ít nhất ba tuần lễ! Mùa hạn mặn đang lù lù ập tới sau lưng, nếu trễ tiến độ, mặn tràn vô làm chết trắng mấy ngàn hécta vườn bưởi, lúc đó ai sẽ đứng ra chịu kỷ luật trước Tỉnh ủy? Là tôi với cậu đó!”
Gương mặt Hoàng đỏ gay vì giận dữ và hoảng hốt. Anh ta đi đi lại lại trong gian lán chật chội, hơi thở dồn dập.
Trước sự giận dữ của bạn đồng nghiệp, Triết vẫn giữ vẻ điềm đạm lạ lùng. Anh tháo cặp kính cận xuống, dùng chiếc khăn rằn lau nhẹ tròng kính rồi từ tốn đeo lại. Ánh mắt anh nhìn thẳng vào Hoàng, bình thản mà cương quyết “Anh Hoàng, tôi hiểu hết những điều anh vừa nói. Tôi biết làm vậy là mạo hiểm, là tự tròng dây vào cổ mình. Nhưng anh thử bước ra ngoài mé kênh mà coi, cọc tiêu đo đạc của mình bị dân nhổ vứt xuống bùn, bà con không ai chịu vần công đào một tấc đất, vật tư máy móc nằm chết trân ở bến. Tại sao vậy? Tại vì người ta sợ! Người ta sợ cái cống của mình b*p ch*t đường mưu sinh của họ. Một công trình thủy lợi dựng lên bằng bê tông cốt thép để cứu dân, mà dân người ta căm ghét, người ta chống đối thì công trình đó có ý nghĩa gì nữa?”
Triết tiến lại gần, đặt tay lên vai Hoàng, giọng trầm xuống đầy tha thiết “Âu thuyền này không làm tốn thêm nhiều xi măng đâu anh. Tôi đã tính kỹ rồi, vách âu thuyền chúng ta tận dụng cọc cừ tràm sẵn có kết hợp rọ đá hộc kè bờ, van âu thuyền dùng khung gỗ sao bọc tôn chống rỉ, bà con thợ mộc ở cù lao này dư sức gia công được. Còn về tiến độ, chỉ cần bà con thông suốt cái bụng, cả làng cùng xúm vô vần công đào đất thì ba tuần công việc chỉ cần làm trong mười ngày là xong! Toàn bộ trách nhiệm giải trình với Ty Thủy lợi, một mình tôi sẽ đứng tên ký biên bản cam kết. Nếu thất bại, tôi xin chịu kỷ luật cách chức, rời khỏi ngành. Nhưng xin anh, hãy để tôi đem bản vẽ này đi thuyết phục bà con một lần!”
Hoàng sững sờ nhìn Triết. Trong ánh mắt rực lửa của chàng kỹ sư trẻ tuổi, anh không nhìn thấy sự bốc đồng của một kẻ duy ý chí, mà chỉ thấy một tấm lòng trong trẻo, đau đáu vì mảnh đất này đến quên cả bản thân. Hoàng thở dài một hơi thật thượt, buông thõng hai tay xuống, lẩm bẩm “Cậu… cậu đúng là gàn dở hết thuốc chữa, Triết à. Thôi được rồi, tôi không cản cậu nữa. Nhưng cậu liệu mà ăn nói với ông Bảy Kiên. Lão già đó dữ như chằn lửa, không dễ gì qua mắt được ổng đâu!”
Triết mỉm cười, ánh mắt ánh lên tia hy vọng: “Cảm ơn anh, Hoàng!”
Trời vừa hửng sáng, sương mù còn giăng mờ mịt trên những ngọn dừa nước ven bờ kênh, Triết đã cẩn thận cuộn tròn tập bản vẽ kỹ thuật vào ống nứa, khoác chiếc xắc cốt bạc màu lên vai rồi lội bộ sang xóm trong.
Ngôi nhà ba gian rợp bóng mát của ông Bảy Kiên nằm nép mình bên vườn bưởi da xanh đang kỳ trút lá chuẩn bị ra hoa. Đẩy cánh cổng rào tre kêu cọt kẹt, Triết bước vào sân. Trên hàng hiên gạch tàu quét dọn sạch bong, ông Bảy Kiên đang ngồi xếp bằng trên chiếc chõng tre, thong thả nhấp từng ngụm trà sen thơm ngát.
Điều đầu tiên đập vào mắt Triết là chiếc áo bà ba chần bông nỉ màu xanh chàm mà ông Bảy đang bận trên người. Từng đường kim mũi chỉ chần trám tỉ mỉ của Lụa ôm vừa vặn lấy bờ vai quắc thước của ông lão, vạt áo phẳng phiu che chở cho tấm lưng còng trước những cơn gió chướng buốt lạnh sáng sớm.
“Cháu chào bác Bảy ạ,” Triết đứng dưới sân, vòng tay lễ phép cất tiếng chào.
Ông Bảy Kiên ngừng tay nâng tách trà, ngước mắt nhìn Triết. Ánh mắt ông vẫn nghiêm nghị, quắc thước như mọi khi, nhưng cái vẻ gay gắt, thù địch của những ngày đầu họp đình làng dường như đã biến mất hoàn toàn, thay vào đó là sự dò xét trầm ngâm.
“Ủa, chú kỹ sư đó hả? Sớm mai gió lạnh dữ hôn mà lội bộ qua đây chi vậy? Lên đây ngồi uống miếng trà cho ấm bụng đã,” ông Bảy cất giọng trầm trầm, đưa tay chỉ chiếc ghế đẩu đối diện.“Dạ, cháu cảm ơn bác.”
Triết bước lên hiên, cẩn thận tháo đôi dép rọ dính đầy bùn đất để ngoài thềm rồi ngồi xuống. Nhấp ngụm trà sen ấm nóng thơm lừng nơi đầu lưỡi, Triết không vòng vo mà mở ống nứa, trải rộng tấm bản vẽ can phẳng phiu lên mặt bàn gỗ mít.
Ông Bảy Kiên nhướng đôi mày bạc, nhìn những hình vẽ chi chít đường nét, vòng tròn và con số kỹ thuật rối rắm “Cái giống chi đây chú? Lại là mấy cái sơ đồ chặn sông chặn rạch của mấy chú nữa hả?”
“Dạ thưa bác Bảy, cháu đem cái này sang để bác coi và chỉ dạy thêm cho cháu,” Triết từ tốn nói, giọng anh mộc mạc và chân thành. “Hôm trước nghe bác răn dạy ở đình làng và hôm sang ăn giỗ anh Hai Thuận, cháu trằn trọc suốt mấy đêm liền. Bác nói trúng ngay tim đen của tụi cháu: người cù lao mình sống nhờ con nước, chiếc xuồng ba lá là đôi chân, con cá con tôm là chén cơm manh áo. Nếu cống đập chỉ biết chặn đứng dòng nước lại thì dẫu có ngăn được mặn, cũng là làm khổ bà con.”
Nghe nhắc đến tên con trai và nỗi trăn trở của xóm làng, bàn tay ông Bảy Kiên khẽ run lên. Ông đưa tay mân mê mép tà áo chần bông ấm áp của Lụa, nơi có thêu chìm hai chữ “Bình An”, đôi mắt nhìn chằm chằm vào chàng kỹ sư trẻ “Biết vậy rồi sao còn ráng làm?”
“Dạ, nên cháu đã thức trắng đêm để sửa lại toàn bộ bản vẽ này!” Triết chồm người tới, ngón tay anh chỉ vào vệt cong mềm mại nép sát bờ kênh trên bản vẽ. “Bác coi nè, chỗ này cháu không đắp đập bít bùng nữa, mà cháu mở một cái ‘âu thuyền’. Cháu nói theo cách nhà nông mình cho dễ hiểu nghen bác: cái âu thuyền này nó giống hệt như một cái bến đò có hai tầng cửa. Khi ghe xuồng của bác hay bà con chở bưởi từ trong vườn đi ra sông Cái, cửa ngoài sông vẫn đóng kín để ngăn nước mặn. Chiếc xuồng bơi vô cái vũng nước ở giữa này, cửa sau lưng đóng lại. Sau đó, tụi cháu mở hé cái van xả nước, mực nước trong buồng âu sẽ từ từ dâng lên hoặc hạ xuống cho bằng với mặt nước sông ngoài kia. Lúc đó mở cửa trước ra, chiếc xuồng bơi thẳng ra sông Cái êm ru, không tốn một giọt mồ hôi, mà nước mặn cũng hổng thể nào tràn lọt vô vườn bưởi của bác được!”
Ông Bảy Kiên nheo mắt lại, cúi sát đầu xuống tờ giấy can. Đôi bàn tay gầy guộc đầy vết đồi mồi của ông lão làm vườn cả đời gắn bó với đất đai chầm chậm lần theo từng đường chỉ bút chì của Triết.
“Còn… còn con cá con tôm thì sao? Mày tính bít đường tụi nó luôn hả?” Ông Bảy gặng hỏi, giọng đã mềm đi rất nhiều.
“Dạ không bác!” Triết hào hứng chỉ vào phần đáy cống. “Dưới đáy cửa van này, cháu đặt một hệ thống phai ngầm có lưới chắn bèo. Tới con nước rong ngày rằm hay mùng một, khi triều cường dâng cao mang theo nước ngọt phù sa ngoài sông lớn đẩy lùi mặn, cửa phai này sẽ tự động nâng lên theo con nước. Tôm cá, phù sa cứ theo dòng nước ngọt đó mà lội ngược vô kênh Xanh đẻ trứng. Mình vừa giữ được nước ngọt tưới tiêu, vừa không làm đứt mạch sống tự nhiên của cù lao mình!”
Gian hiên nhà bỗng chìm vào một sự im lặng kỳ lạ. Chỉ có tiếng gió chướng xào xạc trên tàn lá dừa và tiếng róc rách của con nước ròng dưới bến kênh.
Ông Bảy Kiên ngồi bất động, đôi mắt già nua đăm đăm nhìn vào từng nét vẽ tâm huyết của Triết. Ông thấy rõ những vết tẩy xóa chằng chịt, những giọt mồ hôi khô đóng thành vệt tròn trên góc giấy, và cả đôi mắt thâm quầng vì thức trắng của chàng kỹ sư thị thành. Mười lăm năm trước, con trai ông ngã xuống trên công trường thủy nông cũng chỉ vì sự tắc trách, áp đặt máy móc của những kẻ ngồi bàn giấy coi rẻ tính mạng con người. Nhưng hôm nay, người thanh niên trẻ tuổi này, con của một gia đình khá giả ở tỉnh lỵ Cần Thơ, lại chịu hạ mình lội bùn đo từng tấc đất, chịu thức trắng đêm lắng nghe nỗi đau của một ông già làm vườn để sửa đổi từng nét vẽ vì sự an nguy của dân làng.
Bàn tay ông Bảy khẽ siết chặt tà áo bà ba chần bông. Tấm lòng thơm thảo của Lụa qua manh áo ấm và sự tận tụy đến gan ruột của Triết qua bản vẽ âu thuyền như hai ngọn lửa ấm áp, làm tan chảy hoàn toàn tảng băng định kiến nghi kỵ đã đóng chặt trong lòng ông suốt mười mấy năm trời.
Ông Bảy ngả người ra lưng ghế tre, thở hắt ra một hơi dài, chòm râu kẽm hoa râm khẽ rung rinh. Ông vỗ mạnh một cái đét xuống mặt bàn gỗ mít “Khá lắm! Chú em tính toán được như vầy… là cái bụng có nghĩ tới dân cù lao này thiệt lòng!”
Triết nghe tim mình đập thình thịch, ngực nghẹn ngào: “Dạ… vậy bác Bảy thấy phương án này có ổn hổng bác?”
Ông Bảy đứng bật dậy, dáng người quắc thước như một cây tràm già sừng sững giữa gió chướng. Ông nhìn Triết, trong ánh mắt đã ngập tràn sự tin cậy và ấm áp của người đi trước “Ổn! Rất trúng ý tao! Mày cuộn bản vẽ lại đi. Trưa nay cơm nước xong, tao với mày ra đình làng. Cái miệng thằng Bảy Kiên này hồi trước chê bai công trình của mày làm bà con hoang mang, thì chiều nay, đích thân cái miệng này sẽ nói cho cả làng nghe để tụi nó xúm vô phụ mày!”
Lời hứa của ông Bảy Kiên như một tiếng sét xua tan bầu không khí ảm đạm bấy lâu nay của công trường Kênh Xanh.
Đúng ba giờ chiều hôm đó, tiếng chiêng đồng ở đình làng Tân Bình gióng lên từng hồi dõng dạc. Dưới bóng mát rượi của cây bồ đề cổ thụ trước sân đình, hàng trăm bô lão, chủ vườn bưởi và thanh niên trai tráng trong xã đã tề tựu đông đủ. Không khí ban đầu vẫn còn đầy vẻ e dè, tiếng xầm xì bàn tán nghi ngại về chuyện đắp đập ngăn kênh vẫn râm ran khắp các góc chiếu.
Thế nhưng, khi ông Bảy Kiên bước lên bậc thềm đình, bận chiếc áo bà ba chần bông xanh chàm tề chỉnh, mọi tiếng xào xạc bỗng im bặt. Ai nấy đều nín thở chờ đợi lời phán quyết của bậc bô lão uy tín nhất vùng cù lao.
Ông Bảy đứng thẳng lưng, giọng rền vang như sấm sét “Thưa bà con cô bác xóm giềng! Mấy tháng nay, thằng Bảy Kiên tao là đứa phản đối cái cống Kênh Xanh này dữ dội nhất. Tao sợ đứt long mạch, tao sợ bế tắc ghe xuồng, tao sợ con cá con tôm bỏ xứ này mà đi! Nhưng bữa nay, tao đứng đây để nói với bà con một lời công bằng: chú kỹ sư Triết đây đã vì bà con mình mà sửa lại bản vẽ, làm thêm cái âu thuyền cho xuồng ghe qua lại, làm cửa phai cho tôm cá phù sa vô đồng!”
Ông Bảy đưa tay chỉ về phía Triết đang đứng nghiêm trang bên cạnh “Người ta có học, có chức có quyền mà chịu thức trắng đêm, chịu lội bùn lắng nghe người già nhà quê như tao chỉ dạy, thì cái tâm đó là vì dân mình chớ hổng phải vì ai khác! Nước mặn ngoài biển Đông đang lù lù tràn vô sông Tiền, vườn bưởi, ruộng lúa của cù lao mình sắp chết khát tới nơi rồi. Hồi xưa cha ông mình khai hoang lập ấp cũng nhờ vần công chung lưng đấu cật. Giờ tao hỏi thiệt bà con: đất cù lao nuôi sống mình, giờ đất gặp nạn, bà con có chịu xắn tay áo vần công đắp đập cứu vườn tược xứ mình không?”
Lời nói gan ruột, hào sảng của ông Bảy Kiên vừa dứt, một khoảng lặng xúc động bao trùm sân đình. Rồi bỗng nhiên, bác Tám vườn cam đứng phắt dậy hô to: “Có bác Bảy đứng mũi chịu sào, tụi tui tin! Tui xin góp năm công đất và hai người làm!”
“Nhà tui có bốn thằng con trai, ngày mai tui dắt tụi nó vác cuốc xẻng ra vàm kênh tiếp sức chú Triết!” Một bác nông dân khác vung tay hưởng ứng.
Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay rầm rộ vang dội cả một góc trời cù lao. Những mối nghi kỵ, hiềm khích bấy lâu nay bỗng chốc tan biến như bọt nước mùa lũ. Triết đứng bên cạnh ông Bảy, lồng ngực trào dâng một niềm xúc động nghẹn ngào, khóe mắt anh cay xè sau cặp kính cận. Sức mạnh của tình làng nghĩa xóm, của sự thấu hiểu và sẻ chia một khi đã được khơi thông thì không một trở lực nào có thể ngăn cản nổi.
Sáng hôm sau, khi màn sương sớm trên Kênh Xanh vừa tan đi, khung cảnh bến vàm đã náo nức như một ngày hội lớn.
Hơn bốn mươi người dân trong xã, từ những thanh niên trai tráng cuồn cuộn cơ bắp đến các bác nông dân dạn dày sương gió, vai vác cuốc xẻng, tay xách búa tạ và xà beng, nườm nượp kéo ra công trường. Xa xa mé ngõ tiệm may Cúc Áo, Triết thoáng thấy Lụa cùng Út Mơ đang đứng tựa vào hàng rào dâm bụt, trên tay bưng chiếc rổ lớn đựng đầy những ấm nước chè xanh nấu gừng nghi ngút khói mang ra tiếp sức cho đoàn người vần công. Ánh mắt Lụa nhìn sang Triết, rạng rỡ và tràn đầy niềm tin yêu thầm kín, như tiếp thêm cho anh nguồn sức mạnh vô biên.
“Anh em ơi! Chuẩn bị đóng cừ tràm làm móng âu thuyền!” Kỹ sư Hoàng phấn khởi vung tay hò hét qua chiếc loa cầm tay.
Bà con hò reo vang dội, hào khí ngút trời chuẩn bị bắt tay vào công việc đào đắp thế kỷ. Triết bước tới mép nước, hướng mắt về chiếc máy xáng cạp duy nhất của công trường đang neo đậu sừng sững giữa lòng kênh – cỗ máy chủ lực dùng để nạo vét lòng âu và đóng những hàng cọc cừ sâu nhất.
Bác tài xế máy xáng vặn khóa đề pa. Động cơ gầm lên một tiếng inh tai, cần cẩu sắt từ từ vươn cao lên nền trời sớm.
Thế nhưng, nụ cười trên môi Triết chưa kịp nở trọn thì một biến cố kinh hoàng đột ngột giáng xuống.
Từ khoang động cơ của chiếc máy xáng cạp, một tiếng nổ chát chúa vang lên: “ĐOÀNG!”
Ngay sau đó là chuỗi âm thanh kim loại va đập nghiến ken két đến rợn người. Một luồng khói đen kịt, khét lẹt mùi dầu cháy bất ngờ phụt thẳng lên trời, bao trùm lấy toàn bộ cabin. Chiếc cần cẩu sắt khổng lồ giật nảy lên một cái rồi đổ sụp xuống mép nước, kéo theo một tiếng “Ặc… ặc…” nghẹn ngào trước khi cỗ máy xáng cạp duy nhất của công trường hoàn toàn tắt ngấm, nằm chết trân bất động giữa dòng nước ròng chảy xiết.
Không khí trên bến kênh bỗng chốc đông cứng lại. Hàng chục nụ cười trên môi dân làng tắt ngấm, chỉ còn lại sự bàng hoàng tột độ. Triết đứng chết trân bên bờ đất lở, tim anh thót lại nghẹn đắng khi nhận ra cỗ máy sinh tử của công trình đã gãy trục giữa lúc cuộc chạy đua với giặc mặn chỉ vừa mới bắt đầu.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
