Chương 12: Chiếc áo Chần Bông ấm Tình Chòm Xóm
Gió chướng mỗi lúc một rít mạnh qua rặng bần mé rạch, thổi thốc những cánh hoa lục bình tơi tả dạt sát vào chân cầu ván. Hơi nước từ Kênh Xanh bốc lên lạnh buốt, mang theo cái lạnh thấu xương của đợt rét muộn hiếm hoi nơi đất cù lao.
Triết khẽ lay bờ vai gầy của Lụa khi thấy cô cứ ngồi lặng đi, ánh mắt đau đáu nhìn về phía những liếp vườn bưởi trơ trọi đang oằn mình trong gió bấc “Gió trở chướng lớn quá rồi Lụa. Vô nhà đi em, kẻo trúng lạnh thì khổ. Để anh phụ em cài mấy cánh liếp lại cho kín gió.”
Lụa giật mình sực tỉnh, vội kéo chiếc khăn rằn sọc xanh trắng trùm kín cổ, gật đầu khe khẽ “Dạ, anh Triết vô phụ em một tay. Gió này độc lắm, thổi qua đêm là người già với con nít dễ ngã bệnh như chơi.”
Hai người vội vã rảo bước lên bờ. Triết thoăn thoắt nhấc từng tấm liếp gỗ mít cũ kỹ, cài then tre chắc nịch chắn ngang cửa trước của tiệm may Cúc Áo. Những khe hở lùa gió cũng được anh chèn thêm mấy bao tải gai sạch sẽ mà Lụa hay dùng để bọc vải. Xong xuôi, anh ngó vào gian buồng sau, nơi Thành đang nằm thiếp đi dưới tấm chăn mỏng, hơi thở đều đặn và bình yên sau chuỗi ngày đau đớn vì cái chân bó bột.
“Thằng Thành ngủ êm rồi, thuốc bác sĩ cho chắc có chất an thần.” Triết nói nhỏ, phủi sạch vụn dăm tre trên hai bàn tay còn trầy xước. “Đêm nay anh phải về lại lán công trình canh chừng đợt triều cường với gió chướng. Mấy hàng cọc cừ đóng hôm qua chưa kịp giằng néo kỹ, gặp sóng lớn dập vô vàm kênh dễ bị nhổ trôi lắm. Lụa ở nhà chăm em, nhớ chốt chặt cửa sau nghen.”
“Anh đi coi chừng trượt chân.” Lụa nhìn vạt áo sơ mi bạc màu của anh phấp phới trong gió lạnh, lòng trào dâng một nỗi xót xa khôn tả. “Đêm hôm nước lớn, sình lầy trơn trượt... anh nhớ mặc thêm cái áo khoác dày vô.”
“Anh biết rồi. Lụa đừng lo.”
Triết mỉm cười, ánh mắt ấm áp chiếu qua cặp kính cận lấm tấm bụi sương. Anh đưa tay toan xoa nhẹ đầu cô như một phản xạ tự nhiên, nhưng rồi ngập ngừng thu tay lại, chỉ gật đầu thật sâu rồi quay lưng, sải bước dài qua con đường đê hun hút gió.
Bóng Triết vừa khuất sau rặng dừa nước, Lụa khép cánh cửa gỗ lại, cài chặt then ngang. Tiếng gió gầm rú bên ngoài lập tức bị ngăn lại sau bức vách ván dày, chỉ còn nghe tiếng cành lá xào xạc và tiếng con nước ròng vỗ ì oạp dưới chân sàn.
Không gian tiệm may bỗng chốc rơi vào tĩnh lặng. Trên bàn thờ ba má, ngọn đèn hột vịt tỏa ra luồng sáng đỏ quạch, mùi nhang trầm quyện với mùi vải mới thơm ngai ngái tạo nên một bầu không khí thân thương đến nao lòng. Lụa bước đến bên chõng tre của Thành, cẩn thận kéo mép chăn đắp kín lên bờ ngực gầy của đứa em trai. Nhìn gương mặt xanh xao nhưng thanh thản của Thành, khóe mắt cô lại rưng rưng. Bọc tiền lương quý của Triết và giấy gọi thi của em vẫn nằm ngay ngắn trong hộc bàn gỗ, như một chiếc phao cứu sinh níu giữ lấy mái nhà nhỏ bé này giữa cơn sóng gió.
Lụa quay trở lại gian trước. Đôi mắt cô dừng lại nơi góc nhà, nơi có một sọt mây chất đầy những mảnh vải vụn dày dặn bằng nỉ, dạ, và những cuộn bông gòn tơi xốp trắng muốt.
Ngày mai là hai mươi ba tháng Chạp. Đưa ông Táo về trời, và cũng là ngày giỗ thứ mười lăm của anh Hai Thuận.
Ký ức của cô bé Lụa năm chín tuổi ùa về, rõ mồn một như vừa mới hôm qua. Năm ấy cũng vào một đợt gió chướng rét căm căm, người ta chèo xuồng chở xác anh Hai Thuận từ Cù Lao Dung về. Anh chết vì đất sạt lở khi đang cùng đội thanh niên xung kích đắp đập ngăn mặn. Ông Bảy Kiên khi ấy tóc chưa bạc trắng như bây giờ, quỳ sụp bên mé kênh, gào khóc đến nghẹn giọng, hai tay ôm chặt lấy thi thể tím tái, lạnh ngắt của đứa con trai độc nhất mà không một giọt nước mắt nào chảy ra nổi vì nỗi đau quá lớn đã đông cứng lại thành đá. Kể từ ngày đó, ông Bảy thù ghét những ai nhắc đến chuyện đắp đê ngăn sông, và cứ mỗi mùa gió chướng tràn về, căn nhà gỗ quạnh quẽ của ông lại im ỉm khóa cửa, chỉ có khói nhang nghi ngút bay qua kẽ liếp.
“Gió lạnh vầy, cái lưng còng của ông Bảy chắc lại đau nhức buốt xương...” Lụa thầm thì với chính mình.
Không chần chừ thêm một giây nào nữa, Lụa thắp thêm ngọn đèn bão đặt lên chiếc bàn cắt gỗ mít. Cô cúi xuống bưng sọt vải vụn lên. Đó là những mẩu vải nỉ màu xám tro, màu xanh chàm sẫm và đen nhánh còn sót lại từ những lần ba má cô nhận may áo lạnh cho mấy vị cán bộ hưu trí trên thị xã nhiều năm trước. Vải nỉ dày dặn, dệt chặt sợi, dù là vải vụn nhưng má cô ngày xưa quý như vàng, giặt sạch phơi khô rồi xếp phẳng phiu cất kỹ.
Lụa hít một hơi thật sâu, cầm chiếc thước gỗ và viên phấn may màu vàng đã mòn vẹt. Trong đầu cô, vóc dáng của ông Bảy Kiên hiện lên rõ mồn một. Ông Bảy cao lớn, lưng hơi gù vì cả đời gánh lúa và chèo xuồng, bờ vai rộng nhưng hai bên xương quai xanh đã nhô cao vì tuổi già gầy guộc. Người già miền Tây vốn quen bận áo bà ba rộng rãi để dễ bề cử động, nếu may theo kiểu áo ấm Tây học cứng ngắc thì ông sẽ không chịu mặc. Phải là một chiếc áo bà ba chần bông. Cổ tròn truyền thống, vạt áo buông vừa qua thắt lưng, tay áo suông rộng để khi bưng bát cơm hay cầm cuốc không bị vướng víu, nhưng bên trong phải có một lớp bông gòn thật dày để giữ nhiệt cho lá phổi và bờ vai già nua.
Lụa trải tấm vải nỉ màu xanh chàm làm thân chính, dùng phấn vạch những đường cắt chuẩn xác. Tiếng kéo thép cắt vải vang lên lách cách, dứt khoát và điệu nghệ giữa đêm vắng. Từng mảnh vải vụn được cô tỉ mẩn so sánh màu sắc, ghép nối lại bằng những đường may can phẳng phiu, giấu tiệt đường chỉ thừa vào bên trong sao cho mặt ngoài trông như một tấm vải liền lạc, tôn nghiêm và trang nhã.
Sau khi đã định hình xong hai thân trước, thân sau và đôi tay áo, Lụa bắt đầu công đoạn khó khăn nhất: chần bông gòn.
Cô trải phẳng lớp vải lót bằng lụa thô màu cỏ úa mềm mại xuống mặt bàn, dàn đều những lớp bông gòn tơi xốp lên trên, rồi nhẹ nhàng phủ lớp vải nỉ bên ngoài. Lụa dùng kim gút định vị từng góc cẩn thận. Chiếc máy may Con Bướm không thể đạp qua lớp bông dày cộp này mà không làm xô lệch hoặc đứt chỉ. Cô quyết định khâu tay toàn bộ phần chần bông.
Ngồi trên chiếc ghế gỗ con bên ngọn đèn bão, Lụa xỏ sợi chỉ dù màu chàm qua trổ kim thép nhỏ xíu. Đầu ngón tay trỏ của cô – nơi vết kim đâm đêm hôm trước còn chưa lành hẳn, nay lại tì chặt vào đốc kim. Lụa hít một hơi, bắt đầu từng mũi kim chần hình quả trám đều tăm tắp.
Mỗi đường kim cắm xuống, lớp bông gòn lún sâu rồi lại phồng lên, giữ chặt luồng khí ấm áp vào bên trong. Một mũi, hai mũi, mười mũi... Bàn tay Lụa thoăn thoắt đưa lên lượn xuống như một con thoi nhỏ. Gió ngoài trời vẫn đập ầm ầm vào mái lá, tiếng rít qua kẽ ván nghe rợn người, nhưng quanh bàn cắt của Lụa chỉ có hơi ấm của lòng thành kính. Cô nhớ đến ánh mắt nghiêm nghị của ông Bảy Kiên mỗi lần ghé qua tiệm may đo áo dài ăn giỗ; nhớ đến những quả bưởi da xanh ngọt lịm ông âm thầm để ngoài hàng ba cho hai chị em hồi má cô mới mất; và nhớ cả giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo của ông khi nhìn chiếc cọc tràm của Triết dưới lòng kênh hôm qua.
Đến quá nửa đêm, khi hai mắt đã cay xè và đôi vai mỏi nhừ, Lụa lật mép nẹp bên trong ngực áo trái – nơi áp sát vào trái tim người mặc. Cô dừng lại thật lâu, ngẫm nghĩ rồi chọn một tép chỉ thêu tơ tằm màu xanh đồng cùng tông với nền vải.
Bằng những mũi thêu đột khéo léo và tinh xảo được má truyền dạy từ thuở lên mười, Lụa nắn nót thêu chìm hai chữ “Bình An” uốn lượn mềm mại dưới nẹp áo. Chữ thêu chìm, không phô trương, người ngoài nhìn vào sẽ không thấy, chỉ có người mặc khi cài cúc mới cảm nhận được từng đường chỉ gồ lên êm ái nơi ngực áo. Đó là lời cầu chúc bình an cho một kiếp người đã chịu quá nhiều mất mát, là lời tri ân sâu kín của một đứa con xóm nhỏ gửi đến người bô lão đã cả đời gìn giữ mảnh đất cù lao này.
Gà gáy le te đầu xóm báo canh tư. Gió lạnh luồn qua khe cửa khiến ngọn đèn bão chập chờn.
Lụa xoa xoa hai bàn tay đã cóng lạnh vào nhau, hà hơi ấm rồi ngồi đơm những chiếc cúc bọc vải cuối cùng. Sáu chiếc cúc tròn trịa, được bọc cẩn thận bằng vải nỉ cùng màu, khâu vào tà áo bằng chỉ đôi chắc nịch.
Khi mũi kim cuối cùng được rút chỉ và gút lại gọn gàng, Lụa nâng chiếc áo chần bông lên trước ánh đèn. Chiếc áo bà ba màu xanh chàm sẫm, dày dặn, ấm sực và êm ái như một tấm nệm con. Từng đường chần quả trám thẳng thớm, cổ áo lượn tròn ôm khít, các mép viền được bọc lụa tỉ mỉ không một sợi chỉ thừa. Lụa áp mặt vào làn bông ấm, mỉm cười nhẹ nhõm. Một đêm trắng đổi lấy chiếc áo này, với cô, xứng đáng đến từng giọt mồ hôi.
Trưa hôm sau, gió chướng vẫn thổi rát mặt nhưng trời đã hửng chút nắng hanh hao. Đất cù lao se sắt lạnh, những tàu chuối ngoài vườn bị gió xé tơi tả như những dải cờ rách.
Trong gian nhà nhỏ, Thành đã tỉnh táo hẳn, ngồi tựa lưng vào vách nẹp tre, trên đùi đặt cuốn sách văn học lớp mười hai. Thấy chị Hai bận chiếc áo bà ba màu tím lục bình tươm tất, tay bưng chiếc mâm nhôm phủ khăn rằn sạch sẽ, Thành ngẩng lên hỏi “Chị Hai qua nhà ông Bảy ăn giỗ hả chị?”
“Ừ, chị qua thắp cho anh Hai Thuận nén nhang rồi về liền. Cháo cá lóc chị nấu để sẵn trong nồi đất trên bếp trấu, còn ấm nguyên đó. Lát đói em cứ múc ăn nghen. Đừng có ráng bước xuống đi cà nhắc, gãy xương lại là khổ cả đời đó nghe hôn!”
Lụa dặn dò em kỹ lưỡng, kiểm tra lại bình nước sôi và chiếc gậy tre Triết đẽo sẵn để đầu giường cho Thành, rồi mới bưng mâm bước ra cửa.
Trên mâm nhôm, ngoài đĩa bánh tét nhưn chuối dẻo quẹo do bà Năm Búp mang sang biếu sáng nay, là chiếc áo chần bông được Lụa gấp phẳng phiu, bọc cẩn thận trong một tờ giấy báo sạch sẽ.
Con đường đất dẫn vào nhà ông Bảy Kiên chạy dọc theo mé mương vườn bưởi. Mấy liếp bưởi năm nay do ảnh hưởng nước mặn xâm nhập sớm, lá bắt đầu ngả sang màu vàng úa, trái non rụng lác đác đầy bờ mương. Nhìn những trái bưởi rụng ủng phèn, lòng Lụa lại thắt lại. Cô hiểu vì sao ông Bảy xót xa, vì sao người dân nơi đây bám riết lấy từng tấc đất liếp vườn như mạng sống. Đất cù lao là máu thịt của họ, một ngọn cỏ khô héo cũng làm thắt ruột thắt gan người già.
Căn nhà ba gian bằng gỗ thao lao của ông Bảy Kiên nằm lọt thỏm giữa vườn cây, mái ngói âm dương phủ đầy rêu phong xám xịt. Khác với những đám giỗ ồn ào chén chú chén anh ở thôn quê, đám giỗ anh Hai Thuận bao năm nay vẫn quạnh quẽ đến nao lòng. Ông Bảy không mời ai, con cháu họ hàng xa muốn ghé thì ghé, không thì một mình ông lặng lẽ làm mâm cơm cúng con.
Lụa bước chân lên bậc tam cấp bằng đá tảng, khẽ cất tiếng “Dạ, tía Bảy ơi! Con Lụa bên tiệm may ghé thắp nhang cho anh Hai nè tía.”
Không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng gió rít qua rặng tre sau hè. Cửa chính khép hờ. Lụa ngập ngừng bước qua bậu cửa gỗ, đưa mắt nhìn vào gian giữa.
Cảnh tượng trước mắt khiến bước chân cô sững lại, ngực nghẹn đắng.
Dưới làn khói nhang trầm nghi ngút bay quanh bàn thờ, ông Bảy Kiên đang ngồi bất động trên chiếc ghế nghiêng. Ông mặc chiếc áo bà ba bà ba vải ú cũ kỹ rách một bên vai, đôi vai gầy co ro lại vì lạnh. Trên tay người cựu chiến binh già nua, quắc thước ấy là bức di ảnh bằng gỗ lồng kính đã ố vàng theo năm tháng. Trong ảnh, một chàng trai trẻ mười chín tuổi mặc bộ đồ thanh niên xung phong, nụ cười rạng rỡ và đôi mắt sáng ngời.
Ông Bảy đang run rẩy dùng vạt áo của mình cẩn thận lau đi lớp bụi mờ trên mặt kính. Bờ vai ông khẽ rung lên từng chặp, và từ khóe mắt sâu hoắm, đầy những vết chân chim của người cả đời dầm mưa dãi nắng, hai giọt nước mắt đục ngầu chầm chậm lăn dài trên gò má nhăn nheo, rơi xuống mặt kính nghe cái “tách”.
Người đàn ông thép của cù lao Tân Bình, người từng cầm súng đánh giặc, từng quát tháo rền vang khiến cả đám thanh niên lêu lổng phải bạt vía, giờ đây chỉ là một người cha già cô độc, bất lực gặm nhấm nỗi đau mất con trong một chiều đông buốt giá.
Lụa khẽ nín thở, cố không tạo ra tiếng động, nhưng tiếng ván sàn cọt kẹt dưới chân vẫn đánh động sự tĩnh lặng của căn nhà.
Ông Bảy Kiên giật mình, vội vàng đặt bức di ảnh lại vị trí cũ trên bàn thờ, đưa bàn tay thô ráp quẹt vội giọt nước mắt còn vương trên má. Khi quay lại nhìn Lụa, gương mặt ông đã lấy lại nét nghiêm nghị, lạnh lùng cố hữu, nhưng ánh mắt đỏ hoe thì không giấu đi đâu được “Con Lụa đó hả? Vô đây... đứng lấp ló ngoài đó mần chi.” Giọng ông khàn đặc, có phần gượng gạo.
“Dạ...” Lụa bước vào, nhẹ nhàng đặt chiếc mâm nhôm lên chiếc bàn tròn bằng gỗ gõ đỏ giữa nhà. “Bà Năm Búp có gửi đĩa bánh tét nhưn chuối qua cúng anh Hai. Con... con qua xin thắp cho anh nén nhang.”Ông Bảy gật đầu, với tay lấy ba cây nhang trên bàn thờ, châm vào ngọn đèn dầu rồi trao cho Lụa “Ừ, có lòng nhớ tới anh mày là tốt. Cắm nhang cho nó đi con.”
Lụa đón lấy nén nhang, cung kính chắp trước ngực, cúi đầu lạy ba lạy trước bàn thờ người đã khuất. Nhìn nụ cười hồn nhiên của người lính trẻ trong di ảnh, cô thầm khấn: “Anh Hai linh thiêng phù hộ cho tía Bảy sống lâu, khỏe mạnh, bớt đau ốm mỗi khi trở trời. Phù hộ cho xóm cù lao mình qua được cơn hạn mặn, cho dân làng được ấm no, bình an...”
Cắm nén nhang vào chiếc lư đồng sáng bóng, Lụa quay lại bên bàn. Thấy ông Bảy ngồi co ro, thỉnh thoảng lại đưa tay xoa xoa bả vai nhức mỏi, Lụa bèn cầm bọc giấy báo lên, hai tay kính cẩn dâng ra trước mặt ông “Dạ thưa tía Bảy... Nay ngày giỗ anh Hai, tụi con phận em út trong xóm, hổng có gì quý giá biếu tía. Đêm qua nghe đài báo gió chướng lạnh kỷ lục tràn về, con nhớ hồi trước tía hay than đau nhức bả vai mỗi khi trở trời. Con có gom mấy mảnh vải nỉ dày với bông gòn trong tiệm, thức đêm may cho tía chiếc áo bà ba chần bông này. Con biếu tía bận cho ấm lưng, ấm ngực...”
Ông Bảy sững sờ. Đôi lông mày rậm hoa râm nhíu lại, ông nhìn gói báo rồi lại ngước lên nhìn gương mặt thanh tú, hiền hậu của cô thợ may trẻ. Dưới ánh sáng ban ngày, ông nhận ra quầng thâm mệt mỏi dưới mắt Lụa và ngón tay trỏ còn quấn sợi chỉ ngăn rớm máu.
“Mày... mày thức đêm may cái này cho tao hả?” Giọng ông chùng xuống, vẻ nghi ngại ban đầu biến mất, thay vào đó là sự bàng hoàng khó tả.
“Dạ, tay nghề con còn vụng dại, vải nỉ vụn chắp vá chứ hổng được nguyên cây xịn như đồ chợ, nhưng con chần bông gòn kỹ lắm, giặt giũ hổng sợ xô lệch đâu tía. Tía mở ra coi thử có vừa bụng hổng...”
Ông Bảy chầm chậm đưa đôi bàn tay gân guốc, chai sần run run gỡ từng nếp giấy báo.
Khi tấm áo bà ba màu xanh chàm sẫm bung ra, rơi nhẹ trên mặt bàn gỗ, gian nhà dường như bừng sáng lên một luồng sinh khí ấm áp. Lớp vải nỉ mềm mại, những đường chần quả trám thẳng băng như kẻ chỉ, từng chiếc cúc bọc vải được đơm ngay ngắn, thẳng tắp. Chiếc áo toát lên sự trang trọng, đôn hậu và chất chứa một sự tỉ mẩn đến kinh ngạc.
Ông Bảy đưa những ngón tay thô ráp sờ lên mặt vải. Bông gòn êm ái đàn hồi dưới tay ông. Đã bao nhiêu năm rồi, kể từ ngày bà Bảy qua đời rồi đến thằng Hai Thuận nằm xuống, chưa từng có ai quan tâm xem mùa đông ông mặc phong phanh ra sao, tấm lưng còng của ông có buốt giá hay không. Người trong làng kính sợ ông, nể nang cái uy bô lão của ông, nhưng ai cũng ngại tính nết gàn dở, cộc cằn của ông già mất con mà chẳng dám lại gần săn sóc.
Bất chợt, ngón tay ông Bảy chạm vào mép nẹp trong của ngực áo trái. Nơi đó, hai chữ “Bình An” thêu bằng chỉ tơ tằm màu xanh đồng khẽ gồ lên, mềm mại và ấm áp.
Mắt ông Bảy nhòa đi. Cổ họng ông ứ nghẹn, một cảm giác xót xa xen lẫn tủi thân và xúc động trào dâng dữ dội nơi đáy ngực. Ông quay mặt đi, nhìn ra rặng bưởi xác xơ ngoài sân để giấu đi sự yếu lòng của một lão nông cả đời sắt đá “Con nhỏ này... khéo tay quá chừng. Giống hệt tánh con Hai má mày ngày xưa, làm cái gì cũng chu đáo, nghĩ cho người khác trước bản thân...”
“Dạ, tía mặc thử vô coi có chật nách hổng tía? Để con coi rồi sửa lại liền cho tía.” Lụa ân cần giục.
Ông Bảy chậm rãi cởi chiếc áo bà ba rách vai ra, khoác chiếc áo chần bông mới vào người. Chiếc áo vừa vặn đến kỳ lạ. Vạt áo buông ngang mông, nách lượn cong ôm khít lấy bờ vai gù mà không hề căng tức, cổ áo tròn che kín gáy già, ngăn trọn những cơn gió độc lùa vào. Đặc biệt là lớp bông dày ôm trọn lấy lồng ngực và sống lưng, chỉ trong chốc lát, hơi ấm cơ thể đã quyện vào lớp bông, tỏa ra một luồng nhiệt dễ chịu làm dịu đi những cơn đau nhức buốt xương khớp dai dẳng bấy lâu.
Ông Bảy đứng sững giữa nhà, hai tay v**t v* vạt áo mới. Ông đưa mắt nhìn lên di ảnh con trai, lẩm bẩm trong miệng “Thuận ơi... em Lụa nó may áo ấm cho tía nè con... Ấm lắm con ơi...”
Lụa đứng bên cạnh, thấy hai hàng nước mắt của ông già lại lặng lẽ rơi xuống vạt áo nỉ mới tinh, cô cũng không kìm được mà sụt sùi, khẽ quay đi lau vội giọt lệ nơi khóe mi.
Ông Bảy hít một hơi thật sâu, kéo vạt áo lại, ngồi xuống chiếc ghế trường kỷ đối diện Lụa. Ông với chiếc ấm sành pha trà quao nóng, rót ra một chén sành đưa cho cô, giọng đã trở lại vẻ trầm tĩnh nhưng ấm áp hơn muôn phần “Ngồi uống miếng nước đi con. Tay chân lạnh ngắt hết cả rồi kìa.”
“Dạ, con cảm ơn tía.” Lụa đón lấy chén nước trà nóng, hai tay ôm chặt lấy thân chén sưởi ấm.
Ông Bảy nhấp một ngụm trà đặc, mắt đăm đăm nhìn tàn nhang rụng trên bàn thờ, giọng trầm buồn như vọng về từ một miền quá khứ xa xăm “Mười lăm năm rồi đó Lụa... Cái năm thằng Thuận đi, trời cũng trở gió chướng rét căm căm y như bữa nay. Nó hăng hái lắm, nói với tao: ‘Tía ở nhà ráng đợi con, con đi đắp đập thủy nông Cù Lao Dung về rồi cưới vợ, rước dâu bằng xuồng hoa cho tía coi’. Vậy mà... đập vỡ, đất lở chôn vùi nó dưới bùn sâu. Lúc người ta vớt nó lên, trên người nó chỉ bận độc một chiếc áo lót mỏng dính rách bươm, thân thể tím tái, lạnh như cục nước đá... Tao ôm nó mà tim tao thắt lại từng khúc ruột. Tao hận... tao hận mấy cái công trình đào đắp, ngăn sông cấm chợ. Tao sợ đất trời nổi giận, tao sợ cái cảnh đắp đập ngăn dòng chảy tự nhiên rồi lại rước họa vào thân, lại có đứa con nít nào đó phải bỏ mạng dưới bùn sâu như thằng Thuận nhà tao...”
Lụa im lặng lắng nghe, từng lời ruột gan của ông Bảy như xé lòng xé dạ. Giờ thì cô đã hiểu tường tận ngọn nguồn vì sao ông Bảy lại phản đối công trình cống Kênh Xanh quyết liệt đến thế. Đó không phải là sự cố chấp hẹp hòi của một ông già bảo thủ, mà là vết thương rỉ máu của một người cha mất con, một nỗi ám ảnh khôn nguôi về cái chết lạnh lẽo dưới chân những bờ bao đắp vội thời xưa cũ.
“Tía Bảy ơi...” Lụa đặt chén trà xuống, giọng cô nhẹ nhàng mà tha thiết. “Nỗi đau của tía, cả xóm cù lao này ai cũng thấu. Nhưng mà tía ơi, thời nay khoa học kỹ thuật khác xưa rồi. Hôm trước con nghe anh Triết giải thích, cống Kênh Xanh lần này đóng cọc cừ tràm sâu cả chục mét, gia cố bê tông cốt thép đàng hoàng, lại có hệ thống đo đạc dòng chảy kỹ lưỡng lắm. Người ta làm để cứu nước ngọt cho vườn bưởi, cho ruộng lúa của dân mình khỏi chết cháy vì hạn mặn, chớ hổng phải làm ẩu tả như hồi xưa đâu tía...”
Nhắc đến Triết, ánh mắt ông Bảy khẽ lay động. Ông im lặng một lúc lâu, ngón tay mân mê những mũi chỉ chần hình quả trám trên ngực áo, rồi buột miệng hỏi một câu tưởng chừng bâng quơ “Ờ... cái giò thằng Thành bữa hổm... bác sĩ trạm xá bó bột xong xuôi rồi hả con? Có đi đứng được chưa?”
Lụa hơi bất ngờ, vội đáp “Dạ, đội ơn tía hỏi thăm. Bác sĩ nói em con bị trật khớp với nứt xương nhẹ, phải bó bột nằm yên một chỗ cả tháng trời. Nhờ anh Triết cõng nó vượt bùn lên trạm xá kịp thời, chớ không là tật nguyền cả đời rồi tía.”
Ông Bảy khẽ gật đầu, ánh mắt thoáng vẻ trầm ngâm. Ông nhìn qua khe cửa liếp, hướng về phía vàm Kênh Xanh hun hút gió “Còn... thằng kỹ sư Triết? Hôm qua tao thấy nó lội bì bõm dưới bùn đáy kênh cả buổi trưa đóng lại mấy cái cọc tiêu bị tụi thằng Sáu Rạng nhổ... Tay chân nó rách nát, lấm lem bùn sình hết trơn... Nó... nó có bị cảm sốt gì hổng?”
Lụa nhìn thấy rõ vẻ quan tâm vụng về ẩn sau nét mặt nghiêm nghị của ông cụ. Bức tường băng giá, định kiến bao năm nay dường như đang tan chảy trước chiếc áo ấm ân tình và sự tận tụy không biết mệt mỏi của người kỹ sư trẻ.
“Dạ, anh Triết kiệt sức dữ lắm, hai bàn tay trầy trụa tướm máu hết trơn. Nhưng ảnh hổng chịu nghỉ đâu tía. Đêm qua gió chướng lớn vầy mà ảnh vẫn ra lán công trình canh con nước với giằng néo cọc cừ. Ảnh nói với con, đợt hạn mặn năm 1992 này khốc liệt lắm, nếu cống hổng xong trước mùa khô thì hàng trăm hécta vườn bưởi của cù lao mình sẽ chết cháy hết. Ảnh thương dân mình lắm tía ơi...”
Ông Bảy thở dài một hơi thật khẽ. Bàn tay ông lại miết nhẹ lên hai chữ “Bình An” thêu chìm nơi ngực áo. Một sự giằng xé dữ dội hiện rõ trong ánh mắt già nua. Ông không nói thêm lời nào về công trình, nhưng cái gật đầu chầm chậm của ông đã chứa đựng muôn vàn suy nghĩ.
Ngồi thêm một lát, sợ Thành ở nhà một mình cần người đỡ dậy đi vệ sinh, Lụa bèn đứng lên xin phép “Dạ thôi, trưa rồi, con xin phép tía con về đặng coi thằng Thành ăn cháo, uống thuốc. Tía ở nhà nhớ cài then cửa kỹ kẻo trúng gió chướng nghen tía.”
“Ừ... mày về chăm sóc thằng nhỏ đi.”
Lụa cúi đầu chào rồi bưng chiếc mâm nhôm trống bước xuống bậc tam cấp. Gió ngoài trời vẫn thổi phần phật, nhưng trong lòng cô lúc này lại dâng lên một cảm giác ấm áp lạ thường. Cô đã hoàn thành được tâm nguyện của mình, đã mang lại chút hơi ấm cho người cha già cô độc trong ngày giỗ con.
Lụa rảo bước nhanh qua rặng bưởi, bước chân sột soạt trên thảm lá khô. Khi cô vừa chạm tay vào chiếc then cài cổng rào bằng tre gai, chuẩn bị bước ra con đường đê ven kênh, thì bất chợt phía sau lưng vang lên tiếng gọi “Con Lụa nè! Khoan đã con!”
Lụa giật mình quay ngoắt lại.
Ông Bảy Kiên đang đứng tựa vào chiếc cột hiên nhà gỗ, chiếc áo bà ba chần bông màu xanh chàm tôn lên vóc dáng quắc thước của ông giữa nền trời xám bạc. Một tay ông vịn cột, tay kia chỉ về phía gian chái bếp sau hè, cất giọng rền rền nhưng không còn chút gì vẻ gay gắt của ngày xưa “Lát nữa... mày có gặp thằng kỹ sư Triết, nhắn nó chiều tối có rảnh thì tạt qua nhà tao một lát. Dưới hầm đất sau bếp, tao còn mớ khoai ngọt đào hồi đầu mùa với keo mủ trôm ngâm đường phèn mát lắm. Kêu nó ghé qua tao cho một mớ đem về lán mà ăn lấy sức, chớ thức đêm thức hôm dầm sình lầy kiểu đó... có ngày ngã bệnh chết bờ chết bụi!”
Nói dứt câu, như sợ cô nhìn thấy nét bối rối của mình, ông Bảy quay ngoắt người đi thẳng vào trong nhà, khép hờ cánh cửa liếp lại.
Lụa đứng chết trân bên cổng tre, chiếc mâm nhôm trên tay rung nhẹ. Rồi bất giác, một nụ cười rạng rỡ, trong trẻo như ánh nắng ban mai nở bừng trên gương mặt thanh tú của cô gái trẻ.
Gió chướng ngoài bờ kênh vẫn rít từng cơn lạnh buốt, nhưng Lụa biết, một mầm xanh hy vọng đang cựa mình đâm chồi qua lớp đất phù sa cằn cỗi. Bức tường thành định kiến tưởng chừng không thể phá vỡ bao năm qua nơi đất cù lao này... cuối cùng đã nứt ra khe hở đầu tiên.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
