Chương 11: Lời Hẹn Bên Mé Kênh
Gió chướng ngoài rặng tràm sau trạm xá vẫn rít từng cơn buốt lạnh, nhưng luồng hơi ấm từ bàn tay thô ráp của Triết dường như đã ngăn lại tất cả những run rẩy đang bủa vây lấy thân hình mảnh dẻ của Lụa. Bàn tay anh to bản, phủ trọn lấy những ngón tay gầy guộc vương vết chai mịn vì cầm kim của cô. Từng lời anh vừa thốt ra rành rọt, trầm ấm giữa màn đêm cô quạnh như một chiếc neo sắt cắm sâu xuống lòng bùn phù sa, ghì chặt lấy con thuyền tâm can đang chòng chành giữa cơn bão táp của cô gái trẻ.
Lụa ngước đôi mắt còn đẫm lệ nhìn anh qua làn sương mỏng. Dưới ánh trăng muộn mờ ảo hắt xuống từ vòm lá, khuôn mặt chữ điền của người kỹ sư trẻ hằn rõ nét phong trần, quai hàm bạnh ra đầy cương nghị, nhưng ánh mắt sau đôi tròng kính cận lại dịu dàng đến nao lòng. Cô toan rụt tay lại theo phản xạ của một người con gái quê vốn quen giữ kẽ, song cái siết tay của Triết không hề lỏng đi nửa phân. Nó không mang theo sự đường đột hay sàm sỡ, mà là sự nâng đỡ tr*n tr** và chân thành của một bờ vai sẵn sàng chìa ra giữa lúc người ta kiệt cùng sức lực.
“Anh Triết...” – Lụa nghẹn ngào, giọng lạc đi giữa tiếng gió xào xạc. – “Chuyện của chị em tôi... anh đâu có can cớ gì mà phải gánh...”
“Sao lại không can cớ?” – Triết khẽ ngắt lời cô, giọng trầm mà chắc nịch.
Anh buông tay Lụa ra, nhưng không phải để lùi lại, mà là đưa tay vào túi chiếc áo sơ mi xắn tay áo lấm lem bùn đất. Triết rút ra một chiếc phong bì bằng giấy xi măng đã gấp đôi mép cẩn thận, hơi ấm từ lồng ngực anh vẫn còn vương lại trên từng thớ giấy thô. Anh đặt chiếc phong bì ấy vào lòng chiếc khăn rằn ô xanh trắng mà Lụa đang nắm chặt trong tay.
Lụa giật mình, nhìn xấp tiền dày cộm lấp ló nơi mép giấy gấp “Cái này... là sao hả anh?”
“Đây là tiền lương quý này của anh, hồi chiều anh mới ghé kho bạc huyện nhận về.” – Triết nhìn thẳng vào mắt Lụa, đôi mắt sáng và cương trực. – “Sáng mai bác sĩ trên trạm cho thằng Thành xuất viện, tiền thuốc men, tiền nẹp bột với bông băng hết mấy chục ngàn. Số còn lại, Lụa cầm lấy mà gom cho đủ học phí của thằng nhỏ.”
Lụa như phải bỏng, vội vàng đẩy chiếc phong bì trả lại cho anh “Không! Không được đâu anh Triết! Tiền mồ hôi nước mắt của anh, anh còn phải ăn uống, sinh hoạt ở công trường, rồi còn gửi về cho gia đình dưới tỉnh nữa. Chị em tôi ơn anh cứu mạng thằng Thành tối nay đã lớn bằng trời, làm sao tôi dám nhận đồng bạc này của anh được!”
“Lụa nghe anh nói đã.” – Triết giữ chặt lấy mép khăn rằn, không cho cô đẩy phong bì lại, ánh mắt tha thiết đến mức khiến tim Lụa khẽ thắt lại. – “Anh biết Lụa có lòng tự trọng, không muốn mắc nợ ai. Nhưng thằng Thành nó nằm trong kia, cái chân bó bột trắng toát, nó dại dột đi vác lúa mướn là vì cái gì? Vì nó không muốn Lụa phải bán đi sợi dây chuyền hoa cúc – kỷ vật duy nhất mà má để lại cho Lụa!”
Lụa sững sờ. Đôi môi cô run rẩy, hai dòng nước mắt lại ứa ra lăn dài trên gò má hốc hác. Thì ra anh đã biết, đã hiểu hết những nỗi đau đớn, giằng xé mà cô cắn răng chôn giấu suốt mấy ngày qua.
Triết thở dài một tiếng thật khẽ, giọng chùng xuống đầy thấu cảm “Má em mất đi, chỉ để lại cho em chút hơi ấm đó làm của hồi môn. Đời người con gái cù lao lận đận, sao em nỡ đem bán đi kỷ vật của má mình? Coi như... coi như anh cho thằng Thành mượn. Sau này nó đỗ Sư phạm, ra trường đi dạy học có lương rồi trả lại cho anh. Hoặc là cống Kênh Xanh này xong xuôi, em may cho anh chục bộ quần áo lao động để trừ nợ, được không?”
Lời nói nửa đùa nửa thật, mộc mạc mà thấm đượm ân tình ấy như một dòng nước ngọt ngào tưới mát vào mảnh đất lòng đang khô cằn vì đau khổ của Lụa. Cô nhìn chiếc phong bì thô ráp, rồi nhìn bàn tay đầy những vết trầy xước rướm máu của Triết – vết thương do anh lội bùn cắm lại cọc tiêu hồi chiều còn chưa kịp lành da. Trước tấm lòng quá đỗi bao la của người đàn ông này, mọi sự e dè hay mặc cảm của cô dường như đều tan biến.
Lụa nắm chặt chiếc phong bì trong tay, cúi đầu thật thấp để giấu đi giọt nước mắt xúc động “Ơn này của anh... chị em tôi ghi tạc trong lòng. Nhất định... nhất định tôi sẽ trả đủ cho anh, không thiếu một cắc.”
Triết mỉm cười, nụ cười hiền hậu làm sáng bừng cả gương mặt phong sương dưới ánh trăng tàn “Vào với thằng Thành đi em. Đêm lạnh lắm, ngồi ngoài này trúng gió thì ngày mai ai chăm sóc cho nó.”
Hai người quay trở lại phòng bệnh. Trong ánh đèn dầu le lói, Thành vẫn ngủ mê mệt. Lụa ngồi xuống bên mép giường tre, bàn tay nhẹ nhàng vuốt lại lọn tóc lòa xòa trước trán em. Cả đêm ấy, Triết ngồi tựa lưng vào vách tường vôi loang lổ nơi góc phòng chợp mắt, còn Lụa thức trắng, chiếc khăn rằn vắt qua vai vẫn ấm sực hơi thở của đất trời cù lao.
Sáng sớm hôm sau, màn sương trắng đục như sữa vẫn còn là đà trên mặt nước Kênh Xanh. Không khí trạm xá thoang thoảng mùi thuốc đỏ và lá tràm xông. Sau khi bác sĩ già khám lại khớp xương và dặn dò kỹ lưỡng việc giữ cho lớp thạch cao khô ráo, Triết đã dắt chiếc xe đạp Phượng Hoàng màu xanh lục xỉn màu đứng chờ sẵn ngoài sân.
Chiếc xe đạp khung sắt của Triết vốn là phương tiện đi lại trèo đèo lội suối khắp các công trình thủy lợi, nay được anh cẩn thận lót thêm một chiếc bao tải gấp tư êm ái trên chiếc gácbaga phía sau. Triết cẩn thận bế Thành ra xe. Cậu thiếu niên mười tám tuổi cao ngồng nhưng gầy nhom, một bên chân bó bột cứng đờ chìa ra phía trước.
“Thành ngồi vững nghen em, gác cái chân đau lên thanh giằng này cho khỏi vướng xích xe.” – Triết vừa dặn vừa cúi người chỉnh lại vạt quần cho Thành, cẩn thận như một người anh ruột thịt trong nhà.
Lụa đi bên cạnh, một tay đỡ lấy lưng em trai, một tay xách bọc thuốc men và chiếc nón lá rách. Con đường đất đỏ chạy dọc bờ kênh sau cơn mưa hôm trước vẫn còn những vũng nước đọng loang loáng, nhưng Triết gồng hai bắp tay rắn rỏi, khéo léo lách qua từng ổ gà, giữ cho xe không một lần chòng chành.
Khi chiếc xe đạp cọt kẹt dừng lại trước cổng rào dâm bụt của tiệm may Cúc Áo, nắng sớm đã rải một màu vàng óng ả lên mái ngói âm dương rêu phong.
“Chèn ơi Lụa ơi! Thằng Thành làm sao mà đêm hôm người ta đồn rần rần ngoài bến đò vậy bay?”
Tiếng kêu thất thanh xé toạc bầu không khí yên ả. Từ bên kia rặng dừa, bà Năm Búp với thân hình đẫy đà, miệng nhai trầu đỏ thắm, đang hớt hải chạy sang. Trên tay bà bưng một chiếc cà om bằng nhôm còn bốc khói nghi ngút, được quấn chặt bằng chiếc khăn bông cũ.
Vừa bước qua ngạch cửa, nhìn thấy cái chân bó bột trắng toát của Thành đang được Triết cẩn thận đỡ đặt lên chõng tre, bà Năm Búp buông một tiếng thở dài thảng thốt “Trời đất quỷ thần coi kìa! Rõ khổ chưa, cái thằng đầu xanh tuổi trẻ mà dại dột hết sức! Mày đi vác lúa mướn cho thằng Chín Sậy chi để ra nông nỗi này hả Thành?”
Bà đặt chiếc cà om lên chiếc bàn cắt gỗ mít, mở nắp ra. Mùi cháo cá lóc thơm lừng ngào ngạt quyện với mùi hành hoa, tiêu sọ và gừng già đập giập lập tức lan tỏa khắp gian nhà ba gian.
“Tao nghe tiếng đò máy ban đêm đồn ầm lên là có đứa ngã hầm tàu gãy giò, tao rụng rời tay chân, vội chạy ra chợ mua con cá lóc đồng mập ú về nấu cháo cho nó đây. Ăn nóng đi con, có gừng ấm bụng, mau liền xương liền cốt!”
Nhìn sang chiếc chõng tre ọp ẹp nơi góc nhà, bà Năm Búp tặc lưỡi “Mà cái chõng này giát tre mục hết rồi, thằng Thành nằm vầy trĩu lưng, cấn cái chân gãy làm sao chịu thấu.”
Nói đoạn, chẳng đợi ai nhờ, bà Năm xăm xăm chạy về nhà mình, chỉ một lát sau đã vác sang hai thân tre già óng màu vàng nghệ cùng một cuộn dây kẽm. Triết nhanh nhẹn đón lấy thân tre. Không cần ai bảo, hai người – một già một trẻ, một bà lão miệt vườn và một chàng kỹ sư tỉnh lẻ – phối hợp nhịp nhàng luồn tre xuống dưới gầm chõng, chêm chặt những chỗ trũng và dùng dây kẽm siết chặt lại. Chiếc chõng tre cọt kẹt lập tức trở nên bằng phẳng, vững chãi như một chiếc giường gỗ gõ.
“Đó, nằm vậy mới êm cái lưng!” – Bà Năm Búp quệt trầu ngang mép, nhìn Triết bằng ánh mắt đầy thiện cảm. – “May mà có chú Triết kỹ sư đây lội bùn chở đi cấp cứu kịp thời, chớ không cái giò thằng nhỏ coi như tàn phế rồi. Người đâu mà vừa có học vừa tốt bụng hết phần thiên hạ!”
Lụa đứng bên cạnh, hai má bỗng ửng hồng. Cô cúi đầu múc cháo ra tô sành, khẽ liếc nhìn Triết. Anh chỉ gãi đầu cười xòa, vạt áo sơ mi vẫn còn dính vệt bùn khô từ đêm qua “Dạ có gì đâu thím Năm, bà con chòm xóm tối lửa tắt đèn có nhau mà.”
Triết quay sang dặn Lụa cho Thành ăn cháo rồi uống thuốc đúng giờ, còn anh phải ra vàm kênh kiểm tra lại tim cọc cừ tràm kẻo nước lớn tràn vào. Bóng anh cao ráo, thoăn thoắt bước ra ngõ râm mát bóng dừa khiến lòng Lụa dâng lên một niềm xao xuyến khó tả.
Trong gian buồng sau, tiếng lá dừa xào xạc bên hiên rọi qua ô cửa sổ nhỏ. Thành ngồi dựa lưng vào vách ván, hai tay bưng tô cháo cá nóng hổi nhưng không sao nuốt nổi. Những giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt thư sinh non nớt, rơi lã chã xuống mặt cháo hoa.
“Chị Hai... em có lỗi với chị... em làm khổ chị rồi...” – Giọng Thành nghẹn ngào, nấc lên từng chặng. – “Đêm đó... em thấy chị ngồi khóc một mình bên ngọn đèn dầu, thấy chị đếm từng đồng bạc lẻ sửa đồ cho chị Sáu Mận... Em thấy chị cầm sợi dây chuyền của má lên ngắm... Em hận bản thân em vô dụng quá chị Hai ơi! Mười tám tuổi đầu rồi mà chỉ biết ăn bám, để chị thức trắng đêm nuôi em... Em chỉ muốn kiếm một ít tiền lo học phí, ai ngờ...”
Lụa ngồi bên mép giường, lặng lẽ lắng nghe từng lời ruột gan của đứa em trai. Nỗi đau xót dâng lên chẹn ngang cổ họng, nhưng nhìn gương mặt hối hận tột cùng của Thành, cô không nỡ buông một lời trách phạt.
Lụa vươn tay, dùng chiếc khăn rằn ô xanh trắng của Triết nhẹ nhàng lau nước mắt cho em. Bàn tay cô ram ráp vết chai lướt qua gò má gầy guộc của Thành, dịu dàng như bàn tay của má năm nào “Mày ngốc lắm Thành ơi... Mày có biết trước lúc nhắm mắt, má trăn trối với tao điều gì không? Má dặn dù có phải ăn cháo rau, nhịn ăn nhịn mặc, tao cũng phải lo cho mày học hành đàng hoàng, đỗ đạt thành tài để sau này làm thầy giáo đem con chữ về cho đám con nít nghèo xứ cù lao này. Mày mà có bề gì, tao còn mặt mũi nào mà nhìn ba má dưới suối vàng?”Cô thở dài, giọng chùng xuống nhưng kiên quyết “Sợi dây chuyền của má quý thật, nhưng không quý bằng tương lai của mày. Đời tao đã lỡ dở việc học hành, chỉ quanh quẩn bên manh áo thước vải, tao không thể để mày giống tao được.”
Lụa đứng dậy, bước lại chiếc bàn cắt gỗ mít ở gian trước. Cô mở chiếc hộc bàn bằng gỗ dầu kêu cọt kẹt, nơi cất giữ chiếc hộp bánh quy tây gỉ sét chứa những đồng bạc lẻ tích cóp bao năm qua. Cẩn thận vuốt thẳng tờ giấy báo triệu tập ôn thi Đại học Sư phạm Cần Thơ có in dấu đỏ chót của Ty Giáo dục, Lụa đặt nó ngay ngắn vào trong ngăn kéo, bên cạnh chiếc phong bì tiền lương mà Triết đã trao đêm qua.
Cô khép ngăn kéo lại, hai bàn tay nắm chặt mép bàn gỗ.
Chỉ còn hơn hai tuần nữa là đến mùng năm tháng sau. Dù có phải thức trắng thêm bao nhiêu đêm, dù có phải dốc cạn từng giọt mồ hôi bên chiếc máy may Butterfly này, cô cũng nhất định phải gom đủ số tiền còn thiếu để đưa Thành lên tỉnh nhập học. Ước mơ của em trai không thể lụi tàn trên mảnh đất phù sa này.
Quay trở lại buồng, Lụa nghiêm giọng nhưng ánh mắt chan chứa tình thương “Ăn hết tô cháo đi rồi uống thuốc ngủ một giấc. Chuyện tiền nong, trường lớp... chị Hai khắc lo liệu. Chân mày phải nằm bất động một tháng, từ giờ cấm tiệt không được nghĩ quẩn nghĩ quanh nữa nghe chưa!”
Thành cúi đầu, vâng dạ trong tiếng nấc, rồi cắm cúi ăn từng muỗng cháo thơm nồng tình làng nghĩa xóm.
Buổi chiều cù lao buông xuống thật êm đềm. Ánh hoàng hôn nhuộm đỏ ối cả một khúc sông Kênh Xanh, biến những giề lục bình trôi lững lờ thành những mảng màu tím biếc pha ánh đồng rực rỡ.
Khi Lụa vừa bưng rổ quần áo khô vào nhà thì ngoài bến nước đã vang lên tiếng bước chân quen thuộc. Triết quay trở lại, chiếc quần kaki ống rộng xắn cao quá gối, hai bắp chân còn dính bùn non xam xám. Trên vai anh là chiếc xẻng công trình đã mòn vẹt lưỡi.
“Anh Triết! Công việc ngoài cống sao rồi anh?” – Lụa bước ra hàng hiên, vồn vã hỏi.
“Ổn rồi Lụa. Hồi trưa anh với Hoàng cắm lại hết mốc cao trình đáy kênh. Nước ròng cạn trơ đáy, bùn sâu thiệt nhưng tụi anh gia cố xong mấy cọc tiêu chính rồi.” – Triết quệt mồ hôi trán, cười tươi rói.
Nhìn quanh quất thấy đống củi đước to đùng góc sân chưa chẻ, Triết buông chiếc xẻng, bước lại gần “Để đó anh chẻ cho. Mấy khúc gỗ đước này cứng ngắc, tay con gái cầm rựa chặt sao nổi.”
Không đợi Lụa kịp can ngăn, Triết đã xắn tay áo sơ mi lên quá khuỷu, để lộ đôi cánh tay rám nắng cuồn cuộn gân guốc. Anh nhặt chiếc rựa sắc bén lên, chân giẫm vững chãi trên nền đất, giáng từng nhát bổ dứt khoát, chuẩn xác. Từng khúc gỗ đước nứt toác ra đều tăm tắp, tỏa ra mùi nhựa cây ngai ngái quen thuộc của rừng ngập mặn.
Chẻ củi xong, Triết lại thoăn thoắt quẩy đôi thùng thiếc xuống bến nước. Đôi chân trần của anh bước thoăn thoắt trên những bậc đất dốc đứng, múc từng gánh nước sông đục ngầu phù sa đổ đầy vào ba chiếc lu da lươn sau chái bếp để Lụa đánh phèn lắng nước ăn. Tiếng nước đổ róc rách hòa cùng tiếng chim bìm bịp kêu chiều tạo nên một giai điệu bình yên đến lạ kỳ.
Lụa đứng bên hiên nhà, bưng chiếc gáo dừa múc nước mưa mát lạnh trong lu đưa cho anh. Triết đón lấy, uống một hơi cạn sạch, những giọt nước mát rượi chảy tràn qua khóe môi rớt xuống khuôn ngực phập phồng sau lớp áo mỏng.
“Anh ngồi nghỉ chút đi, gió chiều dưới bến mát lắm.” – Lụa khẽ nói, đưa cho anh chiếc khăn rằn sạch để lau mặt.
Hai người cùng bước xuống chiếc cầu ván bắc ra mé kênh trước cửa tiệm may. Chiếc cầu ván được ghép từ ba tấm ván mù u đã nhẵn thín vì năm tháng, hai bên cắm cọc tre giữ thăng bằng. Đây là nơi ba má Lụa ngày xưa thường ngồi giặt vải, cũng là nơi chị em cô lớn lên cùng nhịp lớn ròng của con nước.
Gió từ sông Cái thổi thốc vào mát rượi, xua đi cái oi nồng của buổi chiều muộn. Dưới chân cầu, đàn cá lòng tong bơi lội tung tăng quanh những chùm rễ dừa nước đung đưa theo con nước lớn.
Ngồi bên cạnh Lụa, Triết phóng tầm mắt nhìn về phía vàm kênh xa xăm, nơi công trình cống ngăn mặn vẫn còn là những hàng cọc tràm nhô lên lởm chởm giữa dòng nước bạc.
“Lụa biết không...” – Triết cất tiếng, giọng anh trầm ấm, hòa vào tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân cầu. – “Hồi anh tốt nghiệp Đại học Bách khoa, mẹ anh khóc hết nước mắt, bắt anh phải ở lại thành phố làm việc cho Ty Thủy lợi, hoặc đi tu nghiệp nước ngoài. Người ta bảo về mấy vùng cù lao ngập mặn này khổ lắm, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tợ bánh canh, đường sá sình lầy quanh năm... Nhưng anh nhìn bản đồ thổ nhưỡng cù lao Tân Bình, nhìn những liếp vườn bưởi da xanh tốt tươi mà lòng không đành.”
Triết cúi xuống, nhặt một cánh hoa lục bình trôi dạt vào mép ván, nhẹ nhàng xoay tròn trên ngón tay “Đất ở đây màu mỡ lắm, phù sa sông Tiền bồi đắp ngàn đời. Nhưng cứ hễ mùa khô đến, gió chướng thổi rát mặt là nước mặn từ biển Đông lại theo cửa sông luồn sâu vô ruột cù lao. Cây cối khát nước ngọt, lá cháy rụi, trái rụng đầy gốc. Dân mình làm lụng cả năm, chỉ cần một đợt mặn tràn qua là coi như trắng tay, nghèo lại hoàn nghèo. Anh muốn làm cái cống này, không phải để lấy thành tích hay thăng tiến. Anh chỉ mong một ngày nào đó, dòng nước ngọt mát lành sẽ chảy thông suốt trong lòng Kênh Xanh, đẩy lùi phèn mặn, để bà con mình không còn phải thắt ruột nhìn vườn tược chết khô.”
Lụa lặng đi. Cô nhìn nghiêng sườn mặt cương nghị của người thanh niên trí thức thị thành. Đôi mắt anh sáng quắc khi nói về dòng nước ngọt, về tương lai của những mảnh vườn cù lao. Trong ánh mắt ấy không hề có chút kiêu ngạo của một kẻ ban ơn, mà chỉ có sự đau đáu, trăn trở của một người con thực sự muốn gắn bó máu thịt với mảnh đất này.
Bao nhiêu mặc cảm về thân phận cô thợ may nghèo, bao nhiêu khoảng cách vô hình giữa một trí thức tỉnh đoàn và một cô gái quê mồ côi bấy lâu nay bỗng chốc tan biến như bọt nước.
Lụa khẽ thở dài, ánh mắt dõi theo những giề lục bình dập dềnh trôi xuôi “Anh có ước mơ lớn lao cứu cả cù lao, còn em... em chỉ quanh quẩn bên cái tiệm may nhỏ xíu này.”
“Sao Lụa lại nói vậy?” – Triết quay sang nhìn cô, ngạc nhiên.
Lụa cúi mặt, ngón tay gầy miết nhẹ lên thớ gỗ mù u mát lạnh “Mấy bữa nay em buồn lắm anh Triết. Thời buổi mở cửa Đổi mới, chợ xã người ta tràn ngập quần áo may sẵn. Đồ thun, đồ bộ màu sắc rực rỡ, may công nghiệp nhanh mà giá rẻ bèo. Người ta mua mặc liền, chẳng ai còn kiên nhẫn đợi cả tuần lễ để tiệm may đo từng đường kim mũi chỉ như tiệm Cúc Áo của em nữa. Hôm trước chị Sáu Mận mang mấy bộ đồ chợ lại nhờ em sửa, em vừa tháo chỉ vừa thấy tủi thân... Đồ may sẵn đường may thô thiển, vắt sổ cẩu thả, nhưng người ta chuộng cái rẻ, cái nhanh. Em sợ... em sợ cái nghề may áo bà ba gia truyền của ba má em rồi sẽ bị người ta quên lãng. Em sợ một ngày nào đó tiếng máy may Con Bướm này phải tắt ngấm...”
Nỗi niềm sâu kín nhất, nỗi sợ hãi mà Lụa chưa từng dám thổ lộ cùng ai, kể cả với đứa em trai ruột thịt, giờ đây tuôn trào ra như một dòng suối mở van trước mặt Triết. Đôi vai cô khẽ chùng xuống, mỏng manh như một cánh bướm trước gió.
Triết im lặng lắng nghe. Anh không vội vã đưa ra những lời an ủi sáo rỗng. Anh ngắm nhìn đôi bàn tay mảnh khảnh đầy vết chai nơi ngón trỏ của Lụa – đôi bàn tay đã chắt chiu từng đường may để nuôi nấng một người em thành tài, gìn giữ nếp nhà qua bao giông bão.
“Lụa đừng nghĩ vậy.” – Giọng Triết cất lên, vững chãi và ấm áp lạ thường. – “Đồ may sẵn công nghiệp có thể tiện lợi, nhưng nó không có linh hồn. Một chiếc áo bà ba do chính tay Lụa cắt may, từng đường lượn nách ôm khít, từng đường xẻ tà duyên dáng, từng chiếc cúc áo được đơm ngay ngắn... nó mang theo sự chu đáo và cái tâm của người thợ. Cái gì làm ra từ sự tận tụy và tình yêu thương chân thật thì không bao giờ biến mất được.”
Triết chỉ tay về phía những bông lục bình tím ngắt đang kiên cường vươn lên giữa dòng nước xiết “Lụa nhìn bông lục bình kia xem. Nước ròng nước lớn nó vẫn trôi, giông bão dập vùi nó vẫn trổ hoa tím ngát. Nghề may của em cũng vậy. Miễn là em không bỏ cuộc, chiếc áo bà ba truyền thống nhất định sẽ tìm được con đường mới của nó. Rồi người ta sẽ hiểu ra giá trị của những mũi kim sợi chỉ thật thà.”
Lụa ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh mắt Triết đang nhìn mình chan chứa niềm tin tưởng và khích lệ. Lần đầu tiên sau bao tháng ngày cô đơn gồng gánh, cô cảm thấy cõi lòng mình được thấu hiểu một cách trọn vẹn và sâu sắc đến thế. Một luồng hơi ấm dịu dàng len lỏi vào từng ngõ ngách tâm hồn, xua đi những âu lo tăm tối bấy lâu.
Đang lúc không gian giữa hai người lắng đọng trong sự giao cảm dịu ngọt thì bất chợt, một tràng âm thanh rè rè chói tai vang lên từ ngọn dừa lão đầu bến đò.
Chiếc loa truyền thanh bằng sắt tây của xã Tân Bình bắt đầu hoạt động, tiếng phát thanh viên vang lên dồn dập, phá tan sự tĩnh lặng của buổi hoàng hôn“Rè... rè... Alô! Alô! Xin thông báo toàn thể bà con nhân dân xã Tân Bình! Theo bản tin dự báo khí tượng thủy văn mới nhất, một đợt gió chướng cực mạnh kèm theo không khí lạnh bất thường từ phía Bắc đang tràn nhanh xuống khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Dự báo đêm nay và ngày mai, nhiệt độ sẽ giảm sâu, gió giật cấp 6, cấp 7 trên các tuyến sông lớn. Đề nghị bà con khẩn trương chằng chống nhà cửa, che chắn chuồng trại và giữ ấm cho người già, trẻ nhỏ...”
Một luồng gió chướng mạnh mẽ bất thần thổi thốc qua mặt kênh, cuốn theo hơi lạnh cắt da cắt thịt và mùi bùn nồng nặc. Mặt nước Kênh Xanh cuộn sóng lăn tăn, rặng dừa nước bên bờ nghiêng ngả, lá cọ vào nhau nghe răng rắc như báo hiệu một đợt trở trời dữ dội.
Lụa rùng mình khẽ rụt cổ lại vì cái lạnh đột ngột. Cô đưa mắt nhìn vào gian nhà trước của tiệm may. Qua ô cửa liếp mở toang, ánh đèn dầu leo lét rọi lên chiếc bàn cắt gỗ mít, làm nổi bật đống vải vụn dày dặn bằng nỉ, dạ và những cuộn bông gòn tơi xốp mà cô xếp gọn trong góc nhà từ mùa đông trước.
Bất chợt, một ý nghĩ lóe lên trong đầu khiến tim Lụa khẽ thắt lại.
Cô giật mình nhớ ra: ngày mai, đúng ngày hai mươi ba tháng Chạp, chính là ngày giỗ của Hai Thuận – người con trai độc nhất của ông Bảy Kiên, người đã vĩnh viễn nằm lại dưới chân công trình thủy nông năm nào giữa một mùa đông buốt giá.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
