Chương 7: Minh Ước Bến Sông
Nghe thấy bốn chữ “Khúc Chính Tâm” cùng danh xưng quan chức Thường Bình, đôi mày thanh tú của Trần Tố Nương khẽ nhướng lên, nhưng bàn tay đang đặt nơi chuôi đoản đao bên hông vẫn không hề buông lỏng. Ánh mắt nàng sắc lạnh lướt qua chiếc nón lá tơi tả và vạt áo chàm đượm mùi sương đêm của người đối diện, khóe môi nhếch lên một nụ cười giễu cợt “Thì ra là Đề cử sứ đại nhân quang lâm. Thảo dân chỉ là một kẻ chèo đò kiếm cơm trên sóng nước, bến bãi này đâu dám phiền đến quan trên đích thân hạ cố. Nhưng ngài đến nhầm chỗ rồi. Ba ngày nay, tuần kiểm thủy ty của Hà Bá Thiệu câu kết cùng tay chân Đô thương hội đã giăng xích sắt phong tỏa luồng lạch, ép hơn năm mươi chiếc thuyền tải của bang Lộ Giang chúng tôi phải nằm phơi đáy nơi doi cát. Gạo muối không cho dỡ, củi lửa không cho thông, hàng trăm phu thuyền đang phải húp cháo loãng cầm hơi. Nha môn các người chẳng phải mắt nhắm mắt mở để Tiền Vạn Hưng một tay che trời hay sao? Đêm nay đại nhân lại đến đây nói chuyện cứu vãn sinh linh, nghe sao mà xót xa quá đỗi!”
Từng lời của nữ chưởng quầy như đá ghềnh va vào mạn thuyền, chan chát nỗi uất ức dồn nén bấy lâu.
Chính Tâm không hề biến sắc. Ông đứng yên trên tấm ván cầu rung rinh theo nhịp sóng, chắp tay khẽ cúi đầu “Tiểu nhân lộng hành, quan lại dung túng, khiến thuyền bè nghẽn lối, trăm họ điêu đứng, ấy là món nợ mà kẻ đội mũ cánh chuồn như tại hạ chưa làm tròn bổn phận. Nhưng nếu tại hạ chỉ muốn trốn tránh, đêm nay đã không một mình lội bùn ra bãi vắng này. Trần chưởng quầy, thuyền của nàng bị giam lỏng, phu phen dưới trướng chịu đói khát, lẽ nào nàng cam tâm nhìn Đô thương hội bóp nghẹt toàn bộ bang thuyền Lộ Giang, biến dân sông nước thành trâu ngựa cho chúng sai khiến?”
Ánh mắt kiên định, sâu thẳm như giếng ngọc mùa thu của viên quan coi kho khiến Tố Nương thoáng khựng lại. Nàng nhìn quanh khúc sông tối đen như mực, chỉ có tiếng gió giáp hạt rít từng cơn lạnh buốt qua rặng lau sậy. Bàn tay nàng rời khỏi chuôi đao, nghiêng mình vén rèm cói “Mời đại nhân vào khoang.”
Khoang thuyền hẹp chỉ đủ kê một chiếc bàn gỗ nhỏ và hai chiếc đôn mây, thoang thoảng mùi dầu rái quyện với hương trà xanh mộc mạc. Trên vách nứa treo lủng lẳng một chiếc la bàn bằng đồng và mấy cuộn dây gai bản lớn.
Ngay khi an tọa, Chính Tâm không vòng vo khách sáo. Ông tháo ống nứa đeo bên hông, cẩn thận trải rộng một tấm bản đồ thủy trình đã ngả màu ố vàng lên mặt bàn. Trên mặt giấy xuyến chỉ, từng luồng lạch sông Lộ Giang, từng bãi cạn, bến đỗ từ phủ Thăng An ngược lên mạn ngược Nam Xuyên đều được vẽ chi tiết kèm theo những hàng chữ son nhỏ li ti.
Tố Nương cúi đầu nhìn, đôi mắt chợt mở to đầy kinh ngạc. Nàng vốn là người sinh ra và lớn lên trên sông nước, thuộc từng khúc quanh luồng lạch, nhưng bản đồ này còn ghi rõ cả mớn nước mùa cạn của từng luồng phụ, phí kéo thuyền qua các ghềnh đá, và số ngày đường cho từng loại thuyền tải đáy bằng.
“Đại nhân... sao ngài lại có thứ này?”
“Thu thuở trước, khi mùa hạn vừa manh nha, tại hạ đã đích thân thuê thuyền nhỏ ngược dòng khảo sát suốt hai tuần trăng,” Chính Tâm điềm tĩnh giải thích, ngón tay trỏ có vết chai dày khẽ miết lên điểm giao giữa hai phủ. “Từ Thăng An lên bến Thượng Tân của phủ Nam Xuyên đúng hai trăm hai mươi dặm đường thủy. Nam Xuyên năm nay không bị đại hạn, ngô hạt và khoai mễ được mùa lớn nhưng đường bộ trắc trở, thương nhân kinh kỳ chê rẻ không thèm thu mua, giá tại nương rẫy hiện chỉ hai đến ba văn một đấu. Trong khi đó, năm vạn hộ dân Thăng An đang bị Tiền Vạn Hưng bóp nghẹt cổ họng bằng giá gạo bảy mươi lăm văn.”
Tố Nương hít sâu một hơi, nhịp thở có phần dồn dập “Ý đại nhân muốn bang Lộ Giang chúng tôi lên Nam Xuyên chở hoa màu về?”
“Không chỉ là chở về, mà là mở ra một con đường sống!” Giọng Chính Tâm trầm xuống nhưng chắc nịch như đinh đóng cột. “Nếu đi thuyền lớn lòng sâu, đoàn thuyền sẽ mắc cạn ở bãi cát bồi Lạc Nhạn. Nhưng bang Lộ Giang của nàng sở hữu đúng ba trăm chiếc thuyền tải nhẹ đáy bằng, tải trọng mỗi chiếc chừng tám mươi đến một trăm thạch lương thực, lướt sóng cực nhanh. Tại hạ đã tính kỹ: cước phí vận chuyển đường sông xuôi dòng, tính cả hao hụt rơi vãi và tiền công phu chèo, mỗi đấu ngô khoai về đến bến Vĩnh Thông chỉ tốn thêm hai văn tiền. Thường Bình Thương sẽ đứng ra ký khế ước bảo lãnh thu mua toàn bộ với giá sáu văn một đấu, sau đó bán điều tiết cứu đói cho bá tánh với giá mười văn một đấu.”Ông ngẩng đầu nhìn thẳng vào Tố Nương “Ba trăm thuyền tải gom đủ hai vạn thạch ngô khoai. Toàn bộ phu thuyền của nàng không những có việc làm, có cơm ăn, mà mỗi chuyến đi còn thu về hàng trăm quan tiền công chính đáng. Quan trọng hơn cả, việc này sẽ bẻ gãy hoàn toàn dã tâm độc quyền đường sông của Đô thương hội. Chúng muốn giam thuyền của nàng đến chết đói, ta lại cho thuyền của nàng chở đầy hy vọng của vạn dân.”
Tố Nương nghe đến đâu, lồng ngực phập phồng xúc động đến đó. Từng con số, từng luồng lạch được vị quan lục phẩm trước mặt phân tích rành mạch, chuẩn xác đến mức một kẻ lõi đời sông nước như nàng cũng không tìm ra một kẽ hở nào. Sự dè chừng trong mắt nàng hoàn toàn tan biến, thay vào đó là niềm cảm phục sâu sắc đối với một vị quan thanh liêm am tường sự đời.
Nhưng rồi, Tố Nương khẽ thở dài, chỉ tay về phía hẻm Lạc Nhạn trên bản đồ “Đại nhân nhìn xa trông rộng, tiểu nữ vô cùng khâm phục. Thế nhưng hẻm Lạc Nhạn nước xiết hiểm trở, lại là ranh giới giáp hạt. Hà Bá Thiệu và Tiền Vạn Hưng đâu phải kẻ mù lòa. Ba trăm chiếc thuyền nhổ neo rầm rộ ngược dòng, làm sao qua mắt được tai mắt của Đô thương hội?”
“Bởi vậy, ván cờ này cần phân chia hai ngả sáng tối,” Chính Tâm khẽ mỉm cười, ánh mắt lóe lên tia sáng mưu lược. “Ở ngoài sáng, ta sẽ ở lại phủ Thăng An, tiếp tục mở cửa ba kho Thường Bình bán rỉ rả mỗi ngày vài trăm thạch thóc cũ, đồng thời phao tin phủ nha đang gom bạc chuẩn bị lên kinh thành xin triều đình cấp phát viện trợ. Đô thương hội và Hà Bá Thiệu sẽ dồn toàn bộ tâm trí, bạc tiền và tai mắt để canh chừng ta, tìm cách chặn đường lên kinh. Còn ở trong tối, ba trăm thuyền của nàng sẽ phân tán ra các lạch phụ, đợi nửa đêm mai đồng loạt nhổ neo vượt trạm tuần kiểm.”
Chính Tâm dừng lại một nhịp rồi nói tiếp “Để nàng yên tâm và đảm bảo việc thu mua minh bạch, học trò của ta là Lục Trọng Đình sẽ cải trang làm thương buôn đi cùng đoàn thuyền. Trọng Đình có tài tính toán siêu đẳng, mang theo công văn mật và ngân lượng ứng trước của kho Thường Bình để trực tiếp giao dịch với các chủ trang trại Nam Xuyên. Chuyến đi này sống còn hệ tại chữ tín và lòng can đảm của Trần chưởng quầy.”
Tố Nương đứng phắt dậy, thần thái hào sảng của thủ lĩnh sông nước bừng sáng trên gương mặt bánh mật. Nàng rót đầy hai bát trà nguội ngắt, hai tay bưng một bát kính cẩn dâng lên trước mặt Chính Tâm “Khúc đại nhân đã vì vạn hộ dân nghèo mà dốc cạn tâm can, nếu Tố Nương này còn so đo tính toán thiệt hơn thì chẳng xứng làm con dân đất Lộ Giang! Ba trăm thuyền tải của bang thuyền chúng tôi xin giao trọn vào tay đại nhân. Ngày mai, Trọng Đình công tử chỉ việc bước xuống thuyền, Tố Nương này dẫu có phải đổi mạng cũng quyết đưa đoàn thuyền lương về đến Thăng An!”
Chính Tâm đón lấy bát trà, trịnh trọng nâng lên ngang mày rồi cùng nàng cạn sạch. Vị chát đắng đọng lại nơi đầu lưỡi nhưng hậu vị lại ngọt lành, tựa như minh ước son sắt vừa được xác lập giữa lúc phong ba bão táp.
Sau khi bàn bạc tỉ mỉ ám hiệu liên lạc đường sông và cách thức che giấu lộ trình, Chính Tâm chắp tay từ biệt. Ông kéo sụp vành nón lá, bước nhanh ra mũi thuyền rồi thoăn thoắt bước qua tấm ván cầu trở lại bờ cát.
Đêm đã sang canh năm, màn sương mù dày đặc buông xuống bao trùm bến sông tĩnh mịch. Khi bóng dáng dong dỏng cao của Chính Tâm vừa khuất sau rặng phi lao khô khốc hướng về nha môn, phía bên kia đầm lau sậy rậm rạp bỗng vang lên tiếng cành khô gãy khẽ “rắc”.
Một bóng đen trùm áo tơi cọ vội vã lách qua bùn lầy, dáo dác nhìn quanh rồi luồn sâu vào ngõ tối, hớt hải chạy thục mạng về hướng đông nam — nơi dinh cơ lộng lẫy nguy nga của Đồng tri phủ Hà Bá Thiệu đang chìm trong ánh đèn lồng đỏ quạch.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
