Chương 14: Vòng Tay Che Chắn Bão Giông
Tiếng rạn vỡ khô khốc của thanh xà gồ vừa dứt, một tiếng rít ghê người xé toạc không gian gian nhà kho. Gió bão giật bung tấm tôn cũ kỹ, hất ngược lên trời vụt qua rặng bàng. Liền sau đó là một thác nước lạnh buốt trút xối xả từ khoảng mái thủng, quất rát mặt sàn xi măng.
– Coi chừng! Mái sập rồi! – Tiếng Đức hét thất thanh, gần như bị tiếng gió gầm nuốt chửng.
Trong thế giới tối tăm của Mai Lam, thính giác bén nhạy lập tức bắt lấy những âm thanh khiến tim em thắt lại: tiếng nước mưa táp ràn rạt lên mặt bàn làm việc, và rợn ngợp nhất là chuỗi âm thanh bộp... bộp... tí tách đập dồn dập vào mặt gỗ mít rỗng của sa bàn Kepler.
Nước mưa! Nước bão đang xối thẳng xuống bộ học cụ bốn món!
Thớ gỗ dù dai đến đâu, một khi ngấm no nước mưa sẽ lập tức trương nở, cong vênh. Những rãnh trượt mỏng manh, những vạch chia thời gian và từng gờ nổi li ti mà ba thầy trò chắt chiu từng giọt mồ hôi suốt bao ngày qua sẽ biến dạng hoàn toàn. Không một giây do dự, Lam lao bổ về phía trước, đôi tai bén nhạy dẫn đường qua màn mưa và bóng tối. Đôi bàn chân trần dẫm lên vũng nước lạnh ngắt, em dang rộng hai cánh tay, đè cả thân mình áp chặt lên mặt sa bàn elip và ôm trọn quả địa cầu vào lồng ngực.
Từng giọt mưa đá buốt táp rát sạt vào lưng, vào gáy Lam. Từng hạt mưa lạnh quất rát sạt vào lưng, vào gáy, ngấm qua lớp áo đồng phục mỏng, nhưng cô bé vẫn nghiến chặt răng, hai bàn tay mảnh khảnh bấu chặt lấy gờ gỗ mít dưới đáy bàn.
– Lam ơi! Để tớ che cho!
Bên cạnh, tiếng Đức thở hồng hộc. Cậu bạn học vội nhào tới, gập người che chắn trọn vẹn phần khay đỡ mô hình chu kỳ Mặt Trăng và chiếc thước đo góc bán nguyệt. Hai đứa trẻ mười bốn tuổi như hai mái che nhỏ nhoi, gồng mình đón lấy trận mưa rào quất thẳng từ khoảng mái thủng xuống.
Bỗng nhiên, một luồng hơi ấm dày dặn chụp xuống lưng Lam.
Mùi dầu tràm nồng ấm quyện lẫn hương thuốc nam quen thuộc phả vào khứu giác. Chiếc áo khoác bông trần sợi đã sờn vai của thầy Tường phủ kín lưng hai đứa trẻ và trùm trọn vẹn lên những thớ gỗ phía dưới. Ngay sau đó, Lam cảm nhận được hai cánh tay gầy guộc nhưng rắn rỏi của người thầy già dang rộng, vòng qua vai em và Đức, ghì chặt cả hai vào một vòng cung che chắn vững chãi.
Thầy Tường đứng đó, lưng trần đối diện với dòng nước xối và những đợt gió rít căm căm lùa qua khe ngói vỡ. Lam cảm nhận từng nhịp thở gấp gáp phồng lên xẹp xuống dọc lồng ngực gầy của thầy áp sát vào lưng em, nghe tiếng răng thầy va vào nhau lập cập vì cái lạnh buốt thấu xương đang ngấm vào da thịt tuổi bảy mươi lăm. Những khớp ngón tay co cứng, biến dạng vì thoái hóa khớp của thầy đang run lên bần bật trên bả vai em, nhưng vòng tay ấy không hề nới lỏng dù chỉ một phân.
– Đừng sợ... Thầy ở đây rồi! Giữ chặt lấy học cụ nghe các con! – Giọng thầy Tường khàn đặc, đứt quãng giữa tiếng gầm rú của giông gió, nhưng ấm áp lạ kỳ.
Nước mắt Lam trào ra, hòa lẫn vào dòng nước mưa chảy ròng ròng trên má. Em muốn cựa mình đẩy thầy ra, muốn thầy tìm chỗ trú, nhưng vòng tay bao bọc của người thầy như chiếc mỏ neo cắm chặt giữa tâm bão, giữ cho hai đứa học trò và ước mơ khoa học non nớt không bị quật ngã.
Đúng lúc ấy, từ phía cổng trường vọng lại chuỗi âm thanh hỗn loạn: tiếng xích xe đạp rít ken két trong bùn lầy, tiếng bánh xe trượt dài trên nền gạch ướt, rồi một tiếng đổ sầm chát chúa.
– Lam ơi! Con tôi đâu rồi? Lam ơi!
Tiếng gọi thất thanh, hoảng loạn xé toạc màn mưa gió. Lam giật bắn mình, trái tim thắt lại – Mẹ! Mẹ ơi! Con ở trong kho!
Từ khung cửa sổ vỡ toang chắn tạm bằng tấm liếp tre, tiếng bước chân bì bõm chạy vội chợt khựng lại. Giữa tiếng sấm rền vang trời, Lam nghe rõ tiếng nấc nghẹn ngào buốt nhói của mẹ mình. Dường như hình ảnh hiện ra trước mắt đã khiến người phụ nữ lam lũ chết lặng: giữa gian nhà kho dột nát ngập ngụa bùn nước, người thầy giáo già đầu tóc bạc trắng ướt sũng, tấm lưng gầy cong lên đón từng luồng mưa quất để làm tấm khiên sống che chở cho hai đứa trẻ và những khối gỗ vô tri.
– Trời đất ơi... Thầy Tường... Lam ơi!
Bà Nhạn lao qua bậu cửa. Mùi bùn đất ẩm ướt quyện chặt với mùi bột bánh bèo và hành phi quen thuộc ùa vào khoang mũi Lam. Không một lời thở than hay trách móc, người mẹ vội vã giật phăng chiếc áo mưa cánh dơi trên người. Chưa dừng lại ở đó, bà run rẩy mở bung cuộn bạt nhựa dày cộp cột sau lưng – tấm bạt dù xanh vốn dùng để che chắn gánh bánh mưu sinh mỗi buổi chợ chiều – rồi trùm kín mít lên toàn bộ khung đỡ bộ học cụ.Bốn con người, tám bàn tay cùng xúm lại chèn chặt mép bạt bằng những thanh gỗ mít thừa dưới chân bàn. Bà Nhạn ôm chầm lấy lưng Lam, hai bàn tay nứt nẻ vì sương gió miết chặt lấy bờ vai run rẩy của con gái – Có mẹ đây rồi con... Mẹ đây rồi... Đừng sợ nghe con!
Hơi ấm từ bàn tay mẹ, sự vững chãi của thầy Tường và sự kiên cường của Đức tạo thành một bức thành trì chở che kín kẽ. Tiếng gió bão ngoài trời vẫn gầm thét dữ dội, giật tung những cành phượng vĩ ngoài sân, nhưng bên trong góc xưởng tồi tàn, bộ học cụ gỗ mít vẫn nằm im lìm, khô ráo dưới lớp bạt dã chiến.
Gần nửa giờ sau, cơn dông cuồng nộ mới bắt đầu suy yếu, tiếng gió rít thưa dần thành những đợt mưa rào rả rích.
– Thầy Tường ơi! Lam ơi, Đức ơi! Mọi người có sao không?
Ánh đèn pin loang loáng quét qua ô cửa vỡ. Thầy Hiệu trưởng Lê Bá Thuận cùng hai bác bảo vệ hớt hải khoác áo mưa chạy vào. Nhìn gian kho xơ xác ngập nước và bốn bóng người ướt sũng đang ngồi co cụm quanh đống bạt dù, thầy Thuận thở phào một hơi dài, vội giục – Đỡ thầy Tường mau! Mau đưa cả đoàn sang phòng bảo vệ bên cổng chính, bên đó xây kiên cố có máy sưởi và nước nóng!
Đức và bác bảo vệ cẩn thận luồn tay qua nẹp chịu lực, cùng bà Nhạn nhấc bổng toàn bộ khối khung gỗ bọc bạt ra khỏi vũng nước. Thầy Tường vịn vào vai thầy Thuận, bước từng bước tập tễnh vì đôi chân đã tê cóng sau thời gian dài ngâm nước lạnh.
Gian phòng bảo vệ nhỏ nhắn sáng rực ánh đèn vàng ấm áp. Ngay khi đặt bộ học cụ lên chiếc bàn gỗ khô ráo, Đức vội vã tháo dây buộc, lật từng lớp bạt dù và chiếc áo bông ướt sũng ra.
Lam đưa đôi bàn tay run rẩy chạm vào bề mặt từng món đồ.
Từ chiếc thước đo góc hình bán nguyệt, rãnh trượt elip của sa bàn Kepler, đến từng chấm chữ Braille trên quả địa cầu và lớp nỉ nhung của chu kỳ Mặt Trăng... tất cả đều khô ráo tinh tươm. Lớp sáp ong tự nhiên cùng sự bảo bọc kiên cường của mọi người đã ngăn chặn hoàn toàn từng giọt nước mưa. Từng thớ gỗ mít già vẫn láng mịn, phẳng phiu, các gờ nổi ranh giới vẫn chuẩn xác từng milimét dưới xúc giác tinh tế của cô học trò khiếm thị.
– Nguyên vẹn hết rồi thầy ơi! – Lam reo lên, khóe mắt rưng rưng lệ. – Học cụ của chúng ta không bị ướt một chút nào cả!
Thầy Tường ngồi tựa lưng vào chiếc ghế đẩu, mái tóc bạc dính bết vào trán, mỉm cười hiền từ. Cơn lạnh thấu xương làm hai hàm răng ông va vào nhau, cánh tay buốt nhói run rẩy không sao giơ lên nổi.
Bà Nhạn bước đến bên cạnh, hai tay bưng cốc nước chè xanh nóng hổi vừa rót từ ấm ủ đưa cho thầy giáo già. Nhìn những khớp ngón tay sưng đỏ, biến dạng của thầy đang run rẩy đón lấy cốc nước, người phụ nữ lam lũ bỗng bật khóc nấc lên. Bà quỳ thụp xuống trước mặt thầy Tường, đôi bàn tay thô ráp nứt nẻ nắm chặt lấy bàn tay lạnh buốt của người thầy – Thầy ơi... Em có mắt mà như mù... Suốt bấy lâu nay em cứ sợ con Lam đi thi thì chịu khổ, sợ người đời cười chê nó không nhìn thấy đường... Em đâu biết trên đời này lại có một người thầy đem cả tính mạng, đem cả tấm thân già ra để che chở cho ước mơ của nó như vậy!
Thầy Tường vội đặt cốc nước xuống bàn, dùng bàn tay trái đỡ lấy vai người mẹ – Chị Nhạn, đừng nói vậy... Lam nó sáng dạ và giàu nghị lực lắm. Chúng tôi làm việc này không phải vì danh hão, mà vì tương lai của chính con bé.
Gạt đi giọt nước mắt lăn dài trên gò má sạm đen, bà Nhạn ngẩng đầu lên, ánh mắt chan chứa một sự quyết tâm chưa từng có – Dạ thầy... Ngày các con ra thành phố thi đấu, em sẽ nghỉ hẳn gánh bánh bèo ở chợ. Em sẽ theo xe chở học cụ, tự tay nấu từng bữa cơm, giặt từng manh áo cho ba thầy trò. Dù có phải bán cả đôi bông tai cưới, em cũng quyết cùng thầy đưa con Lam đi tới cùng trời cuối đất!
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
