Chương 16: Vượt Trùng Mật Võng Trực Chỉ Phủ Thành
Lắng nghe lời hiệu triệu của cụ Thược, Điền Tố khẽ gật đầu, lau vội giọt nước mắt vương trên khóe mi. Vết bỏng bên sườn cụ Thược vẫn còn rát buốt sau cơn hỏa hoạn, nhưng bàn tay lão lại già một trăm mười hai tuổi khi chạm vào từng trang giấy bổi vẫn chuẩn xác, vững vàng. Dưới ánh đèn dầu leo lét trên chiếc chõng tre xóm Nam, hai thầy trò Ty Điền Lược cẩn trọng xếp đặt tang chứng cho chuyến đi sinh tử. Gian nhà tre khuất sâu sau lũy tre già chìm trong tĩnh mịch, chỉ có tiếng gió đêm xào xạc hòa cùng nhịp thở gấp gáp.
Trên mặt bàn nứa, cuốn địa bạ gốc tám mươi năm trước bọc da dê cùng tấm bản đồ đinh bạ vẽ trên da cừu ngự tứ được vuốt phẳng phiu từng nếp gấp. Từng nét mực son triện ấn tiên đế vẫn đỏ thắm, trang nghiêm như lời thề bảo vệ xã tắc phàm trần trước dã tâm của hào tộc tu chân. Đặt bên cạnh là cuốn sổ da bổi của Điền Tố ghi chép rành mạch tọa độ trắc lượng theo sao Bắc Đẩu, chứng minh dòng sông Linh Tuyền bị nắn lệch ba trượng hai thước lấn vào năm vạn mẫu dân điền. Cụ Thược tự tay kiểm tra ba mảnh vỡ linh thạch tàn trận Di Sơn Trận, mảnh ngọc bội khắc hoa văn mây cuộn mang nửa chữ “Cố” nhặt được bên mép đầm Mẫu Đơn, cùng chiếc ống phóng hỏa bằng đồng thau mang triện huyện nha Thanh Khê. Cuối cùng là xấp văn khế nợ khống có chữ ký ép buộc của Trưởng xóm Trương, hoàn toàn thiếu vắng dấu hoa điểm chỉ của từng chủ hộ. Tất cả được xếp cẩn mật vào chiếc rương gỗ bách viền đồng.
Cụ Thược trầm giọng dặn dò học trò: — Mỗi tờ giấy, mỗi mảnh đá này đều là sinh mạng của hàng vạn phàm nhân Thanh Khê. Chỉ cần thiếu một món, công lý trước Ngự Sử Đài sẽ khuyết một phần sức nặng.
Điền Tố chốt chặt then khóa bằng đồng thau. Đúng lúc ấy, ngoài liếp cửa bỗng vang lên tiếng cào nhẹ vội vã kèm theo tiếng th* d*c đứt quãng. Điền Tố lập tức bước lên chắn trước chiếc rương, tay nắm chặt cây cọc gỗ vót nhọn dựng bên vách.
Cụ Thược khẽ lắc đầu ra hiệu cho đệ tử bình tĩnh, rồi bước lại gần khe liếp, cất tiếng: — Ai ở ngoài đó? — Cụ Thược... là con... Khương Thạch đây... — giọng nói khàn đặc, thều thào như sắp đứt hơi.
Nhận ra người quen, cụ Thược hé mở then cài. Cánh cửa tre vừa mở, một bóng người liền lảo đảo ngã nhào vào bậu cửa. Đó là Khương Thạch, người cháu họ hai mươi tuổi của bà Ba Khương. Toàn thân chàng trai ướt sũng bùn lầy tanh tưởi, manh áo chẽn rách bươm để lộ những vết lằn roi ngâm nước muối rướm máu đỏ lòm từ vai xuống lưng.
Cụ Thược vội đỡ lấy chàng trai, giục Điền Tố bưng bát nước ấm lại. Khương Thạch nhấp ngụm nước, khó nhọc nuốt khan: — Cụ Thược... con liều chết chui qua cống ngục đại lao trốn ra... Bà Ba Khương cùng bốn vị trưởng xóm dặn con... dù phải bỏ mạng cũng phải trao tận tay cụ vật này...
Chàng trai run rẩy rút từ trong lớp áo lót ra một mảnh vải thô thấm đẫm huyết sắc. Dưới ánh đèn dầu, cụ Thược run run trải phẳng mảnh vải. Những nét chữ xiêu vẹo viết bằng máu tươi của bà Ba Khương cùng dấu huyết chỉ của bốn vị trưởng xóm đập vào mắt cụ: “Dù gãy xương nát thịt dưới đòn roi tra khảo, chúng tôi quyết không điểm chỉ nhượng đất cho loài lang sói. Năm vạn mẫu ruộng hương hỏa và tính mạng hàng ngàn hộ dân nghèo Thanh Khê này, xin trông cậy cả vào Thẻ Ngà và tấm lòng của cụ Tiền!”
Sống mũi cay xè, khóe mắt già nua rưng rưng nhưng ánh mắt cụ Thược bừng lên ngọn lửa căm phẫn tột cùng. Cụ cẩn thận gập bức huyết thư, đặt vào vị trí trang trọng nhất bên trong rương bách cạnh cuốn địa bạ gốc, rồi cài then gỗ. — Bà Ba Khương và các vị trưởng xóm hãy yên lòng, — cụ Thược siết chặt nắm tay, giọng trầm hùng, — chừng nào lão già này còn thở, tấc đất của trăm họ quyết không để rơi vào tay lũ cường hào.
Khương Thạch gạt mồ hôi trên trán, giọng dồn dập: — Thưa cụ, Cố Bá Ung hay tin kho địa bạ cháy nhưng rương bách biến mất, liền nổi trận lôi đình. Hắn mắng Lưu Thừa Phong bất tài, rồi lập tức điều động mấy chục tu sĩ Cố gia giăng thiên la địa võng. Bọn chúng mang theo la bàn tầm linh, phong tỏa nghiêm ngặt mọi ngả đường quan lộ, bến đò, hẻm núi ra khỏi Thanh Khê, quyết đoạt lại chiếc rương trước khi trời sáng!Điền Tố giật mình, sắc mặt tái nhợt: — Sư phụ, la bàn tầm linh của tu sĩ rất nhạy bén với dao động linh khí. Trong rương bách có ba mảnh linh thạch tàn trận và ngọc bội Cố thị, nếu chúng ta ra đường lớn ắt sẽ bị phát hiện ngay!
Cụ Thược vuốt chòm râu bạc, thần sắc vẫn điềm đạm như bàn thạch: — Tu sĩ cậy vào linh thuật và thần thức, coi phàm nhân như cỏ rác, đó chính là sơ hở lớn nhất của chúng. Thầy trò ta cùng bà con đều là người phàm, thân thể không có dao động linh lực, la bàn tầm linh làm sao soi thấy? Còn ba mảnh linh thạch kia, linh khí vốn đã hao cạn. Con mau lấy bùn non dưới đáy đầm Mẫu Đơn bọc kín ba mảnh đá và miếng ngọc bội, rồi dùng lá chuối khô và vải sáp phong kín. Thổ khí của bùn đầm ngàn năm sẽ ngăn chặn linh tức rò rỉ.
Điền Tố sáng mắt ra, lập tức làm theo lời sư phụ. Chỉ lát sau, bọc linh thạch đã được lớp bùn non phong tỏa hoàn toàn, không còn phát ra một tia gợn sóng linh khí nào.
Cụ Thược quay sang Khương Thạch, dặn dò: — Chú em mau tìm năm tráng đinh gan dạ, chuẩn bị năm cỗ xe bò chất đầy trấu vụn và củi khô. Trên mỗi xe, hãy rải vài mẩu than đá đượm khói và đá núi có tạp chất để tạo luồng khí tức nghi binh, rồi thúc xe rầm rộ tiến ra năm ngả đường thiên lý. Thấy xe bò chạy loạn, đám tu sĩ và nha sai ắt sẽ tưởng ta trốn đường bộ mà dồn lực đuổi theo.
Khương Thạch lĩnh mệnh, cúi đầu chào rồi lập tức hòa mình vào bóng đêm đi truyền tin.
Đúng như dự liệu, tiếng la hét và ánh đuốc của gia đinh họ Cố nhanh chóng dồn về phía các ngả đường cái theo dấu năm cỗ xe bò. Lợi dụng lúc quân địch bị đánh lạc hướng, cụ Thược và Điền Tố lặng lẽ khiêng chiếc rương bách luồn qua lũy tre xóm Nam, tiến về con lạch nhỏ hoang vu men theo rìa rừng Thúy Vi. Nơi đây lau sậy mọc lút đầu người, dòng nước chảy xiết luồn qua các hốc đá ngầm, là lối đi hiểm hóc chỉ dân chài phàm nhân quen thuộc.
Dưới rặng bần cổ thụ, một chiếc thuyền nan mộc mạc giấu kín trong lùm cây đã chờ sẵn. Hai thầy trò cẩn thận đặt chiếc rương bách xuống đáy khoang, phủ tấm lưới gai và rơm khô ngụy trang. Điền Tố cầm mái chèo, cụ Thược ngồi vững chãi ở mũi thuyền, tay giữ chặt Thẻ Ngà Kiểm Điền bên hông. Con thuyền nan lướt êm ru trên làn nước lạnh buốt, rẽ qua từng đám lau sậy xuôi dòng hướng về ranh giới huyện Thanh Khê.
Gió sông sớm mai thổi buốt lạnh rát mặt. Dưới mái chèo nhịp nhàng của Điền Tố, con thuyền dần bỏ lại phía sau những chòi canh rực đuốc trên bộ. Khúc lạch nhỏ mở rộng, chuẩn bị hòa vào dòng sông lớn xuôi về phủ thành Lạc Xuyên. Ranh giới huyện Thanh Khê chỉ còn cách trong gang tấc.
Đúng lúc hai thầy trò sắp vượt qua vòng vây, mặt nước phía trước bỗng cuộn trào sóng dữ, bọt nước tung trắng xóa. Một bóng đen khổng lồ xé toạc màn sương sớm, lù lù trồi lên chắn ngang dòng nước xiết.
Đó là một chiến thuyền tuần tra đồ sộ của Cố gia. Mũi thuyền chạm trổ đầu giao long hung tợn, trên boong đứng chật ních hộ vệ áo giáp đen. Sừng sững ở mạn thuyền là những cỗ nỏ linh tiễn khổng lồ đã lắp sẵn mũi tên phát ra ánh sáng lạnh lẽo, đồng loạt chĩa thẳng về phía con thuyền nan nhỏ bé.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
