Chương 4: Khách Lạ Đeo Tràng Hạt
Nghe tiếng tràng hạt lách cách cùng giọng cười từ bi truyền qua vách nứa, Lưu Vong Phong biến sắc, toan chồm dậy vồ lấy thanh trường đao nơi góc nan trúc. Ngô Tuyết Linh cũng siết chặt vạt áo lam, hàn quang nơi đáy mắt lóe lên đầy cảnh giác.
Cụ Trực khẽ đưa bàn tay chai sần chặn ngang trước ngực Vong Phong, ánh mắt nghiêm nghị như răn đe. Cụ không nói nửa lời, chỉ khẽ nghiêng đầu hướng về phía giàn phơi dù giấy ở gian sau. Nơi ấy, những tán dù vàng nghệ, đỏ thắm xếp tầng tầng lớp lớp, vừa khéo làm bức bình phong che khuất ánh nhìn từ cửa chính. Hiểu ý lão nhân gia, Tuyết Linh cắn môi, khẽ kéo tay áo Vong Phong lùi nhanh vào bóng tối sau những khung nan dù. Vong Phong dù lòng đầy phẫn uất nhưng trước khí độ thâm trầm của cụ Trực, hắn đành nuốt giận nép mình im bặt.
Cụ Trực cúi người, dùng kẹp tre gắp mảnh lụa điều vùi sâu vào dưới lớp tro tàn bên rìa lò than để át đi mùi lưu huỳnh, đoạn với tay lấy chiếc chổi đót quét sơ qua tàn bột vàng vương trên nền đất. Mọi cử chỉ đều khoan thai, không một chút gợn sóng.
“Khách phương xa lặn lội trong bão tuyết, quán rách có sẵn bếp than, mời vào sưởi ấm.”
Cụ Trực cất giọng trầm ấm, chống chiếc gậy trúc bước tới, từ tốn nhấc then cài bằng gỗ lim.
Cánh liếp nứa vừa hé mở, một luồng gió tuyết buốt giá lập tức thốc vào gian quán, làm than hồng trong lò bùng lên lách tách. Hiện ra giữa màn sương tuyết mịt mù là một bóng người đẫy đà, khoác chiếc áo thụng xám tro rộng thùng thình. Nơi vạt áo, hình thêu đóa hoa sen đỡ vầng trăng lưỡi liềm bằng chỉ bạc hiện rõ mồn một dưới ánh lửa bập bùng.
Người nọ giũ nhẹ tuyết đọng trên vai áo, bước qua ngưỡng cửa đá. Hắn có khuôn mặt tròn trịa, nước da trắng trẻo, khóe môi luôn điểm một nụ cười hiền hậu toát vẻ từ bi hỷ xả. Trên cổ tay tròn lẳn, chuỗi tràng hạt bồ đề một trăm lẻ tám hạt bằng gỗ mun láng bóng khẽ xoay tròn theo từng ngón tay mập mạp.
Cụ Trực đứng chôn chân bên cánh cửa, đôi mắt già nua hơi nheo lại.
Khoảnh khắc bốn mắt chạm nhau, một tia chấn động khẽ lướt qua tâm can lão nhân gia. Dù bốn mươi năm đã trôi qua, dù mái tóc đen năm nào nay đã điểm hoa râm, dù dáng người gầy guộc thuở thiếu thời nay đã đẫy đà phương phi trong lốt đạo bào, nhưng cốt tướng ấy, vầng trán dồ cùng đôi mắt ti hí hay híp lại đầy toan tính kia thì không thể nào nhầm lẫn.
Thẩm Uyên Kình!
Đứa trẻ côi cút năm xưa rét mướt ngất lịm bên đèo, được cụ mang về cưu mang dưới mái tranh này, truyền cho ngón nghề vót trúc bồi giấy và công phu hộ thân. Cũng chính là kẻ bốn mươi năm trước, khi vừa tròn hai mươi lăm tuổi, đã lộ rõ tâm thuật bất chính, lén lút hạ độc cướp tiêu của đoàn thương buôn qua đèo, buộc cụ phải bẻ gãy thanh trúc môn quy, đoạn tuyệt tình sư đồ rồi trục xuất khỏi sườn Lạc Vân.
Nay, kẻ phản nghịch năm xưa đã bước sang tuổi sáu mươi lăm, đường hoàng trở lại quán cũ dưới danh phận Trung Dung Cư Sĩ tiếng tăm lừng lẫy của Nhà thuốc Từ Thiện.
Thẩm Uyên Kình chắp tay thi lễ, giọng nói ôn hòa như gió thoảng “Bần đạo xưng danh Trung Dung Cư Sĩ, quán xuyến việc thiện tế tại thị trấn Vân Khẩu dưới chân đèo. Đêm nay bão tuyết mịt mù, đường trơn ngựa mỏi, may mắn thấy ánh đèn dầu của lão trượng soi tỏ sườn non. Xin thứ lỗi vì đã đường đột quấy rầy sự thanh tịnh.”
Hắn nhìn cụ Trực, ánh mắt ti hí lướt qua bộ áo vải nâu sồng vá vai, chòm râu bạc dài chạm ngực và đôi mắt trong sâu màu nước suối. Trong đáy mắt Thẩm Uyên Kình thoáng qua một tia dò xét sắc lạnh, nhưng gương mặt hắn vẫn giữ nguyên nụ cười từ bi giả tạo, tựa hồ hoàn toàn không nhận ra người sư phụ già nua mà hắn từng quỳ lạy thuở thiếu thời, hoặc giả hắn đang cố tình che đậy tâm can.
Cụ Trực nén lại tiếng thở dài thăm thẳm nơi đáy ngực. Lão nhân gia thong thả cài lại then cửa, giọng điệu bằng phẳng “Đèo cao gió rét, người qua đường lỡ bước gặp mái tranh nương thân là lẽ thường tình. Cư sĩ xin mời lại gần bếp lửa.”
Thẩm Uyên Kình bước đến bên chiếc bàn gỗ mộc mạc, khẽ phất tà áo thụng ngồi xuống chiếc ghế tre. Hắn đưa bàn tay hơ trên than hồng, chuỗi bồ đề lại lách cách chuyển động “Lão trượng tuổi cao phúc dày, một mình dựng quán làm dù nơi heo hút gió tuyết thế này, thật khiến người ta kính nể. Chẳng hay từ chập tối tới giờ, quán có đón tiếp lữ khách nào khác qua đèo chăng?”
Cụ Trực bước tới góc chạn, lấy chiếc ấm đất nung đã ngả màu khói, từ tốn rót một bát nước vối nhạt bốc khói nghi ngút rồi đặt xuống trước mặt Thẩm Uyên Kình. Cụ thản nhiên đáp:“Quán nghèo quạnh quẽ, chỉ có gió tuyết ghé thăm. Vừa rồi có bà lão hàng xóm dưới dốc sang xin muôi dầu trẩu thắp đèn, ngoài ra chẳng thấy bóng ai.”
Nụ cười trên môi Thẩm Uyên Kình khẽ giật nhẹ. Đôi mắt ti hí của hắn đảo quanh gian nhà tranh, dừng lại giây lát ở góc vách đá nơi chất đống nan vầu bánh tẻ, rồi lướt qua những tán dù giấy dó rực rỡ đang treo lơ lửng che khuất gian sau. Mũi hắn khẽ phập phồng như muốn truy tìm một mùi hương quen thuộc nào đó trong không khí ấm nồng khói trẩu.
“Thế thì lạ thật,” Thẩm Uyên Kình thở dài đầy vẻ ưu thời mẫn thế, “Vừa rồi môn hạ của bần đạo tuần tra dưới sườn đèo, phát hiện dấu vết máu tươi cùng tàn bột lưu huỳnh dẫn lối lên hướng này. Nghe đồn hai đệ tử trẻ tuổi của Huyết Đao Môn và Hàn Băng Cốc vì tranh đoạt một cuốn tàn phổ sát phạt mà tàn sát lẫn nhau, mang thương tích chạy trốn lên đèo Lạc Vân. Nhà thuốc Từ Thiện chúng ta lấy việc cứu nhân độ thế làm gốc, sợ hai đứa trẻ ấy mất máu chết cóng giữa trời tuyết, nên mới đích thân mang linh dược và chó săn đi tìm kiếm để cứu chữa, hóa giải oán cừu.”
Ngồi sau giàn phơi dù giấy, Lưu Vong Phong nghiến răng kèn kẹt, nhưng bàn tay mềm mại lạnh buốt của Ngô Tuyết Linh đã kịp thời giữ chặt lấy vai hắn, ra hiệu im lặng.
Cụ Trực nhìn sâu vào đôi mắt híp của Thẩm Uyên Kình. Từng lời nói của nghịch đồ năm xưa thốt ra nghe như mật ngọt từ bi, nhưng lão nhân gia há lại không nhận ra sát khí giấu kín sau khóe môi mỉm cười kia? Hắn mang theo chó săn và cả đoàn võ trang áo thụng xám đuổi cùng giết tận, nào phải để cứu người, mà chính là muốn diệt khẩu, đoạt lấy bản tàn phổ để hoàn tất kế độc mượn đao giết người.
Cụ Trực kéo chiếc ghế đẩu ngồi xuống đối diện, bàn tay già nua khẽ v**t v* một đoạn nan trúc vầu đặt bên mép bàn. Giọng cụ cất lên chậm rãi, từng tiếng chắc nịch như đục vào đá “Cư sĩ quả là có lòng bồ tát. Nhưng trăng trên trời có khi tròn khi khuyết, lòng người nơi trần thế lại sâu hiểm khôn dò. Đao kiếm sát phạt vốn từ tâm ma mà sinh ra, kẻ ôm mộng cướp đoạt ắt có ngày chuốc lấy họa diệt thân.”
Thẩm Uyên Kình hơi khựng ngón tay đang lần tràng hạt, ngước mắt nhìn cụ Trực “Lão trượng nói vậy là có ý gì?”
Cụ Trực đưa thanh nan trúc qua ngọn lửa than hồng, thong thả uốn cong “Trúc vầu trên đỉnh Lạc Vân này mọc giữa khe đá cằn cỗi, đón gió rét ngàn năm. Thân nó rỗng ruột nhưng mắt đốt ngay thẳng, dẫu bão tuyết dập vùi cũng chỉ uốn mình chịu đựng chứ quyết không chịu gãy. Kẻ làm dù muốn uốn nan phải thuận theo thớ cật, đem hơi ấm mà thuần hóa cái cứng cỏi. Nếu kẻ nào cậy sức bẻ gập trái lẽ tự nhiên, hoặc rắp tâm vót nan thành chông nhọn để mưu hại lữ khách qua đèo, thì chẳng chóng thì chày, gai nhọn sẽ đâm nát bàn tay kẻ đó, tuyết lở cũng sẽ vùi lấp chẳng còn manh giáp.”
Khói dầu trẩu cay nồng quyện cùng hơi trà vối phả vào khoảng không gian tĩnh mịch.
Từng chữ, từng lời của cụ Trực mộc mạc mà sắc bén như mũi kim châm thẳng vào tâm can Thẩm Uyên Kình. Bốn mươi năm trước, chính bên lò lửa này, người sư phụ già cũng từng răn dạy hắn đạo lý của cây trúc trước khi đoạn tuyệt trục xuất hắn đi. Bàn tay mập mạp của Thẩm Uyên Kình khẽ siết chuỗi tràng hạt bồ đề, khiến những hạt gỗ mun va vào nhau lách cách dồn dập. Một thoáng bất an xen lẫn căm hận le lói nơi đáy mắt ti hí, nhưng rất nhanh sau đó, hắn đã nén lại, cất tiếng cười khà khà xua tan không khí căng thẳng “Hay cho câu thân rỗng mà mắt đốt ngay thẳng! Lời vàng ý ngọc của lão trượng thật khiến bần đạo mở rộng tầm mắt.”
Hắn nâng bát nước vối lên, uống cạn một ngụm lớn rồi từ từ đứng dậy, tà áo thụng xám lay động theo từng bước chân. Hắn liếc nhìn thật sâu về phía giàn phơi dù giấy ở gian sau một lần nữa, nơi ánh lửa than hắt lên những bóng dù im lìm như nín thở.
Thẩm Uyên Kình thò tay vào bọc áo, rút ra một nén bạc lớn sáng choang, nặng chừng năm lượng, đặt cộp xuống mặt bàn gỗ mộc mạc bên cạnh bát trà vối đã cạn.
Ánh bạc lạnh lẽo phản chiếu sắc đỏ của than hồng. Hắn chắp tay, khẽ cúi đầu, cất giọng trầm ấm nhưng ẩn chứa mối đe dọa thấu xương “Nén bạc này xem như chút tiền mọn bần đạo tạ ơn chén trà nóng đêm đông của lão trượng. Trời sắp chuyển canh ba, môn hạ của bần đạo đang đợi dưới dốc núi, bần đạo xin phép cáo từ. Sáng mai, bần đạo sẽ đích thân phái người mang thêm dược liệu cùng thuốc bổ lên quán, vừa để cứu tế cho những lữ khách lỡ bước qua đèo, vừa mong được cùng lão trượng đàm đạo thêm về chuyện trúc rừng.”
Nói đoạn, Thẩm Uyên Kình xoay người đẩy cửa bước ra ngoài. Gió tuyết thốc vào chốc lát rồi khép lại sau bóng áo thụng xám tro chìm dần vào màn đêm buốt giá, chỉ còn tiếng tràng hạt lách cách vẳng lại xa xăm giữa đèo Lạc Vân rền rĩ.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
