Chương 5: Mở Chiếc Tráp Lim
Thu hồi ánh mắt sắc lạnh khỏi cỗ xe bọc nệm xa hoa và pho tượng phượng hoàng dát vàng non sặc sụa mùi mỡ cừu, Tống Thuần Nghiêu khẽ vỗ nhẹ lên bờ vai đang run rẩy của đứa chắt trai.
Lão nhân trăm tuổi xoay người, tà áo chàm sờn vai phất nhẹ trong ngọn gió đêm lạnh buốt. Thừa An vội vàng đưa tay áo gạt đi dòng lệ căm hờn, rảo bước theo sát gót cố tổ. Hai bóng người, một già một trẻ, lặng lẽ tách khỏi đám đông đang nghẹn ngào uất hận, rẽ vào bóng tối sâu thẳm của các ngõ ngách. Phía sau lưng họ, tiếng vó ngựa tuần tra của lính Bộ Công vẫn nện côm cốp trên nền đá xanh, xen lẫn tiếng roi da vung vẩy ngạo ngược và giọng cười the thé của tên thương thủ ngoại bang Cát Nhĩ Lãng. Nhưng trong lòng Tống Thuần Nghiêu, những thứ tạp âm hỗn loạn ấy đã bị bỏ lại phía sau như làn bụi bặm qua đường.
Ngõ Thạch Kiều đón hai cụ cháu bằng vẻ tĩnh mịch quen thuộc. Cánh liếp tre khép lại, then cài gỗ buông xuống đánh “cạch” một tiếng dứt khoát, ngăn cách hoàn toàn sự huyên náo tanh nồng bên ngoài ngã tư Hàng Ngân.
Gian nhà tranh ba gian thoang thoảng hương hoa ngọc lan từ cây cổ thụ ngoài sân đưa vào, hòa quyện với mùi tro trấu ẩm nguội nơi lò đất cũ. Dưới ánh trăng mờ len qua khe liếp, Tống Thuần Nghiêu chầm chậm tiến về phía hương án mộc mạc đặt nơi gian giữa.
Lão nhân rút từ ống tre ba nén hương trầm, khẽ quẹt mồi lửa. Tàn lửa đỏ bừng lên rồi lụi đi, để lại ba chấm than đỏ rực tỏa làn khói lam uốn lượn nhẹ tênh trong không gian tịch mịch.
Tống Thuần Nghiêu nâng ba nén hương ngang trán. Đôi mắt hơi đục vì bụi trần thế kỷ của cụ khép hờ, bờ vai gầy guộc hơi cúi xuống trước bài vị tổ nghề kim hoàn “Tiên tổ chứng giám. Bốn mươi năm trước, Tống Thuần Nghiêu này chán ghét thói giả trá chốn cung đình, đã thề gác kìm lui về nơi ngõ hẹp giữ trọn chữ Thành. Nay giặc ngoài nhòm ngó giang sơn, quan tham mưu toan cướp đoạt ba mỏ bạc Bạch Ngân Lĩnh, phường thợ Hàng Ngân lâm vào cảnh nguy nan... Đồ tôn xin phép tổ nghề được phá giới nhóm lại bễ lò, dùng chút tàn lực trăm tuổi này giữ lấy thể diện non sông.”
Cắm hương vào lư đồng xỉn màu, cụ Tống mở mắt. Thần quang trong mắt cụ sáng quắc, quét sạch mọi vẻ mệt mỏi của tuổi tác.
Cụ ngẩng đầu nhìn lên chiếc xà ngang bằng gỗ lim đen bóng nơi gian chái. Nơi góc xà nép sát mái rạ, một chiếc tráp dài khoảng hai thước đang nằm im lìm dưới lớp bụi dày phủ kín suốt bốn mươi năm ròng.
“Thừa An, con kê ghế đẩu, cẩn thận đỡ chiếc tráp trên xà nhà xuống cho ta.”
“Dạ, Cố tổ.”
Thừa An lau vội khóe mắt, nhanh nhẹn chạy lại góc nhà bưng chiếc ghế gỗ mộc kê ngay ngắn dưới chân xà. Cậu thiếu niên vươn đôi tay thon dài khéo léo, cẩn trọng nhấc vật thể nặng trịch xuống. Lớp bụi thời gian bị khuấy động, bay lả tả như sương mờ trong ánh đèn dầu vừa thắp.
Chiếc tráp bằng gỗ lim già đen nhánh, bốn góc nẹp đồng chạm hoa văn sóng nước nay đã phủ một lớp ten xanh cổ kính. Khóa ngoài không có chìa, chỉ gài bằng một then lẫy chìm tinh xảo độc môn của phường thợ mộc xưa.
Tống Thuần Nghiêu bước lại gần bàn trà. Lão nhân nâng vạt áo chàm lau nhẹ lớp bụi bám trên nắp tráp, ngón tay cái khẽ ấn vào một mắt gỗ nổi bên hông phải, đoạn miết nhẹ sang trái.
“Tách!”
Một tiếng động thanh giòn vang lên, nắp tráp bật mở. Mùi dầu trẩu dưỡng kim ngào ngạt hòa cùng hương thơm đượm nồng của gỗ lim ngàn năm lập tức xộc vào cánh mũi, ấm áp và thanh sạch.
Dưới ánh đèn trẩu bập bùng, đáy tráp lót một tấm gấm màu đỏ sẫm đã ngả màu thời gian.
Nằm ngay ngắn bên trên là chiếc kìm kéo bạc gia truyền cán bọc ngà voi đã lên nước bóng lộn, hai mỏ kìm bằng thép nguội đen nhánh, sắc bén và khít khao đến mức dù là một sợi tơ nhện cũng chẳng thể lọt qua. Cạnh đó là bộ bàn kéo bạc bằng sắt rèn ba mươi sáu mắt rút thu nhỏ dần, từng lỗ sắt tròn trịa nhẵn thín không một gợn xước.
Thế nhưng, thứ khiến Thừa An tròn xoe mắt, nín thở kinh ngạc lại nằm sâu dưới lớp gấm đỏ nơi đáy tráp.
Tống Thuần Nghiêu khẽ vén mép lụa, để lộ một tấm ngân bài đúc bằng bạc ròng nguyên chất lớn bằng bàn tay. Mặt trước ngân bài chạm nổi chín con rồng bạc cuộn mây sống động như muốn bay lượn giữa không trung, vây quanh vầng nhật nguyệt uy nghiêm. Ở giữa lấp lánh bốn chữ ngự bút nạm chỉ vàng: “Đại An Quốc Thủ”. Dưới ánh đèn dầu, tấm ngân bài tỏa ra ánh bạch quang mờ ảo, thuần khiết và lạnh buốt, mang theo khí thế đế vương ngút ngàn.Tống Thuần Nghiêu chạm nhẹ những đầu ngón tay chai sạn lên từng đường vảy rồng, tâm can cụ cuộn trào sóng gió.
Ký ức bốn mươi năm trước ùa về rõ mồn một. Năm ấy, ở tuổi sáu mươi bảy, cụ từng là Đệ nhất Thợ bạc Ngự chế vang danh khắp bốn cõi, được tiên đế đích thân trao tấm ngân bài này cùng quyền hạn kiểm tra, bác bỏ mọi đồ kim hoàn giả dối chốn cung đình. Nhưng rồi tiên đế băng hà, lũ xu phụ như tổ phụ của Bùi Thạc Chi cấu kết gian thương, đem vàng non chì độn luồn lách vào nội phủ, biến chốn ngự tạo thanh cao thành nơi dơ bẩn trục lợi. Chán ngán thói đời điên đảo, cụ rũ áo rời cung, giấu kín danh tính và chiếc tráp lim nơi xóm nghèo Hàng Ngân, thà ngày ngày cùng con cháu kéo sợi bạc vụn mưu sinh chứ không màng vinh hoa phú quý dối lừa.
Bốn mươi năm trôi qua, cụ ngỡ tấm ngân bài này sẽ vĩnh viễn ngủ yên dưới đáy tráp. Nào ngờ giặc ngoại bang trơ trẽn mang phượng chì sang sỉ nhục non sông, bức hại phường thợ.
“Cố tổ... đây là...” Thừa An run run cất tiếng, đôi mắt ngập tràn vẻ bàng hoàng khi nhìn bốn chữ vàng trên tấm ngân bài.
Tống Thuần Nghiêu giơ tay ngăn lời chắt trai. Cụ bình thản cầm tấm ngân bài lên, bọc cẩn thận vào một mảnh lụa điều rồi nhét sâu vào lớp túi áo trong, giấu kín sát lồng ngực.
“Chuyện này con tạm thời chôn chặt trong lòng, tuyệt đối không được hé răng với bất kỳ ai.” Giọng cụ trầm tĩnh như nước giếng sâu. “Tấm ngân bài này là ân điển tiên đế, là điểm tựa tối hậu của chúng ta, chưa phải lúc đem ra trước mắt thế gian. Nếu để lũ Bùi Thạc Chi đánh hơi thấy quá sớm, chúng sẽ dùng quỷ kế bưng bít, thậm chí hại chết Chu phường trưởng trong ngục tối.”
Lão nhân trăm tuổi cúi xuống, nhấc chiếc kìm kéo bạc ngự chế lên. Bàn tay gầy guộc nắm chặt lấy chuôi ngà voi. Cảm giác quen thuộc dường như đã ăn sâu vào tủy tạng suốt một đời người lập tức thức giấc, các đường gân nổi trên cánh tay cụ khẽ rung lên theo từng nhịp thở khoan thai.
Cụ quay sang Thừa An, dặn dò rành rọt “Thừa An, con đi ngõ sau sang nhà bác thợ Cả Khiêm, chú Hai Điền và thợ chạm Tứ. Bảo họ rằng già này nhắn: ai còn muốn giữ lấy đe búa tổ nghề thì sang ngay nhà tranh ngõ Thạch Kiều.”
“Dạ!” Thừa An chắp tay vâng lệnh, thoăn thoắt lách mình qua cửa sau, biến mất vào màn đêm.
Chưa đầy hai khắc sau, ba người thợ bạc cốt cán của phố Hàng Ngân đã lục tục có mặt. Gương mặt ai nấy đều hốc hác, thất thần sau cơn phong ba vừa quét qua ngã tư. Nhìn thấy cụ Tống đứng sừng sững bên chiếc lò đất cũ, tay cầm chiếc kìm kéo bạc sáng quắc, họ bất giác sững sờ rồi đồng loạt chắp tay cúi đầu “Tống lão tiền bối! Phường trưởng Chu bị bắt rồi, cả phố nghề phen này coi như tuyệt lộ...”
“Chưa tuyệt lộ được.” Tống Thuần Nghiêu cất giọng sang sảng, cắt đứt tiếng than vãn. “Còn người, còn bễ, còn giữ được cái tâm trong sạch thì nghề bạc Đại An không bao giờ chết. Ba chú giúp ta dọn dẹp lò đất, chuẩn bị máng nước mưa và đe sắt. Chúng ta chỉ có đúng ba ngày.”
Trước khí phách đĩnh đạc của bậc tiền bối trăm tuổi, ba người thợ cả như tìm lại được chỗ dựa vững chắc, lập tức xắn tay áo quét dọn lò bễ.
Thừa An mang đến một tráp than củi đượm. Tống Thuần Nghiêu đích thân đón lấy chiếc bùi nhùi rơm nếp, gõ đá lửa đánh tia sáng mồi vào.
“Tách! Xoè!”
Đốm than củi đầu tiên bùng cháy đỏ rực trong lòng lò đất ngõ Thạch Kiều. Ngọn lửa màu cam thuần khiết l**m láp từng thanh than hoa, hắt ánh sáng rực rỡ lên gương mặt quắc thước bách niên của lão nghệ nhân và soi tỏ từng giọt nước mắt nghẹn ngào của những người thợ bạc.
Tống Thuần Nghiêu nhìn ngọn lửa đang cuộn trào sức sống, giọng đanh thép tựa chuông ngân “Trời đất có mắt, lửa đỏ thử bạc ròng. Lão phu thề sẽ bẻ gãy đôi cánh phượng vàng giả dối kia, đòi lại danh dự cho bách nghệ Đại An!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
