Chương 9

Đầu thu, Lạc Kinh mưa suốt ba ngày liền.

Đúng vào mùa mưa nhiều, bọn ta trở về quận Trần. Hai tháng không gặp, cha của ta trông khỏe khoắn, tinh thần cũng khá hơn nhiều, còn hớn hở đòi mở một tiệm bánh đậu ngay tại quận Trần.

Ta lấy chút tiền riêng cuối cùng trong của hồi môn, thuê cho ông một cửa tiệm nhỏ, lại mướn thêm hai người làm dài hạn phụ giúp, cuối cùng cũng miễn cưỡng mở được tiệm bánh đậu.

Có lẽ vì biết đây là cửa tiệm của phủ Long Tương Tướng quân, việc làm ăn khá phát đạt. Cũng nhờ cửa tiệm này mà ta quen biết không ít phu nhân các thế gia ở quận Trần.

Lúc rảnh rỗi, bọn họ thường hỏi ta những câu hết sức kỳ lạ.

“Giang nương tử, có phải Long Tương Tướng quân mắt xanh, râu quặp như rồng, vai u thịt bắp, eo to lưng rộng không?”

“... Chàng không để râu, cũng chẳng béo khỏe như vậy.”

Mỗi lần ta trả lời như thế, bọn họ đều tròn xoe mắt, không ngừng hít một hơi lạnh: “Sao có thể chứ?”

Cũng có người nói xa nói gần, muốn đưa các tiểu nữ lang đến bên cạnh ta. Đa phần đều là con gái chi nhánh bên hoặc thứ nữ trong nhà, bảo rằng Tướng quân cô quạnh, muốn đưa vài người đến chia sẻ gánh nặng với ta.

Đối với chuyện ấy, Mộ Dung Thùy luôn dứt khoát từ chối. Nếu có người trực tiếp đưa người đến phủ, chàng còn đến tận cửa trả lại, khiến mọi người đều mất mặt.

Lâu dần cũng chẳng còn ai dám nhắc tới nữa.

Một hôm đi ngang khu vườn bỏ hoang ấy, ta chợt nhớ đến cô gái từng quay mặt vào tường chải tóc.

Ta đem chuyện ấy hỏi Mộ Dung Thùy. Chàng bỗng trầm mặt, càng khiến ta thêm hiếu kỳ: “Phu chủ, nàng ấy là người trong phòng chàng, cứ để mãi trong khu vườn hoang như vậy cũng không ổn.”

Không ngờ chàng nghe xong lại cười lớn: “Người trong phòng ta ư? Đâu phải ai cũng có tư cách ấy!”

“Nhưng... ai cũng nói đó là thiếp thất của chàng…”

“Thật sao?”

Nói rồi, đôi mắt xanh của Mộ Dung Thùy ánh lên ý cười tinh nghịch: “Nếu đã vậy, Sầu Dư là chủ mẫu, chuyện giữ hay đuổi thiếp thất, nàng cứ tự quyết định.”

“Hả, ta?”

Không đợi ta kịp phản ứng, chàng đã sai người mở khóa, tự mình đưa cô gái trong khu vườn ấy đến trước mặt ta.

Chỉ thấy nàng ấy tóc tai rối bù, mặt mày nhơ nhuốc, ánh mắt đờ đẫn. Miệng há ra nhưng không phát nổi tiếng nào. Mộ Dung Thùy ra hiệu cho người buông nàng ấy ra, nàng ấy lập tức lao đến quỳ dưới chân chàng, dập đầu không ngừng, đến mức nền đất loang lổ đầy vết máu.

Ta không nỡ nhìn, định bảo thị nữ đỡ nàng ấy dậy.

Không ngờ nàng ấy bỗng ngẩng đầu gào lên. Miệng há rộng, nhưng bên trong chỉ còn một chiếc lưỡi cháy đen thui!

Ta hoảng hốt kêu thất thanh, suýt nữa quay người bỏ chạy!

Mộ Dung Thùy chăm chú nhìn ta, vẻ mặt bình thản: “Nàng sẽ không cho rằng chính ta hại nàng ta thành thế này chứ?”

“...Ta... ta không biết.”

“Thế sao?”

Thấy cả người ta run lên không nói nổi lời nào, Mộ Dung Thùy tháo bảo đao bên hông, nhẹ nhàng đưa đến trước mặt ta: “Đao cho nàng. Nàng có thể giết ta bất cứ lúc nào, ta tuyệt đối không chống trả.”

Đương nhiên ta không đưa tay nhận thanh đao ấy.

Mộ Dung Thùy đợi một lúc rồi khẽ lẩm bẩm: “Nàng sợ ta đến thế, làm sao có thể thật lòng yêu ta?”

Nói xong, chàng phất tay áo đứng dậy bỏ đi.

Chàng vừa đi, Sát Mặc mới bước lên: “Phu nhân, lần này ngài thật sự làm tổn thương lòng lang chủ rồi. Cô gái ấy đúng là do lão lang chủ đưa đến hầu hạ, nhưng nàng ta nghe người khác xúi giục, bỏ thuốc câm vào đồ ăn của lang chủ…”

“Thuốc câm?”

“Vâng. Sau này sự việc bại lộ, chính nàng ta nuốt nốt phần thuốc độc còn lại nên mới bị lang chủ giam lỏng ở đây.”

Đến lúc ấy ta mới hiểu vì sao giọng nói của chàng ngày trước lại khàn đặc khó nghe. Trong lòng lập tức hối hận đến tột cùng.

Đáng tiếc, Mộ Dung Thùy không cho ta cơ hội giải thích.

Đêm hôm ấy, chàng lại rời phủ, chỉ để lại một bức thư viết tay, nói rằng đã nhận quân nhu và binh mã của nhà họ Vương, phải thực hiện lời hẹn với Vương Tư đồ lên phía Bắc.

Chỉ là chàng đi quá vội, quá gấp, chẳng biết là tránh mặt ta hay là giận ta.

Lúc ấy trời còn chưa sáng hẳn. Ta búi tóc theo kiểu con trai, lấy hơn mười chiếc bánh đậu trong tiệm nhà mình rồi men theo những vệt bánh xe còn ướt trên con đường dài để đuổi theo ra ngoài thành.

Xe của Mộ Dung Thùy là cỗ xe tám ngựa kéo, loại xe chỉ thế gia mới được dùng nên rất dễ nhận ra. Ta dắt một con ngựa trong phủ, cứ thế đuổi theo, đuổi mãi đến khi trời tối.

Ra khỏi thành, phía trước dần hiện ra một đoàn xe uốn lượn kéo dài, hàng ngũ chỉnh tề, lặng lẽ không một tiếng động.

Nhìn cách ăn mặc của mọi người, dường như chỉ là một đoàn thương nhân.

Bỗng nhiên, từ đoàn xe có một con ngựa phi ra. Người cưỡi ngựa vẫy lá cờ đỏ về phía ta. Ta đang định tiến lên hỏi đường thì thấy hắn rút từ trong tay áo ra một vật, chĩa thẳng về phía ta như đang ngắm bắn.

Ta giật mình, vội ghìm cương lùi ngựa, nào ngờ ngã lăn xuống bùn đất, đầu tóc y phục rối tung, chật vật vô cùng.

Người cưỡi ngựa thúc ngựa đến gần. Vừa nhìn rõ mặt ta, hắn lập tức thay đổi sắc mặt.

“Phu nhân! Sao ngài lại ở đây?”

Người này chính là một trong những giáp sĩ từng hộ tống ta đến quận Trần, cũng từng được ta chỉ cách bảo quản bánh đậu. Ta lập tức xấu hổ đến đỏ mặt.

Hắn cũng không hỏi thêm, chỉ cung kính mời ta vào trong đoàn.

Lúc ấy trời đã tối hẳn. Đoàn xe đóng quân ở một ngôi làng hoang. Mọi người cởi lớp áo vải bên ngoài, để lộ những bộ thiết giáp sáng lạnh bên trong.

Ta thấy một nhóm nhóm bếp nấu cơm, một nhóm khác dựng lò ngay tại chỗ, không khỏi ngơ ngác hỏi: “Họ đang làm gì vậy?”

Giáp sĩ hộ tống ta giải thích: “Đang sấy lương khô.”

“Lương khô?”

“Đúng vậy. Bọn ta không phải quân tiên phong mà là quân phụ trách lương thảo. Tướng quân vẫn còn ở phía sau chiêu mộ binh sĩ.”

Ta: "..."

Binh chưa động, lương thảo đã đi trước.

Nào ngờ con ngựa ta chọn chạy quá nhanh, lại đuổi đến trước cả đại quân thật sự.

Giờ nghĩ lại những vết bánh xe trên đường, e cũng chỉ là kế nghi binh của Mộ Dung Thùy để đánh lừa địch.

Thấy ta rầu rĩ, giáp sĩ an ủi: “Phu nhân cứ yên lòng. Chậm nhất nửa ngày nữa, Tướng quân nhất định sẽ đến đây.”

“...Vậy cũng được.”

Giáp sĩ đó chắp tay thi lễ rồi quay đi làm việc.

Những binh sĩ khác cũng chia nhau làm việc. Chẳng mấy chốc khói bếp đã bốc lên khắp nơi. Ta bôi tro đen lên mặt, lén lại gần xem, thấy họ ép từng nắm bột đậu thành bánh rất mỏng, không nhịn được nhỏ giọng nói: “Làm thế này, bánh mỏng đi đường dài chắc chắn sẽ nát vụn thành bột.”

Người đứng bên cạnh tai rất thính, nghe thấy liền cười nhạt: “Thế ngươi nói xem phải làm thế nào?”

Ta làm bánh đậu hơn mười năm, đương nhiên không chịu phục: “Có thể trộn thêm bột, làm bánh tròn dày chừng một tấc, chừa một lỗ ở giữa rồi nướng trên than.”

“Vì sao phải chừa lỗ?”

“Chừa lỗ ở giữa để xâu dây cỏ qua. Binh sĩ có thể đeo mang theo hàng chục dặm.”

Người cầm đầu nghe xong bỗng không cười nữa. Hắn chỉ vào chiếc chậu lớn đầy những thứ ướt nhẹp dưới chân rồi hỏi ta: “Đây là đồ còn thừa sau khi làm thịt bò khô. Ngươi nói xem nên dùng thế nào?”

Ta liếc mắt một cái đã nhận ra đó là cả chậu bong bóng bò. Ta nhỏ giọng đáp: “Nếu có thịt khô và bánh mè thì có thể phơi khô bong bóng bò làm túi da, nhét toàn bộ thức ăn vào trong. Mỗi binh sĩ mang một hoặc vài túi là đủ dùng cho chuyến viễn chinh.”

Mọi người nghe xong đều xuýt xoa khen lạ.

Giáp sĩ đó im lặng một lúc, bỗng vỗ mạnh vào lưng ta: “Thằng nhóc này lắm mưu nhiều kế thật!”

Ngay lúc hắn định vỗ thêm cái thứ hai thì mấy giáp sĩ phía sau vội lao lên ngăn lại: “Đốc quân, không được!”

Nói xong, họ mặc kệ vẻ mặt ngơ ngác của người kia, vội vàng kéo ta đi mất.

Sau đó, các giáp sĩ tìm cho ta một chiếc lều riêng để nghỉ, dặn đi dặn lại rằng tuyệt đối không được tùy tiện đi lại.

Bằng không, dẫu phong tục Đại Diệp có cởi mở đến đâu, chuyện một người phụ nữ lẫn vào quân doanh cũng đủ để miệng lưỡi thiên hạ dìm chết ta cả trăm lần.

Nghe hắn nói có lý, ta cũng chỉ đành ngoan ngoãn chờ trong lều.

Chờ mãi, cơn buồn ngủ dần kéo đến.

Sáng hôm sau, ta còn đang ngủ mơ màng thì rèm lều bỗng bị vén lên. Hai giáp sĩ xông vào, mỗi người giữ một bên, kéo ta ra ngoài.

Ta còn đang hoảng hốt thì đã bị lôi vào một đại trướng. Người đốc quân hôm qua đứng ngay giữa lều, chỉ vào ta nói: “Tư đồ đại nhân, chính là hắn!”

Lúc này ta mới nhìn rõ. Trước vị trí chủ soái có hai người, một đứng một ngồi, cả hai đều là những gương mặt quen thuộc.

Vương Dư bước tới. Hiếm khi nào hắn lại hòa nhã như thế, khiến người đối diện như được gió xuân phả vào mặt: “Mưu kế như vậy, hóa ra lại do một tên lính nhỏ nghĩ ra sao?”

“Ngươi đã có công, ta thăng ngươi làm Bách Phu trưởng, được chứ?”

Ta không dám lên tiếng, bởi lúc ấy người trên ghế chủ soái cũng đang nhìn chằm chằm vào ta.

Chàng đội mũ giáp, khoác bảo giáp Hải Long, trên vai đắp miếng giáp hình thao thiết bằng vàng đỏ. Dáng người oai phong, gương mặt lạnh lẽo. Đến khi nhìn rõ là ta, sắc mặt chàng lập tức thay đổi.

Ta vừa hé miệng thì đã thấy chàng bước xuống khỏi ghế, đi nhanh tới, đưa tay lau mạnh một cái trên má ta. Lớp tro đen lập tức bị lau sạch, để lộ làn da bên dưới.

Vương Dư đứng một bên xem đến thích thú, khóe môi khẽ nhếch: “Thế này thì không thể phong Bách Phu trưởng nữa rồi, phong Hương quân thì còn được.”

Mộ Dung Thùy hừ lạnh một tiếng, như đang cố nén cơn giận rồi đột ngột quay đầu quát mọi người.

“Tất cả ra ngoài!”

Chỉ trong chốc lát, đại trướng rộng lớn đã không còn một bóng người.

Ta không dám ngẩng đầu. Chỉ thấy đôi ủng tím vàng đi vòng quanh ta mấy lượt. Giọng chàng trong trẻo nhưng lạnh đến buốt người: “Dân thường xông vào quân doanh, đáng bị xử chém ngay tại chỗ.”

“...Ai bảo chàng không nói một lời đã bỏ đi.”

“Nàng còn quay sang trách ta?”

Ta biết mình đuối lý, chỉ biết im lặng.

Một lúc sau, chủ nhân của đôi ủng dừng lại phía sau ta. Bộ giáp lạnh ngắt áp sát vào lưng, truyền đến từng cơn lạnh: “Nhưng nàng lại giúp ta giải quyết một vấn đề lớn. Xét công thì phải thưởng. Nàng nói xem, ta nên thưởng nàng hay phạt nàng?”

“Tùy chàng.”

Mộ Dung Thùy như bị ta làm cho nghẹn lời. Sau một hồi nghiến răng, chàng hung hăng nói: “Ta thấy nàng đáng ghét vô cùng!’

Ta vừa định cãi lại thì vành tai đã bị chàng cắn nhẹ: “Nhưng cũng đáng yêu vô cùng!”

“Đã đáng ghét thì sao còn đáng yêu được?’

Sau lưng ta, Mộ Dung Thùy khẽ thở dài: “Chính là vừa yêu vừa hận, đến nỗi điên đảo, chìm đắm.”

“Nàng nói xem, một mình chạy đến tìm ta. Nếu gặp thổ phỉ, chẳng may chết dọc đường thì chẳng phải ta sẽ thành kẻ góa vợ sao?”

Sống mũi ta cay xè: “Nhưng ta thà đổ máu còn hơn phải rơi nước mắt nữa!”

Nghe vậy, trong mắt chàng dường như có điều gì đó lay động. Nhưng cuối cùng chàng vẫn nhịn xuống, giọng nói dịu hẳn đi để dỗ dành: “Nhưng nơi chiến trường sống chết không có mắt. Ta mang nàng theo thế nào được?”

“Ta đâu bảo chàng mang ta theo.”

“Vậy thì…”

“Ta đến đây chỉ muốn hỏi chàng một điều. Chuyến này đi, bao giờ chàng trở về?”

Ta hít sâu một hơi, gượng cười: “Một năm, hai năm, ba năm... ta đều đợi được. Chỉ xin đừng để ta đợi cả một đời.”

Bỗng một bàn tay lớn vòng ngang eo ta. Chưa kịp phản ứng, ta đã bị kéo mạnh vào lòng. Chiếc cằm lún phún râu xanh cọ lên má ta, vừa thô ráp vừa dịu dàng: “Bất kể là khi nào, chỉ cần nàng đợi ta thì ta nhất định sẽ trở về.”

Nghe chàng nói từng lời, cổ họng ta bỗng nghẹn lại, gần như không nói thành câu: “Vậy... nếu chàng chết thì sao?”

“Nàng yên tâm. Sống có người, chết có xác.”

Nghe đến đó, ta không sao kìm nổi dòng nước mắt đang trào ra!

Nói cho cùng, chẳng ai biết đây có phải lần cuối bọn ta gặp nhau hay không. Một mình ta đuổi đến tận nơi này cũng chỉ vì muốn nhìn chàng thêm một lần nữa.

Rất lâu sau.

Mộ Dung Thùy lặng lẽ lau khô nước mắt trên mặt ta, khẽ nói: “Đừng khóc nữa.”

“Rồi sẽ có một ngày, ta trả lại cho nàng một Đại Diệp sóng êm biển lặng. Hào sâu trời định cuối cùng cũng biến thành đường bằng phẳng.”

Thấy ta ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn chàng, chàng bỗng đưa tay vuốt tóc mai, đầu ngón tay kéo chiếc ngọc quan xuống. Mái tóc đen dài lập tức xõa ra. Chàng trở ngang lưỡi đao, cắt một lọn tóc rồi đặt vào lòng bàn tay ta.

“Từ nay về sau, hồn mộng đều buộc vào nhau. Nàng chính là chốn để ta trở về.”

Dẫu trong lòng ta lưu luyến đến nhường nào thì đại quân của Mộ Dung Thùy vẫn xuất chinh.

Còn ta được chàng gửi gắm cho Vương Dư, được đưa trở về quê cũ Trì Châu.

Biết ta đã làm bánh đậu hơn mười năm, Vương Tư đồ giao cho ta đứng ra chủ trì. Người nhà họ Vương ở bên hỗ trợ, chia nhau khắp thành làm bánh nồi dây cỏ rồi vận chuyển từng đợt lương khô quân dụng lên phương Bắc.

Ta nhận lời.

Như vậy, dù Mộ Dung Thùy ở phương Bắc còn ta ở phương Nam thì ta vẫn có thể giúp chàng.

Ngày tháng trôi qua từng chút một. Mỗi ngày ta đều bị cuộc sống đẩy đi, bận đến quay cuồng, cũng dần dần quên mất nỗi hoang mang và đau đớn trong những tháng ngày chờ đợi.

Trong khoảng thời gian ấy, Mộ Dung Thùy thường gửi thư về. Tuy nét mực không nhiều nhưng bức nào cũng chỉ có một chữ an.

Đến lúc ấy ta mới biết, sở dĩ chàng được gọi là Quỷ Tướng quân là vì đặc biệt giỏi tập kích ban đêm.

Muốn dùng kỳ binh thì không được để lại dấu vết. Giáp sĩ thường phải mai phục trong hào cỏ lau nhiều ngày liền, không ăn không uống. Lâu dần tay chân phù nề, rất dễ sinh bệnh.

Biết chuyện ấy, ta lại dâng lời trình bày. Vương Dư nghe xong thì điều thêm hai viên quan phụ trách muối đến phối hợp.

Thế là ta lấy tiệm bánh đậu trong nhà làm bình phong, chế tạo hàng loạt một loại bánh đậu muối. Dùng ba đấu đậu lên men trộn với năm đấu muối, giã nhuyễn như bùn, ép thành bánh rồi phơi khô. Khi ăn chỉ cần bẻ một miếng là có thể thay muối.

Từ đó, Trì Châu trở thành nơi cung ứng quân lương chủ yếu. Mỗi ngày đều phải làm đủ số lượng bánh nồi, bánh mè, bánh bột, cơm khô và tương muối để chuyển ra tiền tuyến.

Vì thiếu người, ta gọi rất nhiều phụ nữ đến phụ giúp. Trong số đó có một cô gái dung mạo đặc biệt thanh tú. Nghe nàng ấy tự giới thiệu, hóa ra là con gái huyện lệnh nhà họ Nam.

Không ngờ trong ngoài Trì Châu loạn lạc liên miên, đến cả con gái Huyện lệnh cũng không còn đường sống, phải lưu lạc làm người giúp việc trong quán.

May mà trên người ta có quan lệnh, nhờ vậy mới có thể sống yên ổn.

Đông qua hạ tới, lại một năm đầu hạ.

Đúng mùa mưa nhiều, Trì Châu bị mây đen phủ kín bấy lâu cuối cùng cũng có được một ngày dễ thở. Mùa mận chín lại đến, khắp thành bay đầy tơ liễu.

Chẳng biết từ khi nào, chiến sự phía Bắc đã bước vào hồi kết.

Những ngày ấy, vì các thành lớn lân cận nổi loạn, Trì Châu đón rất nhiều người từ nơi khác đến, trong đó có không ít người kể chuyện.

Khác với quận Trần, họ không kể chuyện Quỷ Tướng quân mà toàn kể chuyện thần ma quỷ quái cùng những giai thoại phong lưu nơi triều đình Tư Mã. Ta vốn không thích nghe, nhưng lúc mệt cũng ghé nghe đôi ba câu.

Hôm ấy, người kể chuyện đang nói đến chuyện Tây Quý phi bị phế rồi lại được nhà họ Tạ nâng lên làm Thái hậu. Ta nghe rất chăm chú thì A Nhị hớt hải chạy đến tìm.

“Nương tử! Ngoài cửa có hai vị hoàng môn đến, ngài mau về đi!”

Nghe vậy, ta lập tức đứng dậy.

Vừa bước ra ngoài đã thấy một người hoàn toàn ngoài dự đoán đứng trước mặt. Người ấy đội mũ cao, mặc áo rộng, phía sau còn có hai người đàn ông mặc y phục hoạn quan.

Người ấy lặng lẽ nhìn ta. Hai hoạn quan cầm tấm lụa trắng, mỉm cười hỏi: “Đây chính là Giang thị Sầu Dư, thê tử của Long Tương Tướng quân phải không?”

Ta vội vàng hành lễ: “Phải.”

“Thánh thượng đọc tấu chương, trong lòng rất cảm khái. Giang nương tử tuy là phụ nữ nhưng có nhiều đổi mới trong quân lương. Lần này Mộ Dung Tướng quân đại thắng, khi được hỏi muốn ban thưởng điều gì, ngài ấy chỉ xin phong tước cho phu nhân…”

Lời còn chưa dứt đã bị người bên cạnh ngắt lời: “Chuyện phiếm đến đây thôi, mau tuyên thánh chỉ!”

“Vâng, vâng!”

Một hoạn quan vội mở chiếu thư, cất giọng đọc sang sảng: "Phụng thiên sắc mệnh: Giang thị Sầu Dư, thê tử của Long Tương Tướng quân Mộ Dung Thùy, tính nết đoan thục, am tường lễ nghi. Thánh hoàng đích thân nghe biết, rất mực vui lòng. Nay phong làm Thục Huệ Hương quân, được hưởng thực ấp một nghìn hộ..."

Hoạn quan đọc xong, người kia liền tiện tay ném chiếu thư vào lòng ta: “Chồng vinh thì vợ quý, quả đúng là thế.”

Ta: "..."

Hắn đang cười nhạo ta trèo cao.

Ta không muốn tranh cãi với hắn, nhận chiếu chỉ rồi quay về chỗ ngồi tiếp tục nghe kể chuyện. Nào ngờ hai hoạn quan đã đi, còn Cù Hoảng vẫn đứng nguyên tại chỗ, vẻ mặt ngơ ngẩn.

“Năm xưa, nếu khi ta lên phía Bắc có thể mang nàng theo bên mình thì đã không có ngày hôm nay.”

Ta dứt khoát đáp: “Nếu ngày ấy ta không chịu bị bỏ, còn làm lớn chuyện lên thì e rằng người bị cắt cổ chỉ bằng một nhát đao sẽ là ta.”

Từ sau khi Huyện chúa bị giết, ta không còn mơ thấy mình bị treo cổ nữa. Vết thương trên cổ cũng đã biến mất từ lâu.

Nhưng mỗi khi nửa đêm tỉnh giấc, nhớ đến kẻ trong giấc mộng đã treo ta dưới gốc cây, ta vẫn không rét mà run.

Thấy hắn im lặng không nói, ta lạnh nhạt lên tiếng: “Ta từng cho rằng chồng là trời của vợ. Nhưng chưa một ngày nào nghĩ, nếu trời sập thì phải làm sao. Đến khi trời thật sự sập xuống, ta mới hiểu không ai nên là trời của ai cả.”

Cù Hoảng cười đầy mỉa mai: “Ta không làm trời của nàng được, lẽ nào Mộ Dung Thùy thì làm được?”

“Không cần chàng làm trời của ta. Chỉ cần chàng coi ta là một con người.”

“Nói thì đơn giản.’

“Việc càng nói đơn giản, khi làm mới càng khó.”

Hắn trầm ngâm rất lâu rồi buồn bã thở dài: “Thật ra, tuy ta ở địa vị cao nhưng chưa có ngày nào được thanh thản vui vẻ. Nghĩ lại ba năm qua, khoảng thời gian hạnh phúc nhất lại chính là ngày thành thân với nàng.”

“Giang Sầu Dư, nếu ta nói ta hối hận rồi, nàng có tin không?”

“Cù lang quân, điều ngươi hối hận không phải vì mất ta, mà là vì cuối cùng không lừa được ta nữa.”

Lúc ấy, người kể chuyện đã chuyển sang đoạn khác, cuối cùng cũng kể đến Quỷ Tướng quân mà ta thích nghe nhất.

Ta nâng chén trà lên, chăm chú lắng nghe. Đến đoạn Bắc Diệp đại thắng, quay đầu lại thì phía sau đã chẳng còn một bóng người.

Trên đài, ông lão kể chuyện đang nói đến đoạn đặc sắc nhất.

"Lại nói Quỷ Tướng quân tập kích ban đêm trăm dặm, dụng binh như thần. Một trận thắng lớn, trận sau lại thắng lớn. Lần này khải hoàn, Thánh thượng đích thân khoác áo tím cho ngài ấy, trao quyền thống lĩnh một phương, phong làm Mạc Bắc Đại Vương..."

Không ngờ kể đến đây, ông lão bỗng ra vẻ thần bí, rõ ràng cố ý giữ lại đoạn sau.

Dưới đài lập tức vang lên tiếng phản đối khắp nơi. Ta vừa nhai hạt khô, cũng không nhịn được mà hùa theo mọi người.

Đúng lúc ấy, ngoài đầu phố vang lên tiếng vó ngựa lóc cóc.

Nhìn ra ngoài, một người cưỡi ngựa tiến đến. Chàng khoác hạc sưởng màu vàng đỏ mềm mại, bên hông đeo cung chạm và tên lông vũ, chân đi ủng tím, trong tay tung một viên châu vàng.

Chỉ tiện tay ném từ xa, viên châu vàng đã rơi gọn vào tay ông lão kể chuyện.

“Xin tiên sinh kể tiếp.”

“Người ấy xuống ngựa, nói một câu rồi đi thẳng đến ngồi bên cạnh ta.”

Thấy hàng mi dài rậm che đi đôi mắt xanh biếc ấy, ông lão hắng giọng một tiếng. Tiếng reo hò lập tức nổi lên khắp nơi, cả trên đài lẫn dưới đài đều náo nhiệt trở lại.

Câu chuyện truyền kỳ của một thời đại, từ đó lại chậm rãi được kể tiếp.

Giang thị, tên Sầu Dư, là thê tử của Long Tương Tướng quân Mộ Dung Thùy. Bà có nhiều cải tiến trong việc chế biến quân lương và lương thực. Bánh nồi cùng tương muối do bà chế ra, mỗi người mang theo ba đấu là đủ dùng trong quân nhiều tuần liền. Về sau được Nam triều sắc phong Thục Huệ Hương quân, hưởng thực ấp một nghìn hộ.

“ Diệp thư · Giang thị nữ”

— HẾT —

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.