Chương 2: Tọa Độ Dưới Bụi Than

Tiếng “răng rắc” khô khốc dội lại từ ngách phụ tựa như tiếng xương gãy giữa lòng đất tối tăm. Vách sa thạch phía xa rung nhẹ, bụi than trút rào rào xuống mũ sắt.

“Thu máy ngay! Không được nán lại!”

Bác Sâm giật mạnh cánh tay Thao, giọng đanh thép: “Nhanh lên!” Thao bình tĩnh rút khăn bông sạch lau khô giọt nước ngầm nồng mùi lưu huỳnh vừa rớt trúng mặt kính máy kinh vĩ Theo020, nới ốc hãm gập máy vào hòm gỗ rồi gài chốt đồng. Cùng lúc đó, Toàn ghì chặt ba chân máy gỗ sồi, vác lên bờ vai vạm vỡ.

Ba người rảo bước theo vỉa than về phía giếng nghiêng. Lòng đất mức âm một trăm hai mươi mét tạm ngưng co thắt, nhưng Thao hiểu sự im ắng ấy chỉ là khoảng nén nguy hiểm trước cơn sụt lún. Thùng tời cáp đưa họ trồi lên mặt đất.

Hồi còi tầm từ nóc nhà điều hành rú vang từng đợt dài xé toang màn sương mù Cẩm Phả năm 1982, báo hiệu ca một khép lại. Từ miệng giếng nghiêng, thợ lò mặt mũi đen nhẻm bụi than antraxit lần lượt bước ra, lấp lóa nụ cười sau một ca đội vỉa an toàn. Hơi nước ấm từ nhà tắm tập thể bốc lên nghi ngút giữa luồng gió bấc thổi từ vịnh Bái Tử Long vào.

Thao và Toàn ngồi xuống thềm lán nghỉ tre nứa gần sân phơi than. Toàn tháo mũ sắt máng lên cọc, rút trong túi bạt ra hai củ sắn luộc còn ấm bọc trong mảnh bao tải gai “Bẻ đôi ăn lót dạ đi chú Thao. Sắn mẹ anh dỡ ngoài nương đồi Cột Mốc hôm qua. Lạnh buốt thế này mà nhịn đói thì căn chỉnh ốc vi động sao nổi!”

Thao đón nửa củ sắn nóng hổi, cắn miếng bùi bùi rồi nhấp ngụm nước vối ấm từ chiếc ca nhôm của Toàn. Vị ngọt đậm của sắn nương hòa cùng vị chát ngọt của lá vối xua tan cái giá rét buốt nhức ngấm từ đáy hầm.

“Mẹ anh đỡ đau khớp chưa?” Thao hỏi nhỏ. “Thuốc của con bé Thắm còn đủ không anh?”

Toàn quệt bụi than trên trán: “Mẹ đỡ rồi. Tuần tới anh lĩnh lương loại A và phụ cấp ca ba là đủ mua thuốc bột cho con Thắm. Chỉ cần lò yên ổn, anh còn sức đục đá thì cả nhà vẫn sống tốt.” Toàn hạ giọng dặn dò: “Nhưng này chú Thao, bác Sâm nhắc chuyện cũ làm anh lo. Lão Cương đang ép sản lượng gắt gao để lấy thành tích, chú đo đạc phải hết sức cẩn thận kẻo bị bắt bẻ.”

Thao gật đầu: “Em hiểu rồi. Anh yên tâm.”

Rời lán nghỉ, Thao rửa sạch bụi than bám trên mặt, khoác bao da quả dọi thép lên tầng hai nhà điều hành tìm đến phòng kỹ thuật địa chất và lưu trữ bản đồ.

Căn phòng nằm ở góc khuất hành lang quét vôi vàng, thoang thoảng mùi giấy mốc lâu năm và mực nho trắc địa đặc trưng. Trên bàn gỗ dài trải tấm giấy can khổ lớn, Nguyễn Thị Ngân đang cặm cụi làm việc. Cô mặc chiếc áo len cổ lọ màu hạt dẻ, mái tóc đen tết hai bím gọn gàng sau lưng, bàn tay mềm mại cầm bút sắt ngòi nhọn cẩn trọng tô từng đường bình độ địa tầng mảnh như sợi chỉ.

Thấy bóng Thao, Ngân ngẩng lên. Nhận ra nét đăm chiêu trên mặt anh, cô liền đặt bút xuống giá gỗ “Anh Thao, ca một xong rồi à? Có chuyện gì bất thường dưới vỉa than sao anh?”

Thao ngồi xuống đối diện cô: “Ngân này, ca sáng nay tôi đo mốc tim lò chợ số 2 ở mức âm một trăm hai mươi mét. Nóc lò đã võng lún 0,8 milimét so với bình đồ thiết kế.”

Ngân giật mình: “Lún 0,8 milimét? Nóc vỉa là sa thạch kết khối, biên độ đàn hồi tối đa chỉ dưới 0,2 milimét. Sao lại lún sâu thế chỉ sau vài ca?”

“Áp lực tĩnh không thể tăng vọt nếu không có biến đổi nghiêm trọng trong lòng vỉa. Bác Sâm bảo đá đang cắn răng, hệt như điềm báo mười năm trước.”Lồng ngực Ngân khẽ phập phồng. Cô hiểu vết thương lòng sâu hoắm của Thao khi người cha quá cố – kíp trưởng Trịnh Tấn Bằng – bị hàm oan làm sập Lò số 4 rồi uất ức qua đời.

Ngân đứng dậy khép hờ cửa gỗ, nhìn ra hành lang vắng lặng rồi rút chùm chìa khóa đồng mở chiếc tủ sắt lưu trữ hồ sơ mật ở góc phòng.

Cạch. Ổ khóa bật mở.

Ngân cẩn thận rút ra tập hồ sơ bọc giấy xi măng ố vàng: “Hồ sơ sự cố địa chất Lò số 4 – Phân xưởng Khai thác 1 (1972)”, trải tấm bình đồ đường lò cũ lên bàn.

“Anh xem đi,” Ngân chỉ vào các đường đứt gãy màu đỏ. “Cấu trúc địa tầng Lò số 4 năm xưa và vỉa than mức âm một trăm hai mươi mét hiện nay nằm chung một hệ thống đứt gãy nghịch. Chiều dày vỉa và độ dốc vách đá gần như trùng khớp hoàn toàn.”

Thao nín thở rút cuốn sổ tay trắc địa bìa bạt sờn rách – kỷ vật thiêng liêng của cha. Bàn tay anh khẽ run khi lật đến trang vẽ ngày 15 tháng 11 năm 1972, nơi lưu lại những dòng ghi chép bằng mực Cửu Long nắn nót của kíp trưởng Trịnh Tấn Bằng.

Thao đặt bản vẽ của cha đè lên tấm bình đồ năm xưa của Ngân, mắt căng ra dò từng tọa độ vi phân, rồi đột ngột dừng lại ở ranh giới phưng khai thác và ngách lò phụ.

“Kỳ lạ quá...” Thao thốt lên.

“Có điểm gì sai lệch hả anh?” Ngân ghé sát lại hỏi.

“Nhìn biểu đồ sụt lún này đi Ngân,” Thao trỏ vào đồ thị năm 1972. “Trước ngày sập Lò số 4 ba hôm, tốc độ võng lún đá nóc ở đây tăng vọt từ 0,5 lên 2,0 milimét. Vị trí sụt lún mạnh nhất lại nằm đúng các tọa độ quy định đặt trụ than bảo vệ dày mười hai mét!”

Ngân kinh ngạc: “Ý anh là trụ than khi ấy không hề chịu lực?”

“Trụ than dày mười hai mét kháng nén hàng trăm tấn mỗi mét vuông, làm sao đá nóc võng nhanh thế được?” Thao siết chặt nắm tay, đốt ngón tay trắng bệch. “Chỉ có một khả năng: ruột trụ than năm đó đã bị bòn rút trước khi lò sập! Cha tôi bị vu oan nổ mìn làm sập hầm, nhưng cái bẫy địa tầng đã được giăng sẵn từ trước!”

Hiện tại, ở mức âm một trăm hai mươi mét, thảm họa sụt lún ấy đang lặp lại từng ly từng tí.

Hai người vội lồng hai tấm bản đồ can lên nhau trên mặt bàn kính, bật đèn rọi ngược để đối chiếu vị trí các tọa độ rỗng ngầm.

Rầm!

Cánh cửa gỗ phòng kỹ thuật bị thô bạo đẩy toang ra, đập mạnh vào tường.

Gió buốt thốc vào cuốn theo mùi khét nồng của thuốc lá Điện Biên. Giám đốc Đặng Khắc Cương sừng sững đứng ở ngưỡng cửa. Thân hình đẫy đà choán gần hết lối đi trong chiếc áo ký giả bốn túi màu cỏ úa cài khuy nghiêm cẩn. Đầu điếu thuốc trên môi ông ta đỏ rực một đốm tàn hung dữ.

Khói thuốc xám đục nhả ra từ kẽ răng che khuất nửa gương mặt béo tròn. Đôi mắt ti hí sắc lạnh đảo qua xấp hồ sơ mật trải rộng trên bàn, rồi ghim thẳng vào Thao và Ngân với ánh nhìn soi mói, lạnh buốt thấu xương.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.