Chương 3: Ống Nứa Bên Mép Nước
Khoa đứng chết lặng bên bếp lửa tàn, đôi mắt đăm đắm nhìn làn khói mỏng vừa tan biến vào sương lạnh. Hai bàn tay nhỏ buông thõng, ướt đẫm những giọt nước lã nguội ngắt. Tiếng ho húng hắng của mạ vọng ra từ chiếc chõng tre ọp ẹp kéo thằng bé giật mình quay lại. Khoa vội bước vào lều, nhẹ nhàng kéo mép chiếu rách phủ kín đôi vai gầy đang run rẩy của chị Thược. Khuôn mặt mạ vẫn tái nhợt vì cạn sức, hàng chân mày nhíu chặt trong giấc ngủ chập chờn.
Nhìn manh áo vá mỏng manh của mạ trước từng đợt gió bấc thốc qua liếp nứa, Khoa cắn chặt môi. Nó không thể để từng hạt hơi tràm quý giá tiếp tục tan biến vào hư không. Nhất định phải tìm cách gom giữ lấy chúng.
Trời vừa hửng sáng mờ mịt sương muối, Khoa xách chiếc giỏ tre rách lội men theo mép nước bãi Cồn Cát. Gió đầm phá thổi lồng lộng, nước lạnh buốt cắt vào da thịt. Thằng bé chú mục tìm kiếm những đoạn ống nứa tép trôi dạt từ miệt rừng thượng nguồn về bờ. Nứa tép nơi đây ruột rỗng, vỏ đanh dày và dẻo dai sau bao ngày ngâm mình dưới nước lợ. Cậu cẩn thận nhặt lấy mấy dóng nứa thẳng tắp, dài chừng ba gang tay, thành ống nhẵn thín. Tiện đường qua mé chái bếp của một nóc chòi xiêu vẹo bỏ hoang gần cồn, Khoa mừng rỡ phát hiện một chiếc ấm đất nung cũ bị vứt lăn lóc trong bụi cỏ. Miệng ấm sứt một mảng nhỏ nhưng phần bụng còn dày dặn, vòi ấm vẫn thông suốt không hề nứt vỡ.
Khoa ôm bọc ống nứa và chiếc ấm đất vào lòng, rảo bước men theo lối mòn về xóm. Đi ngang qua bến đò Cầu Hai mé xóm Vạn Chòi, một đám đông nhao nhác tụ tập khiến bước chân thằng bé khựng lại.
Dưới bến nước, chiếc thuyền buôn mũi cong lộng lẫy của tiệm buôn Tống Ký đang neo chặt vào cọc gỗ. Trên mạn thuyền, phú hộ Tống Bá Lợi bệ vệ đứng chống nạnh. Thân hình lão béo tốt phục phịch trong chiếc áo the hoa gấm xanh sẫm, cổ tay đeo chuỗi ngọc sáng loáng, tay lăm lăm chiếc quạt trầm hương khẽ phẩy để xua đi mùi bùn tanh của đầm nước. Cạnh lão, mấy tên gia đinh mặt mày bặm trợn tay lăm lăm gậy gộc, đứng canh chừng những sọt tre lót rơm đựng đầy các lọ sành nút kín bằng lá chuối khô. Một mùi khét lẹt nồng nặc của dầu hỏa pha lẫn mỡ cá hôi thối theo chiều gió tạt thẳng vào mũi Khoa, khiến cổ họng thằng bé lợm giọng buồn nôn.
Tống Bá Lợi hất hàm, giọng trịch thượng sang sảng át cả tiếng sóng vỗ: — Cả cái xóm vạn ba mươi sáu nóc chòi này liệu mà nghe cho rõ! Đợt phong hàn này rét buốt thấu xương, không có dầu tràm của tiệm ta trừ tà giải cảm thì liệu đường sắm chiếu mà bó thây. Đúng một đồng bạc một lọ! Không bớt một trinh, không cho nợ nửa hào!
Bà con xóm vạn vây quanh, khuôn mặt ai nấy xám ngoét vì đói rét. Mấy người đàn bà ẵm con nhỏ đang ho sặc sụa, quỳ sụp xuống mép bùn van lơn: — Lạy ông hộ rủ lòng thương xót… Mấy hôm nay đầm phá sóng cồn buốt giá, cá tôm chẳng bắt được, cả nhà tui gom góp vét sạch chỉ còn hai hào mọn. Xin ông hộ làm phúc bán rẻ cho một lọ cứu mạng đứa cháu nhỏ, nó ho rút cả ruột gan từ nửa đêm tới chừ…
— Hai hào? — Tống Bá Lợi cười khẩy, quạt trầm gõ bốp vào lòng bàn tay. — Hai hào của lũ chúng mày đến tiền mua nút lá chuối còn chưa đủ! Cút ra chỗ khác, đừng làm bẩn mũi thuyền của ta!
Một tên tay sai lập tức vung đầu gậy gạt phăng người đàn bà ngã nhào trên bãi cát. Đứa trẻ trên tay bà khóc thét lên từng hồi ngặt nghẽo.
Giữa lúc ấy, một bóng người vạm vỡ từ dưới mé thuyền chài sải bước lao tới. Bác Bảy Chài ngực trần sạm gió, hai nắm tay siết chặt nổi gân guốc, giọng ồm ồm gầm lên phẫn nộ: — Ông hộ! Ông làm ăn thất đức vừa thôi chớ! Hôm qua lá tràm tươi bà con lặn lội cào mót trên cồn cát, ông ép giá xuống đáy bùn, một gánh tràm đẫy đà chỉ đổi được hai hào với nắm gạo mốc. Chừ ông đem thứ dầu tạp nham sặc mùi dầu hỏa này về chém giá một đồng bạc một lọ? Lương tâm ông để mô rồi?
Tống Bá Lợi nhướng đôi mày rậm, mắt lộ vẻ nham hiểm: — Trần Văn Bảy, mi chớ có đứng đó mà ăn ốc nói mò. Dầu của ta mua từ tận Chợ Dinh, thuốc quý nghìn vàng chứ có phải nước lã đâu. Chúng mày không có tiền mua thì cứ việc ôm nhau mà chịu rét, việc chi đến phiên mi lên tiếng dạy đời ta?Mấy tên gia đinh lập tức bước lên dàn hàng ngang, đoản côn lăm lăm gõ chan chát vào mạn thuyền thị uy. Mấy người già trong xóm vội vã chạy lại níu chặt lấy cánh tay bác Bảy, nghẹn ngào can ngăn vì biết rõ đụng vào bè lũ cường hào cấu kết với quan phủ chỉ rước lấy đòn roi tù tội. Bác Bảy nghiến răng ken két, lồng ngực phập phồng uất ức nhưng đành bất lực đứng nhìn chiếc thuyền buôn kiêu hãnh cắm sào giữa bến.
Khoa nấp sau lùm sậy, tim đập thình thịch từng hồi cay đắng. Nắm chặt chiếc ấm đất nứt trong tay, thằng bé lặng lẽ quay đầu chạy một mạch về túp lều xiêu vẹo của hai mẹ con.
Gian lều rạ vẫn lạnh lẽo như hầm băng. Tiếng thở đứt quãng của mạ Thược sau vách liếp hối thúc đôi chân Khoa không một giây ngơi nghỉ. Thằng bé ngồi thụp xuống mé chái bếp, đem mớ ống nứa tép thả vào chậu nước lạnh múc từ đầm phá để rửa sạch bùn cát. Thành nứa ngâm nước đầm trở nên lạnh ngắt buốt giá.
Để thử lại chiếc ấm đất mới nhặt, Khoa nhóm vài que củi khô, đổ chút nước lã vào lòng ấm rồi đun sôi. Khi làn hơi nước trắng mỏng bắt đầu phụt mạnh ra từ vòi ấm, Khoa tò mò cầm một dóng nứa tép vừa vớt khỏi chậu nước buốt, ghé nghiêng đầu ống nứa đón lấy luồng hơi ấm đang bốc lên.
Một hiện tượng kỳ lạ lập tức lọt vào đôi mắt tinh tường của thằng bé.
Dòng hơi nước nóng hổi vừa luồn vào lòng ống nứa lạnh buốt liền khựng lại. Gặp vách nứa mát lạnh, những hạt hơi nước li ti trong không khí nhanh chóng ngưng tụ, đọng thành những giọt nước tròn xoe bám chặt lấy thành ống. Từng giọt, từng giọt nặng trĩu lăn tròn trong lòng nứa rồi trút xuống chiếc gáo dừa đặt bên dưới: Tách. Tách.
Khoa giật mình sững sờ. Đôi mắt thằng bé sáng rực lên như hai vì sao giữa đêm đông.
Một tia sáng bừng lên trong tâm trí non nớt của Khoa. Thảo nào sáng nay hơi tràm cứ bay lên là tan biến vào sương lạnh, bởi vì nó chưa có vật chi dẫn dắt và làm lạnh để giữ hơi lại! Ống nứa ngâm nước đầm phá chính là con đường dẫn lối, vách nứa lạnh buốt sẽ gom từng hạt hơi xanh biếc ngọc bích của lá tràm lại, biến chúng thành những giọt dầu tràm ấm áp mà không để lọt một chút tinh chất nào ra ngoài gió bấc.
Không chần chừ thêm một khắc, Khoa chạy vội ra góc chái bếp gom lấy nắm lá tràm mót từ hôm qua đã được hong se sương sớm. Mặt lá tràm gió đã se lại, phiến lá mềm dai và tỏa ra một mùi the dịu thuần khiết đúng như lời dặn của người cha quá cố.
Thằng bé cẩn thận trút từng nắm lá vào cối đá nhỏ, giã nhẹ cho giập lớp biểu bì rồi nhét chặt vào bụng chiếc ấm đất nung. Khoa kê ấm lên ba hòn gạch bếp, chuẩn bị cho mẻ cất dầu liều lĩnh đầu tiên ngay trong đêm lạnh.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
