Chương 16: Vật Chứng Công Môn
Bác Bảy Chài nắm chặt chiếc lọ dầu sứt mép trong bàn tay gân guốc, rảo bước xuống bến xóm Vạn Chòi. Mặt nước Tam Giang vừa hửng sáng, sương mù bảng lảng trôi trên ngọn sóng lam thẫm quanh ba mươi sáu nóc chòi xiêu vẹo.
Hai thợ chài khỏe mạnh cùng bác Bảy áp giải tên cai thầu bến Cầu Hai xuống lòng thuyền nan mũi nhọn. Gã cai thầu bị trói giật cánh khuỷu bằng sợi chão gai, mặt mày tái mét không dám ho he nửa lời.
Khoa cẩn thận ôm liễn sành đựng dầu tràm nứa nguyên chất bước xuống khoang giữa, được mạ Thược chèn thêm lớp rơm khô chống sánh đổ. Mạ ngồi sát bên Khoa, bàn tay ấm áp đặt lên vai con trai, ánh mắt dịu hiền nhưng kiên cường. Bệnh hen dứt hẳn, hơi thở của mạ êm ru giữa gió sớm buốt giá. Ở mũi thuyền, cụ Cửu Trực trong manh áo lương nâu sẫm chống gậy trúc, mắt quắc thước dõi về bờ bắc.
— Chèo đi mấy chú em, thẳng hướng phủ đường Quảng Điền! — Bác Bảy hô lớn, ghì chặt cán dầm gỗ.
Mái chèo khua nước rẽ sóng sương mù, chiếc thuyền nan lao vút đi, bỏ lại sau lưng giàn lò nứa xóm vạn vẫn nghi ngút khói ấm.
Gió bấc buốt nhói, nhưng lồng ngực Khoa lại ấm sực. Hơi ấm the nồng của dầu tràm nứa len qua nút lá chuối phả vào chóp mũi nó cảm giác an lòng. Dưới sàn thuyền, bọc mo cau chứa cuộn bùi nhùi tẩm mỡ cá thối nằm cạnh chiếc lọ sành dán giấy đỏ Tống Ký của bác Bảy.
Hai thứ đồ vật đặt sát nhau tạo nên sự tương phản rợn người: một bên là liễn dầu tràm vàng óng chắt chiu từ lá tràm nứa vừa cứu sống mẹ nó cùng con trẻ xóm vạn; bên kia là thứ dầu giả khét lẹt cùng mồi lửa độc toan thiêu rụi xóm nghèo.
Bác Bảy Chài vừa dồn sức đẩy mái dầm vừa nghiến răng: — Trăm năm bia đá thì mòn, dã tâm tày trời của quân buôn độc thì ngàn đời bia miệng không quên. Lần này lên phủ, tui quyết không để lão Tống trốn tội!
Cụ Cửu Trực khẽ vuốt râu bạc: — Bác Bảy chớ nóng nảy. Đặng tri phủ vốn thanh liêm, nay ta có đủ nhân chứng vật chứng đanh thép, lại có đạo trời soi xét, ắt công lý sẽ sáng tỏ.
Khoa lắng nghe lời cụ Cửu, tay nhỏ siết chặt miệng liễn sành, vững dạ tin vào lẽ phải.
Thuyền nan xuôi dòng chừng tàn một tuần nhang thì bến đá trước phủ đường Quảng Điền hiện ra sau rèm sương. Những bậc đá rêu phong dẫn thẳng lên con đường lát gạch vào công môn. Mũi thuyền vừa chạm bến đá, Khoa ngước nhìn lên bờ liền thót bụng khi thấy một tốp gia nhân áo đen lăm lăm gậy gỗ đã dàn hàng ngang đón đầu. Đứng giữa chúng là phú hộ Tống Bá Lợi béo tốt ủ mỡ, mặc áo the hoa gấm, tay phẩy quạt trầm hương cẩn ngọc.Thấy thuyền nan cập bến, ánh mắt ti hí của gã đảo qua khoang thuyền. Trông thấy tên cai thầu bến Cầu Hai đang co ro bị trói, khóe môi gã giật nảy, mặt trắng bệch thoáng vẻ hoang mang. Song gã lập tức lấy lại vẻ trịch thượng, hất hàm bước xuống mấy bậc đá: — Úi chà! Hóa ra lũ dân chài rớt mồng tơi xóm Vạn Chòi! Đêm hôm không lo kéo lưới mót cá, sáng sớm dắt díu nhau lên chốn nha môn làm trò trống chi rứa?
Bác Bảy Chài buộc sợi chão vào cọc đá, lôi tên cai thầu lên bờ đối diện tên phú hộ: — Ông Tống, đừng giả đò! Ban đêm ông thuê người phóng hỏa giàn lò nứa, ban ngày ông bán dầu tràm giả pha mỡ thối suýt hại chết con trẻ. Bữa nay xóm Vạn Chòi tui đưa kẻ thủ ác cùng tang vật lên trình quan Tri phủ phân xử!
Tống Bá Lợi cười khẩy the thé, bước lại gần hạ giọng giảo hoạt: — Bác Bảy à, người khôn phải biết nhìn xa trông rộng. Đám dân đen chúng mày cả đời chưa bước qua bậu cửa công môn, biết chi phép tắc? Đụng vào chốn nha môn chỉ thiệt thân lũ chúng mày thôi nghe chưa!
Nói đoạn, gã rút từ vạt áo the ra bọc vải điều nặng trịch ném toẹt xuống trước mặt bác Bảy Chài, tiếng bạc va nhau lanh lảnh: — Trong nì có ba mươi đồng bạc trắng Đông Dương, đủ cho cả xóm mày mua gạo ăn suốt mùa đông. Khôn hồn thì cầm lấy, tháo trói cho người của ta rồi quẳng mấy thứ rác rưởi ấy xuống đầm mà về. Bằng không, bước vào công môn chỉ có nước vào tù!
Khoa nép sau lưng bác Bảy, thấy mạ khẽ siết tay mình, ánh mắt không hề dao động. Bác Bảy nhìn bọc bạc dưới chân, lồng ngực phập phồng tức giận. Bác vung dầm chèo gỗ gạt mạnh! Bốp! Bọc vải điều bị hất văng xuống bãi bùn mép nước, những đồng bạc trắng văng tung tóe lập tức bị bùn đen nuốt chửng.
Bác Bảy trừng mắt, tiếng nói sang sảng: — Dân xóm Vạn Chòi tui tuy nghèo, nhưng không bao giờ nuốt thứ bạc tanh tưởi mùi mỡ cá thối và nhuốm máu con trẻ của quân bay! Đem thứ bạc bẩn thỉu ấy về mà chôn cất lương tâm mày đi!
Bị hất văng bọc bạc, mặt Tống Bá Lợi đỏ gay rồi chuyển sang tím ngắt: — Lũ thảo dân ngu muội! Bổn hộ đây với quan Tri phủ ngày ngày nâng chén đàm đạo, quan hệ thân tình như thủ túc. Chúng mày bước vào đó, chưa kịp mở mồm thì gậy gộc nha lại đã đánh nát xương rồi!
Đám gia nhân lập tức rút gậy gỗ toan vây lấy thuyền nan. Đúng lúc ấy, một tiếng quát đanh thép vang lên: — Láo xược!
Cụ Cửu Trực khoan thai bước lên từng bậc đá, tà áo lương nâu sẫm toát lên phong thái đĩnh đạc của bậc danh y từng đứng chốn cung đình. Cụ chống gậy trúc, ánh mắt sắc như dao cau nhìn thẳng vào Tống Bá Lợi: — Chốn công môn giữ nghiêm phép nước, từ bao giờ thành nơi kết bè của phường trục lợi? Đặng tri phủ là bậc Nho học chính trực, há để kẻ buôn gian như ngươi làm nhơ nhuốc công đường? Ngươi cậy tiền che mắt thế gian, nhưng có che nổi đạo trời lồng lộng hay không?
Từng lời đanh thép của cụ Cửu Trực như chuông đồng gióng giữa sương sớm. Tống Bá Lợi nhìn thấy thần thái quắc thước của cụ già áo nâu thì nụ cười ngạo mạn lập tức tắt lịm. Đôi mắt lươn ti hí của gã chớp liên hồi, lộ rõ vẻ hoang mang chột dạ. Gã lùi lại nửa bước, miệng ấp úng không thốt nên lời trước ánh nhìn thấu suốt ấy.
Gió sớm trên bến Tam Giang bỗng ngưng bặt. Giữa lúc đám gia nhân dạt sang hai bên, từ sâu trong phủ đường bỗng vang lên những âm thanh dõng dạc: Tùng! Tùng! Tùng! Tiếng trống công đường bất ngờ điểm liên hồi ba hồi chín tiếng, rền vang khắp bến nước. Két… rầm! Hai cánh cổng son nặng nề từ từ mở rộng. Dưới ánh ban mai rực rỡ xua tan làn sương buốt, con đường gạch đỏ dẫn vào chốn công đường uy nghiêm mở toang, đón những người dân nghèo xóm chài hiên ngang bước vào thăng đường đòi lại công lý.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
