Chương 15: Hương Tràm Phá Băng

Tên cai thầu bến Cầu Hai co rúm người dưới lớp bùn lầy. Bị thợ chài đè nghiến bả vai, lại thấy ngọn dầm chèo sắc lạnh của bác Bảy Chài chĩa thẳng trước mặt, gã run như cầy sấy. Manh áo tơi rách bươm bết chặt vào da thịt lạnh ngắt, gã dập đầu lia lịa van lạy: — Bác Bảy ơi… lạy bà con tha mạng! Tui chỉ làm thuê ăn mướn, nhận bạc của người ta sai bảo chớ không dám tự ý… — Đứa mô sai mày? Nói mau! — Bác Bảy gằn giọng. Tên cai thầu run rẩy: — Lão Tống… chính là phú hộ Tống Bá Lợi! Lão ném cho tui năm đồng bạc trắng, bảo chập tối rình lúc gió bấc thổi mạnh thì mò sang đốt rụi chái bếp nhà cô Thược. Lão dặn phải thiêu bằng hết giàn lò nứa với đống lá tràm ủ, để dân vạn không còn dầu trị phong hàn, tiệm buôn Tống Ký mới độc quyền gom tràm ép giá và bán dầu lại được… Xin bà con rủ lòng thương!

Mấy thanh niên thợ chài siết chặt đòn gánh trong tay, nghiến răng ken két: — Đồ tàn nhẫn thất đức! Suýt nữa thì thiêu rụi cả nhà mẹ con thằng Khoa! Thấy bà con căm phẫn chực xông vào đánh, Khoa khẽ kéo vạt áo bác Bảy: — Bác Bảy ơi, chớ đánh hắn bị thương. Giữ hắn lành lặn làm nhân chứng trước công đường, lão Tống mới hết đường chối cãi! Bác Bảy gật mạnh đầu, sai thợ chài lấy thừng chão trói nghiến hai tay tên cai thầu quặt ra sau lưng, giải gã vào giam mé chái bếp. Cuộn bùi nhùi tẩm đẫm dầu hỏa và mỡ cá thối cũng được gắp lên, bọc kỹ vào manh mo cau khô làm tang vật.

Mưa đông ngoài mặt phá Tam Giang vẫn rào rạt trút xuống, nhưng trong sân nhà mẹ con Khoa, nỗi âu lo đã hoàn toàn tan biến. Khoa bước vội lại mé giàn lò, cẩn thận lật góc tấm cót che ra xem xét. Ba bệ lò vòm đất sét nung vẫn nguyên vẹn, máng tre dẫn nước lạnh đầm phá không hề sứt mẻ, và đống lá tràm bánh tẻ ủ ngấu dưới chái bếp vẫn tỏa ra mùi hương nồng ấm. Mẹ Thược chạy đến ôm chầm lấy con, nghẹn ngào: — May quá con ơi… Giàn lò của xóm mình còn nguyên vẹn rồi! Nhìn giàn lò bình an vô sự, bà con xóm vạn vững dạ hẳn. Bác Bảy Chài quệt nước mưa trên mặt, sang sảng hô lớn: — Phường gian ác muốn dập lửa của dân nghèo, thì đêm nay ta nổi lửa sáng rực cả khúc phá Tam Giang cho chúng trắng mắt ra! Tràm còn, lò còn, ta cất dầu thâu đêm cứu hết xóm mình!

Tiếng hò reo vang rộn cả góc đầm. Trai tráng vội vã bửa củi, châm đóm; phụ nữ cùng chị Thược thoăn thoắt xếp từng lớp lá tràm ủ ngấu vào ba nồi đất lớn, trét kín bùn non quanh cổ nắp. Khoa ngồi thụp xuống trước ba vòm lò, chăm chú quan sát. Dưới thị giác nhiệt trong tâm thức nó, những đốm than đỏ rực nhanh chóng được cào tản đều dưới đáy nồi. Quầng nhiệt đỏ hung hiểm biến mất, nhường chỗ cho sắc vàng mơ óng ả, thuần hậu và dìu dịu — độ lửa tuyệt hảo nhất để đánh thức sinh khí của từng phiến lá tràm.Nước trong nồi sôi sùng sục. Qua làn khói mỏng, Khoa thấy từng dòng hạt quang dược tính xanh biếc ngọc bích bốc lên cuồn cuộn, luồn qua giàn ống nứa tép già dài hơn một trượng ngâm chìm trong máng tre đầy ắp nước lạnh đầm phá. Hơi nóng gặp vách nứa lạnh buốt lập tức ngưng tụ, chắt chiu thành dòng chất lỏng thuần khiết, lách tách chảy xuống ba chiếc liễn sành đặt ở đầu hứng. Tách. Tách. Tách. Những giọt dầu vàng óng như mật ong rừng, sóng sánh tuôn chảy không ngừng. Mùi hương the nồng, ấm sực và ngọt lành lan tỏa, xua tan đi mùi bùn lầy, mùi khét của dầu hỏa và cái lạnh căm căm của đêm mưa gió.

Bà con vây quanh giàn lò, hít hà làn hơi thơm thảo mà rưng rưng nước mắt. Từng trôn bát sành được múc đầy dầu ấm, lập tức được trai tráng đội mưa mang đi khắp 36 nóc chòi ven đầm. Đêm ấy, hơi ấm tràm nứa len lỏi khắp vạn chài. Lát sau, cánh thợ chài trở về báo tin vui: trẻ nhỏ trúng hàn được xoa dầu ấm lên ngực, lưng và lòng bàn chân đều đã dịu cơn ho rũ rượi rồi ngủ say; những cụ già co quắp vì buốt giá cũng giãn dần khớp xương, da dẻ hồng hào trở lại. Lắng nghe tiếng thở phào nhẹ nhõm vọng lại từ các ngả chòi hòa cùng mùi hương tràm nồng đượm, Khoa biết đợt dịch phong hàn dai dẳng hoành hành suốt ba tuần buốt giá khắp vùng đầm phá Tam Giang đến đêm nay đã chính thức bị dập tắt hoàn toàn.

Canh tư trôi qua, mưa bấc ngoài đầm bắt đầu ngớt hạt. Mặt nước Tam Giang chuyển dần sang màu lam thẫm khi ánh ban mai le lói báo hiệu ngày mới. Cụ Cửu Trực trong chiếc áo lương nâu sẫm khoan thai bước đến bên bếp lò. Cụ nhìn ba liễn sành đầy ắp tinh dầu óng ả, đưa tay vuốt chòm râu bạc phơ rồi nhìn Khoa đầy tự hào: — Lão sống ngót một đời người, chưa từng thấy mẻ dầu tràm nào tinh thuần và đượm khí ấm như mẻ dầu cất bằng nứa lạnh của cháu Khoa. Giàn lò này không chỉ cứu mạng dân vạn chài, mà còn giữ tròn đạo nghĩa ở đời. Cụ quay sang bác Bảy Chài và bà con, giọng mực thước: — Tên cai thầu cùng cuộn bùi nhùi tẩm dầu hỏa là chứng cứ sống. Sớm mai, khi con nước lên, bác Bảy cùng mẹ con cháu Khoa hãy dong thuyền nan đưa hắn lên phủ đường Quảng Điền. Lão sẽ đích thân đi cùng làm chứng trước mặt quan Tri phủ, bóc trần toàn bộ dã tâm của phường Tống Bá Lợi! Khoa kính cẩn cúi đầu: — Dạ, con nghe lời cụ Cửu!

Bác Bảy Chài siết chặt quai hàm, hai bờ vai vạm vỡ run lên vì quyết tâm đanh thép. Bác rảo bước về chòi mình, khom lưng lôi từ góc chõng tre ra chiếc lọ dầu dán giấy đỏ Tống Ký bị vỡ góc miệng — thứ dầu độc hại nồng nặc mùi dầu hỏa và mỡ cá thối rữa suýt cướp mạng bé c* Đực hôm nào. Bác Bảy nắm chặt chiếc lọ trong bàn tay gân guốc, đôi mắt rực lên ngọn lửa căm hờn nhìn thẳng ra mênh mông sóng nước Tam Giang đang hửng sáng, sẵn sàng cho chuyến đi đòi lại công lý cho toàn thể xóm chài.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.