Chương 14: Lửa Đêm Phóng Hỏa
Tiếng chó sủa dồn dập ngoài mé bãi Cồn Cát khiến Khoa giật mình ngồi bật dậy trên chõng tre. Mưa đông vẫn ràn rạt quất vào mái rạ, hòa cùng tiếng sóng đầm Tam Giang dội ì oạp vào bờ cọc. Nhưng tiếng chó sủa báo động chỉ rộ lên một chặp rồi nghẹn bặt bất thường, như thể con vật vừa bị ai tàn nhẫn dằn xuống.
Linh tính chẳng lành nhói lên trong dạ. Khoa nhìn sang bên chõng. Mạ nó vẫn đang thiếp ngủ, lồng ngực phập phồng êm ả sau những ngày dài vật lộn với cơn hen phế hàn. Hơi thở êm ru của mạ làm Khoa an lòng, nhưng lúc này ruột gan nó lại bồn chồn như có than châm.
Nó nghĩ ngay đến khoảng sân đất trước lều. Ở đó, ba bệ lò vòm đất sét nung vẫn ủ than trấu ấm nồng chờ mẻ cất sáng mai. Đống lá tràm tươi bà con gom về được ủ ngấu dưới tấm bạt rách, cùng giàn ống nứa dài hơn một trượng ngâm trong máng tre — tất cả là hy vọng sống còn của ba mươi sáu nóc chòi xóm Vạn Chòi. Mưa gió thế này, lỡ bạt che bị gió bấc giật tung làm ướt than trấu thì công sức cả xóm coi như đổ sông đổ biển.
Khoa rón rén trở mình bước xuống đất, cố không làm dát tre kêu cót két. Nó với chiếc áo tơi lá cọ khoác lên vai, chụp chiếc nón mê sờn vành rồi nhẹ nhàng gạt then liếp bước ra sân.
Gió bấc thốc thẳng vào mặt buốt nhói. Mưa lạnh quất ran rát trên da thịt. Khoa bấm chặt ngón chân trần trên nền đất nhão nhoẹt tiến lại gần giàn lò. Bệ đất nung vẫn vững chãi, hơi than ủ tỏa mùi trấu thơm dìu dịu. Khoa kéo lại góc bạt che đống lá tràm ủ mé chái bếp, chèn thêm mấy hòn đá cuội to để đề phòng gió lật.
Vừa chèn xong tấm cót chắn mưa cho miệng lò, Khoa toan quay vào lều thì đôi mắt bỗng giần giật. Giữa màn đêm đen đặc và làn mưa giăng trắng xóa, thị giác nhiệt trong tâm thức nó bất thần bừng mở.
Bình thường, Khoa chỉ thấy quầng nhiệt vàng mơ êm đềm tỏa ra từ ba vòm lò đất — sắc vàng óng ả, thuần hậu của hơi ấm che chở xóm làng. Nhưng lúc này, xuyên qua màn mưa dầm dề phía rặng dứa dại ven mép nước, một quầng nhiệt đỏ rực, hung hãn đến gai người đang lén lút trườn tới!
Đó không phải là sắc đỏ sưởi ấm, mà là vệt nhiệt đỏ tía ngùn ngụt điềm gở hung tàn. Quầng nhiệt ấy di chuyển chầm chậm men theo mép nước bùn lầy, áp sát thẳng về phía chái bếp lợp rạ khô — nơi chất đống lá tràm và giàn ống nứa của cả xóm!
Khoa nín thở, nép thân hình nhỏ bé sau cây cột tre chái bếp, căng mắt nhìn trừng trừng vào bóng tối.
Một bóng đen trùm kín manh áo tơi rách bươm đang khom lưng bước tới. Mặt gã quấn chặt mảnh vải đen, chỉ chừa đôi mắt lấm lét. Khi gã áp sát đống rạ chừng năm bước chân, một mùi khét lẹt quen thuộc xộc thẳng vào mũi Khoa: mùi dầu hỏa pha mỡ cá thối rữa của tiệm buôn Tống Ký!
Gã dừng lại, lôi từ vạt áo tơi ra chiếc ống tre, rút cuộn bùi nhùi giẻ rách tẩm đẫm dầu hỏa. Đầu bùi nhùi đỏ đốm than le lói. Tên bịt mặt phồng má thổi mạnh “Phù!”
Ngọn lửa đỏ lòm bùng lên, soi rõ ánh mắt tàn độc. Gã giơ cao cánh tay, toan ném thẳng mồi lửa vào mái rạ khô và đống lá tràm ủ ngấu!
Nếu mái rạ bén lửa giữa đêm gió bấc, ba bệ lò cùng giàn ống nứa sẽ tan thành tro bụi, thiêu rụi cả túp lều nơi mạ nó đang ngủ!
Không chút đắn đo, lòng căm phẫn bùng lên trong huyết quản. Khoa chộp ngay cây gậy tre dài ba thước dựng bên vách liếp — thứ gậy ban ngày bà con dùng đảo bã tràm.
Khoa dồn sức vào đôi chân trần, lao vụt ra như mũi tên, hét lớn xé toạc màn mưa: — Có kẻ phóng hỏa! Bà con ơi, có trộm đốt lò! Bác Bảy ơi!
Tên bịt mặt giật thót mình. Chưa kịp ném bùi nhùi thì cây gậy tre trên tay Khoa đã xé gió giáng thẳng xuống.“Bốp!”
Đòn đánh trúng ngay cổ tay. Tên phóng hỏa rú lên đau đớn, bàn tay buông thõng. Cuộn bùi nhùi đỏ rực văng khỏi tay gã, rơi tõm xuống vũng nước bùn ngập ngụa.
“Xèo!”
Mồi lửa chạm nước bùn liền lụi tàn, bốc lên làn khói đen khét lẹt mùi dầu hỏa rồi tắt ngấm.
— Thằng ranh con! Mày muốn chết hả! — Tên bịt mặt gầm the thé, vung tay toan chộp lấy cổ áo Khoa.
Nhưng tiếng la của Khoa đã đánh thức cả xóm. Cửa liếp các chòi lân cận bật tung rầm rập.
— Đứa mô to gan dám đụng đến giàn lò xóm Vạn!
Tiếng gầm sang sảng vang lên giữa trời mưa. Bác Bảy Chài thân trần cuồn cuộn, tay lăm lăm ngọn dầm chèo gỗ kiền kiền lao thẳng vào sân. Phía sau bác, mấy thanh niên thợ chài cầm đòn gánh, chèo nan, rọi đuốc ùa ra như nước vỡ bờ, vây kín bốn bề.
Tên bịt mặt hoảng loạn quay đầu toan lao xuống mé đầm Tam Giang tẩu thoát. Nhưng gã sao nhanh bằng bác Bảy Chài! Bác sải bước như bay, vung ngọn dầm chèo phạt ngang cẳng chân tên gian tặc.
“Rầm!”
Cú ngã trời giáng khiến gã cắm mặt xuống bùn lầy. Chưa kịp ngóc dậy, ba bốn tay thợ chài lực lưỡng đã ùa tới đè nghiến bả vai gã, khóa chặt hai tay ra sau lưng như kẹp kìm sắt.
Chị Thược choàng tỉnh, hớt hải cầm cây đèn dầu chạy ra sân ôm chặt lấy con, toàn thân run lên: — Khoa ơi! Con có can chi không con?
— Con không việc chi mạ ơi! Con đập văng mồi lửa của hắn rồi nì! — Khoa dõng dạc đáp, tay vẫn nắm chặt cây gậy tre lấm lem.
Ánh đuốc trên tay bà con soi sáng rực khoảng sân. Dưới đất bùn, cuộn bùi nhùi tẩm dầu hỏa bốc mùi hôi nồng nặc nằm trơ trọi làm tang vật rõ mười mươi.
Bác Bảy Chài bước lại gần kẻ đang bị ghì chặt, túm mớ tóc ướt sũng giật ngược lên rồi giật phăng mảnh vải đen bịt mặt.
Dưới ánh đuốc bập bùng, khuôn mặt nhợt nhạt với bộ ria mép chuột lơ thơ, đôi mắt lươn tráo trở hiện ra rõ mồn một trước sự sững sờ của mọi người.
Bác Bảy Chài trừng trừng đôi mắt đỏ ngầu, thốt lên từng tiếng đanh thép: — Hóa ra là mày! Tên cai thầu bến Cầu Hai! Con chó săn của lão Tống Bá Lợi!
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
