Chương 7: Nhân Chứng Làng Lụa

Cơn đau buốt từ bắp tay trái giật từng cơn theo nhịp đập của mạch máu, kéo Phan Khắc Huy ra khỏi khoảng tối mông muội của giấc ngủ chập chờn.

Anh mở mắt. Mùi cao dán thảo dược quyện với mùi gỉ sắt tanh nồng của máu khô xộc thẳng vào cánh mũi. Huy chống tay ngồi dậy trên chiếc phản gỗ trong gian buồng trong, cả người nặng trĩu như vừa bị vùi dưới lớp bùn lầy ngàn cân. Cơn phản phệ dữ dội của lần kích hoạt tàn niệm sâu đêm qua vẫn còn để lại những dư chấn âm ỉ: hốc mắt khô rát, cổ họng đắng nghét vị đồng, và nơi thái dương giật thon thót từng hồi.

Qua tấm rèm liếp nửa khép nửa mở, Huy nhìn thấy gian xưởng ngoài.

Ánh rạng đông của buổi sớm mùa thu màu xám chì lọt qua khung cửa sổ vỡ, rọi một vệt sáng sắc lạnh lên chiếc bàn bồi biểu ngổn ngang. Vũ Lam vẫn ngồi đó. Chiếc bóng của cô đổ dài trên sàn gạch tàu loang lổ. Cô ngồi bất động, đôi vai gầy hơi co lại dưới lớp áo khoác dã chiến mỏng, bàn tay buông thõng bên cạnh chiếc chuột máy tính vừa rơi sững trên mặt bàn.

Huy hít một hơi thật sâu, nén cơn choáng váng đang chực dâng lên, khẽ gạt rèm bước ra. Tiếng bước chân trần của anh trên nền gạch lạnh làm Lam giật mình. Cô quay phắt lại, khuôn mặt tái nhợt không còn giọt máu, quầng mắt thâm quầng sau một đêm thức trắng nhưng đôi đồng tử lại sáng quắc lên một sự bàng hoàng tột độ.

"Anh dậy rồi à?" Giọng Lam khàn đặc, lạc đi như tiếng kim loại cọ xát. "Vết thương... còn chảy máu không?"

"Tôi ổn." Huy đi đến bên bàn, ánh mắt anh lập tức rơi vào màn hình máy tính xách tay vẫn đang sáng rực.

Trên màn hình độ phân giải cao là bức ảnh đen trắng chụp buổi lễ ba mươi năm trước. Khuôn mặt gã thanh niên hai mươi tám tuổi với đôi mắt một mí dài sắc lạnh như dao cạo, khóe môi nhếch nụ cười ngạo mạn, và ngón tay trỏ đeo chiếc nhẫn ngọc bích chạm khắc hoa văn rồng cuộn trong mây. Dòng chú thích bên dưới như một bản cáo trạng đanh thép: Thiếu gia Hoàng Định Uyên.

Cả gian xưởng chìm vào một sự im lặng ngột ngạt đến nghẹt thở. Tiếng lá đa khô ngoài sân Cổ Diệp Trai bị gió bấc quét sàn sạt nghe rợn cả người.

"Là hắn..." Huy khẽ thì thầm, từng ngón tay thon dài của anh siết chặt lấy mép bàn gỗ lim. Dù đã tận mắt thấy khuôn mặt đó trong ảo ảnh đẫm máu đêm qua, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh tư liệu của người sống ngoài đời thực, một luồng hàn khí vẫn chạy dọc sống lưng anh. "Hoàng Định Uyên. Kẻ bảo trợ cho xưởng tranh... kẻ vừa sai hai tên sát thủ đến san phẳng nơi này đêm qua."

"Chính là ông ta." Lam hít một hơi run rẩy, ngón tay cô chỉ vào màn hình, nơi chiếc nhẫn ngọc phát ra ánh sáng lạnh lẽo qua lớp phim ảnh cổ. "Năm 1996, Hoàng Định Uyên mới hai mươi chín tuổi, là thiếu gia lẫy lừng của giới cổ ngoạn Hà thành. Chú Khiêm của tôi đã theo dấu một đường dây buôn lậu đồ cổ triều Nguyễn bị đánh tráo từ Huế đưa ra Bắc. Bài báo này xuất bản một năm trước khi chú tôi tử nạn và Nguyễn Cẩm Tú bốc hơi khỏi cõi đời. Mọi mắt xích... đều dẫn về cùng một cái tên."

Lam ngước nhìn Huy, ánh mắt cô đan xen giữa phẫn nộ và một nỗi sợ hãi mơ hồ trước thế lực bóng tối đang bao trùm lấy họ "Hắn có tiền, có quyền, có quan hệ bao trùm khắp các cấp. Hai tên đột nhập đêm qua mới chỉ là đòn cảnh cáo. Chúng ta không thể chỉ dựa vào những mảnh tàn niệm tâm linh vô hình của anh để tố cáo một đại gia bất động sản quyền lực nhất nhì thành phố này. Tòa án cần chứng cứ vật chất. Cảnh sát cần hài cốt và đường đi của dòng tiền."

"Tôi hiểu." Huy bình thản nói, dù ánh mắt sâu thẳm của anh tối sầm lại. "Tàn niệm cho ta biết phương hướng, nhưng sự thật cần được bồi đắp bằng nhân chứng của nhân gian. Bức tranh Sương Lam Tây Hồ không phải tự nhiên sinh ra. Thứ lụa dệt nên nó... mang một bí mật mà tôi vừa nhận ra lúc rạng sáng."

Huy bước tới góc hầm sấy ngầm, cẩn thận nhấc ống đồng chứa bức tranh lụa lên. Đêm qua, trước khi chìm vào cơn mê sảng, trong lúc bóc tách mép bồi, ngón tay anh đã lướt qua những sợi canh và sợi xuyến của tấm lụa nền. Đó là một cảm giác xúc giác vô cùng kỳ lạ mà suốt mười năm làm nghề phục chế, anh chưa từng gặp ở bất kỳ dòng lụa công nghiệp hay lụa Hà Đông thông thường nào.

"Lụa cổ thời Nguyễn đa phần dùng lụa tơ tằm dệt trơn hoặc lụa đũi mộc. Nhưng tấm lụa mà Cẩm Tú dùng để vẽ bức tranh này là kỹ thuật dệt 'vân mây sa'—một lối dệt gài hoa chìm cực kỳ phức tạp, sợi tơ mỏng như cánh ve nhưng dai vô cùng, chỉ khi soi dưới ánh sáng xiên mới thấy những dải mây uốn lượn ẩn dưới thớ vải." Huy lấy nhíp gắp ra một mảnh vụn lụa nhỏ bằng móng tay, vốn là rìa biên bị mục rách mà anh đã tỉ mẩn gỡ ra từ trước, đặt vào một lọ thủy tinh nhỏ. "Bà cụ dạy nghề dệt cho Cụ Niên từng nói, ở đất Bắc này, kỹ thuật dệt 'vân mây sa' từng thất truyền từ đầu thế kỷ hai mươi. Chỉ có một dòng họ duy nhất ở làng Vạn Phúc còn giữ được bí kíp gia truyền ấy."

Đôi mắt Lam sáng lên một tia hy vọng: "Dòng họ của Nguyễn Cẩm Tú?"

"Phải. Hồ sơ mất tích của cô ấy ghi rõ quê quán ở làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông." Huy nhìn ra cửa xưởng, nơi màn sương lam của Hồ Tây bắt đầu tan dần dưới ánh nắng sớm hanh hao. "Chúng ta phải đi Vạn Phúc ngay sáng nay. Nếu Cẩm Tú từng dệt tấm lụa này trước khi chết, chắc chắn người trong làng, đặc biệt là những nghệ nhân dệt lụa cao tuổi, sẽ nhận ra dấu ấn của cô ấy."

Chiếc xe máy cũ của Lam chở Huy rời khỏi con ngõ 182 Thụy Khuê khi phố xá bắt đầu nhộn nhịp. Băng qua những con đường rợp bóng xà cừ cổ thụ của Hà Nội, men theo đường Nguyễn Trãi bụi bặm rồi rẽ vào địa phận quận Hà Đông, không khí đô thị ồn ào dần nhường chỗ cho vẻ trầm mặc của một làng nghề ven sông Nhuệ.

Làng lụa Vạn Phúc đón họ bằng cổng làng xây gạch đỏ rêu phong, trên vòm cổng đắp nổi ba chữ Hán "Vạn Phúc Thôn". Tuy nhiên, khác với khu phố chính sầm uất đầy những cửa hàng trưng bày lụa bóng bẩy phục vụ khách du lịch, Huy và Lam rẽ sâu vào một con ngõ nhỏ lát gạch nghiêng, nơi những bức tường cổ rêu phong bám đầy xỉ than của lò luộc kén ngày xưa.

Càng đi sâu vào trong, tiếng lách cách rộn rã của những con thoi gõ trên khung cửi càng thưa thớt dần, thay vào đó là mùi ẩm mốc của những ngôi nhà cổ đóng kín cửa và mùi ngai ngái của nước sông tù đọng.

Theo địa chỉ ghi trong mảnh cắt hồ sơ lưu trữ năm 1996 mà Lam mang theo, họ dừng lại trước một cánh cổng gỗ lim bạc phếch, bên trên có giàn hoa giấy cằn cỗi đang rụng những cánh hoa màu tím nhạt xuống nền sân gạch vỡ.

Lam bước tới, gõ chiếc vòng đồng gỉ sét lên cánh cửa: "Xin hỏi... có ai ở nhà không ạ?"

Tiếng gõ vang lên khô khốc. Một lúc sau, bên trong có tiếng bước chân lê chậm chạp trên mặt đất, kèm theo tiếng ho khúc khắc của người già.

Cánh cổng gỗ kẽo kẹt mở ra một khe hẹp. Hiện ra sau khe cửa là một bà lão tóc bạc trắng như cước, vóc người nhỏ thó, lưng đã còng rạp. Bà mặc chiếc áo cánh màu nâu sồng giản dị, đôi mắt đã đục mờ vì đục thủy tinh thể nheo lại nhìn hai người khách lạ với vẻ đề phòng "Ai đấy? Mua lụa thì ra ngoài phố lớn... Nhà này từ ba chục năm nay không còn dệt bán nữa rồi."

Huy bước lên nửa bước, anh cúi đầu chào theo lễ nghi cổ truyền đất kinh kỳ, giọng trầm ấm và cung kính "Thưa cụ, chúng cháu không phải khách mua lụa. Cháu là thợ phục chế cổ vật từ Thụy Khuê, còn đây là phóng viên báo Thời Luận. Chúng cháu tìm về đây là muốn thưa chuyện với gia đình về người con gái của dòng họ... cô Nguyễn Cẩm Tú."

Cái tên "Nguyễn Cẩm Tú" vừa thốt ra khỏi miệng Huy, toàn thân bà lão run rẩy dữ dội. Bàn tay gầy guộc đầy những đốm đồi mồi bám chặt lấy then cửa gỗ, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực. Đôi mắt đục mờ của bà mở lớn, ánh lên một nỗi kinh hoàng pha lẫn niềm đau đớn bị chôn chặt suốt ba thập kỷ.

"Cẩm... Cẩm Tú?" Giọng bà run rẩy, ngắt quãng. "Các người... các người lại đến bới móc chuyện cũ sao? Ba mươi năm rồi... con bé đã chết mất xác dưới hồ rồi, các người còn muốn gì ở cái nhà này nữa?"

"Thưa bà, chúng cháu không bới móc." Lam dịu dàng bước tới, lấy từ trong túi áo ra bức ảnh chân dung đen trắng của chú mình – điều tra viên Vũ Đình Khiêm. "Cháu là cháu ruột của chú Khiêm, người cảnh sát đã thụ lý vụ án mất tích của chị Tú năm 1996 và sau đó cũng bị sát hại ở Hồ Tây. Ba mươi năm qua, gia đình cháu và chị Tú đều mang chung một nỗi oan ức chưa được giải tỏa. Cháu đến đây để tìm lại công lý cho cả hai người."

Bà lão sững sờ nhìn vào tấm ảnh của người chiến sĩ công an trẻ tuổi trong bộ cảnh phục thập niên 90. Những nếp nhăn chằng chịt trên gương mặt bà giật giật, rồi một giọt nước mắt đục ngầu ứa ra từ khóe mắt khô cằn.

Bà run rẩy buông then cài, mở rộng cánh cổng: "Vào... vào nhà đi các con."

Căn nhà ba gian lợp ngói vảy cá của gia đình nghệ nhân họ Nguyễn mang một vẻ u tịch như thể thời gian đã ngừng trôi từ cuối thế kỷ trước. Trên chiếc sập gụ kê giữa gian chính, một ấm trà mạn đã nguội ngắt bốc lên mùi chát đắng. Trên ban thờ gian giữa, bên cạnh bài vị tổ tiên là một tấm ảnh thờ nhỏ chụp một thiếu nữ với gương mặt thanh tú, đôi mắt buồn man mác và mái tóc dài buông xõa qua vai. Đó chính là Nguyễn Cẩm Tú. Trước di ảnh nàng, một bát hương lạnh tanh không có chân hương mới, chỉ có một đĩa hoa ngọc lan trắng đã héo úa từ mấy ngày trước.

Bà lão ngồi xuống mép sập, tự giới thiệu mình tên là Nguyễn Thị Nhược, năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi, là dì ruột của Cẩm Tú. Cha mẹ Tú đều là nghệ nhân dệt lụa nức tiếng, nhưng vì quá đau buồn sau cái chết và sự mất tích bí ẩn của con gái duy nhất, họ đã lần lượt qua đời trong u uất từ hơn hai mươi năm trước. Căn nhà cổ này chỉ còn một mình bà Nhược sớm hôm trông nom hương khói.

"Cụ ơi, xin cụ xem giúp cháu vật này." Huy cẩn thận lấy chiếc lọ thủy tinh ra, dùng nhíp đặt mảnh vụn lụa lên một tấm vải nhung đen trải trên mặt sập.

Bà Nhược run rẩy đưa bàn tay đồi mồi chạm vào thớ lụa. Đôi ngón tay thô ráp của một đời canh cửi khẽ lướt qua bề mặt tấm lụa mục.

Bỗng nhiên, cơ thể bà lão cứng đờ. Bà đưa mảnh lụa lại gần mắt, rồi đưa lên mũi ngửi. Một luồng xúc động mãnh liệt dâng trào khiến lồng ngực bà phập phồng dữ dội.

"Trời ơi..." Bà Nhược òa khóc, tiếng khóc nấc nghẹn ngào của một người già tưởng như nước mắt đã cạn kiệt từ lâu. "Đây là... đây là lụa 'vân mây sa'. Sợi tơ tằm mùa thu dệt kép ba sợi, hồ bằng mủ cây bời lời non... Trên đời này chỉ có một mình con Tú mới dệt được thứ lụa này thôi! Con bé mất cả một năm trời tự tay ươm tằm, xe sợi, tự chế lại cái khung cửi cổ của cụ cố để dệt nên một súc lụa duy nhất..."

Bà lão ôm mảnh lụa vụn vào ngực như đang ôm lấy đứa cháu gái vắng số, đôi vai gầy rung lên bần bật: "Nó dệt súc lụa này... là để vẽ tranh cho người ta. Cái thứ tranh ma quỷ ấy đã cướp mất mạng của con bé!"

Huy và Lam đưa mắt nhìn nhau. Trái tim Huy đập thình thịch trong lồng ngực. Mối liên kết vật chất đã được xác nhận: bức Sương Lam Tây Hồ đích thực được vẽ trên chính súc lụa độc bản của Cẩm Tú.

"Bà ơi," Lam ngồi quỳ bên cạnh bà lão, khẽ đặt tay lên vai bà an ủi. "Người mà chị Tú vẽ tranh cho... có phải là một thanh niên tên Uyên không ạ?"

Tiếng khóc của bà Nhược bỗng nghẹn lại. Ánh mắt bà nhìn trân trân vào khoảng không vô định, những ký ức kinh hoàng của mùa thu ba mươi năm trước như một cơn ác mộng cuộn về "Phải... Hắn tên là Uyên. Hoàng Định Uyên. Lúc đó hắn tự xưng là công tử nhà gia thế trên phố cổ, ăn mặc sang trọng, đi xe máy xịn, nói năng ngọt nhạt như rót mật vào tai. Hắn tìm về Vạn Phúc vì nghe danh tiếng dệt lụa của nhà này, rồi hắn gặp con Tú..."

Bà Nhược thở dài một hơi não nuột, giọng kể chìm vào quá khứ "Con Tú nhà tôi lúc ấy đang học năm thứ ba trường Cao đẳng Mỹ thuật. Nó vừa đẹp người lại vừa khéo tay, tâm hồn trong trắng như trang giấy xuyến chỉ. Thằng Uyên mê mẩn tài nghệ của nó, ngày nào cũng lái xe về làng đón nó đi chơi, mua tặng nó những hộp màu vẽ đắt tiền của Pháp, của Nhật. Con bé ngây thơ, yêu hắn say đắm, tin rằng hắn là người tri kỷ trong nghệ thuật."

"Nhưng hắn tiếp cận chị ấy không chỉ vì tình cảm, đúng không bà?" Huy trầm ngâm hỏi, ngón tay anh vô thức miết nhẹ lên vết sẹo trên bắp tay.

"Một lũ ác quỷ!" Bà Nhược nghiến răng, giọng căm hờn. "Hắn mang về những xấp giấy dó ố vàng, những bản rập bia đá và sơ đồ chữ Nho ngoằn ngoèo. Hắn bảo với con Tú rằng đó là những bản đồ đo đạc thủy văn cổ của các cụ ngày xưa, muốn nó dùng kỹ thuật tranh thủy mặc để phục dựng lại thành một bức tranh phong cảnh Hồ Tây tuyệt mỹ. Hắn bảo vẽ xong sẽ mở triển lãm cho con bé, sẽ cưới nó làm vợ..."

Bà lão run rẩy gạt nước mắt: "Nhưng rồi đến đầu mùa thu năm 1996, con Tú bắt đầu thay đổi. Nó gầy rộc đi, đôi mắt lúc nào cũng thâm quầng và hoảng loạn. Có những đêm tôi thức giấc, thấy nó ngồi câm lặng bên khung cửi khóc thầm. Tôi gặng hỏi thì nó chỉ ôm chầm lấy tôi run rẩy, bảo rằng nó đã phát hiện ra một bí mật khủng khiếp. Những bản đồ mà thằng Uyên đưa cho nó không phải là đo đạc thông thường, mà là hải đồ định vị những cổ vật bị đánh cắp chôn giấu dưới đáy hồ Tây. Nó bảo thằng Uyên cùng một đường dây buôn lậu lớn đang chuẩn bị trục vớt một báu vật triều đình để tẩu tán ra nước ngoài, và hắn muốn nó vẽ xong bức tranh để làm chìa khóa định vị dòng chảy ngầm."

"Và chị Tú đã từ chối giao bức tranh?" Lam sốt sắng hỏi dồn."Con bé bảo với tôi, nếu bức tranh đó hoàn thành theo ý hắn, nó sẽ trở thành kẻ đồng lõa giết hại tiền nhân. Nó muốn tố cáo hắn." Giọng bà Nhược chùng xuống, bi thương đến xé lòng. "Đêm hôm đó... ngày 23 tháng 9 năm 1996, trời mưa tầm tã. Thằng Uyên cho xe về đón con Tú đi, bảo là đến một căn biệt thự ven hồ để bàn chuyện triển lãm lần cuối. Con bé mang theo bức tranh cuộn trong ống bương... Và rồi nó không bao giờ trở về nữa."

Bà Nhược gục đầu xuống gối chiếc sập gụ, tiếng nấc xé toạc không gian tĩnh mịch: "Mấy ngày sau, công an báo tin tìm thấy chiếc xe đạp của nó vứt lại bên bờ đầm sen Thủy Sứ. Người ta bảo nó bị sảy chân chết đuối, nhưng xác thì mò mãi cả tháng trời không thấy. Thằng Uyên thì ung dung phủi sạch mọi quan hệ, bảo rằng đêm đó con Tú đã tự bỏ về từ sớm. Gia đình tôi chỉ là dân thợ dệt thấp cổ bé họng, kiện cáo khắp nơi nhưng đơn từ gửi đi đều như đá ném xuống biển sâu..."

Huy im lặng lắng nghe, từng thớ cơ trên mặt anh đanh lại. Mọi lời kể của bà Nhược đều khớp nối hoàn hảo với những mảnh vỡ ký ức mà tàn niệm đã truyền cho anh: tiếng thở nghẹn đặc dưới sợi dây dù siết cổ, tiếng nước hồ cuộn sóng dìm sâu một sinh mệnh, và khuôn mặt lạnh lùng của Hoàng Định Uyên khi nhìn nạn nhân chìm vào bóng tối.

"Cụ ơi," Huy ngập ngừng một lát rồi khẽ hỏi. "Căn phòng ngày xưa cô Tú dùng để dệt lụa và vẽ tranh... gia đình còn giữ lại không ạ?"

Bà Nhược ngẩng lên, nhìn sâu vào đôi mắt u uẩn của chàng thanh niên phục chế tranh: "Còn. Gian nhà ngang phía sau vườn. Ba mươi năm nay, ngoài việc quét bụi bặm, tôi không cho ai đụng vào bất cứ thứ gì của con bé. Cứ ngỡ như... một ngày nào đó nó sẽ lại đẩy cửa bước vào."

Gian nhà ngang nằm khuất sau vườn chuối rậm rạp, tách biệt hẳn với gian nhà chính. Cánh cửa gỗ khép hờ, bên trên then cài phủ một lớp bụi thời gian mỏng tang.

Khi Huy đẩy cửa bước vào, một luồng không khí ẩm lạnh phảng phất mùi gỗ mộc, mùi tơ tằm khô mục và một mùi hương thoang thoảng quen thuộc ùa ra đón lấy anh.

Mùi hoa ngọc lan.

Huy khựng lại một nhịp nơi ngưỡng cửa. Tim anh thắt lại. Đó chính là mùi hương luôn xuất hiện mỗi khi oan hồn Cẩm Tú hiển linh tại Cổ Diệp Trai. Ở đây, giữa căn phòng hoang phế ba mươi năm không người ở, tàn tích của sự sống và nỗi đau của người con gái ấy dường như vẫn còn nguyên vẹn, đông cứng lại giữa không gian.

Ánh sáng ban ngày xuyên qua những khe hở của liếp tre mục, rọi những vệt sáng xiên xiên đầy bụi bặm vào căn phòng nhỏ. Ở góc phòng kê một chiếc giá vẽ bằng gỗ tạp, bên trên vẫn còn một nghiên mực bằng đá xám đã khô nứt nẻ. Giữa phòng là một chiếc khung cửi cổ bằng gỗ xoan đào đã ngả màu nâu sậm, những sợi dây dọi và con thoi nằm im lìm trên mặt go dệt.

Lam đứng lặng ở cửa, không dám bước mạnh vì sợ phá vỡ sự tôn nghiêm của cõi nhớ. Huy chậm rãi bước tới gần chiếc khung cửi.

Vết thương trên cánh tay anh bỗng nhói buốt, nhưng một luồng xung lực vô hình thúc đẩy anh vươn bàn tay phải ra. Các đầu ngón tay thon dài của người thợ phục chế khẽ chạm vào thanh gỗ ngang của khung dệt—nơi người thợ dệt thường đặt tay tì vào mỗi khi đưa thoi.

Oong...

Một tiếng ngân vang trầm đục vang lên trong tâm khảm Huy, tựa như tiếng chuông đồng vọng lại từ đáy vực sâu.

Căn phòng hoang phế trước mắt anh bỗng nhạt nhòa đi. Ánh sáng vàng vọt của ban ngày tan biến, thay vào đó là bóng tối dày đặc của một đêm mưa gió mù mịt. Không gian xung quanh lạnh buốt thấu xương.

Tàn niệm kích hoạt.

Nhưng lần này, không có tiếng gào thét nghẹn đặc, không có sự bạo liệt của cái chết hay mùi máu tanh nồng nặc. Tàn niệm hiện về vô cùng tĩnh lặng, dịu dàng nhưng mang một nỗi bi thương xé nát tâm can.

Dưới ánh đèn dầu leo lét màu cam đỏ, Huy nhìn thấy bóng lưng một thiếu nữ mặc áo dài lụa trắng đang ngồi trước bàn vẽ. Mái tóc nàng đen nhánh xõa dài, bờ vai gầy run rẩy từng chập theo tiếng nấc nghẹn.

Bên ngoài cửa sổ, tiếng sấm rền vang và tiếng mưa quất rát rạt vào rèm liếp.

Thiếu nữ ấy quay mặt lại. Khuôn mặt thanh tú, đôi mắt đẫm lệ chan chứa nỗi tuyệt vọng cùng cực. Nàng nhìn vào khoảng không vô định, như thể đang nhìn xuyên qua ba mươi năm thời gian để đối diện trực tiếp với Huy.

Huy nín thở chứng kiến từng hành động của nàng trong quá khứ.

Cẩm Tú cầm một chiếc kéo nhỏ bằng đồng. Nàng nắm lấy một lọn tóc dài bên thái dương của mình, dứt khoát cắt đứt. Nàng châm ngọn lửa đèn dầu, đốt lọn tóc ấy trên một chiếc đĩa sứ cổ, nhìn ngọn lửa le lói thiêu rụi mái tóc thanh xuân thành lớp tro đen mịn.

Tiếp đó, nàng run rẩy bước tới bàn thờ nhỏ trong góc phòng, rút ba nén chân hương đã tàn, bóp nát lớp tro hương thiêng liêng hòa chung vào đĩa tro tóc.

Nàng ngồi xuống trước nghiên mực. Bằng một nhát kéo dứt khoát cứa vào đầu ngón tay trỏ, những giọt máu đỏ tươi ứa ra, nhỏ xuống nghiên đá xám. Cẩm Tú nghiền nát thỏi mực xạ đen nhánh, trộn đều tro tóc, tro hương và máu của chính mình vào dòng nước mưa hứng từ mái ngói.

Nước mắt nàng rơi lã chã xuống mặt lụa trắng"Nếu trời cao không có mắt, nếu oan khiên này phải chìm sâu dưới đáy nước... thì xin hồn phách ta nương vào từng thớ lụa, từng giọt mực này. Ngàn năm sau, kẻ nào có tâm, xin hãy đọc tờ cáo trạng này mà đòi lại công lý cho ta..."

Nàng cầm bút lông, chấm vào thứ mực đen ánh đỏ ma mị ấy, bắt đầu hạ những nét vẽ đầu tiên lên tấm lụa Sương Lam Tây Hồ. Dưới lớp phong cảnh mây khói hữu tình, những đường nét chu sa định vị tọa độ tội ác và bản đồ dòng chảy ngầm của Hồ Tây dần dần hiện hình như một lời nguyền bất tử.

"Huy! Anh Huy!"

Một bàn tay ấm áp lay mạnh bả vai anh.

Huy giật mình, toàn thân chấn động thoát ra khỏi ảo ảnh tàn niệm. Anh loạng choạng lùi lại một bước, lồng ngực th* d*c như người vừa ngoi lên từ đáy nước sâu.

Trước mắt anh, căn phòng dệt cũ kỹ vẫn chìm trong ánh sáng ban ngày. Bụi mờ lơ lửng trong không trung. Vũ Lam đang đứng trước mặt anh, ánh mắt tràn đầy lo lắng, hai tay cô giữ chặt lấy cánh tay anh "Anh lại kích hoạt tàn niệm đúng không? Mặt anh tái mét hết rồi kìa!"

Huy lắc đầu, nuốt khan một ngụm nước bọt để làm dịu cơn khô rát nơi cổ họng. Anh nhìn xuống thanh gỗ khung cửi phủ bụi, rồi nhìn sang nghiên mực cạn queo trên bàn. Mọi thứ trong tàn niệm vừa rồi chân thực đến mức anh dường như vẫn còn ngửi thấy mùi khét của tóc cháy và mùi tanh nồng của máu tươi hòa lẫn mực xạ.

"Tôi không sao..." Huy thì thầm, giọng anh run lên vì xúc động. "Tôi vừa thấy cô ấy. Lam à... bức tranh lụa đó không chỉ là một bức tranh giấu họa. Nó được vẽ bằng chính máu, tro tóc và tro hương của Cẩm Tú. Cô ấy biết mình sẽ bị thủ tiêu nên đã dùng toàn bộ sinh mệnh và oán niệm để yểm lời nguyền chỉ đường vào trong bức tranh trước khi bước ra khỏi căn phòng này."

Lam sững sờ, bờ môi cô run rẩy. Cô quay nhìn bức tường gỗ cũ kỹ, nơi từng chứng kiến sự cô độc và tuyệt vọng tột cùng của một người con gái hai mươi mốt tuổi trước ngưỡng cửa tử thần.

Lúc này, tiếng bước chân chậm chạp của bà Nhược lại vang lên ngoài hiên. Bà lão bước vào, trên tay bưng một chiếc hộp gỗ trắc nhỏ đã lên nước đen bóng, khóa đồng bên ngoài đã hoen gỉ.

"Cậu Huy, cô Lam..." Bà Nhược khó nhọc bước tới bàn, đặt chiếc hộp gỗ xuống. "Nghe các con nói, tôi biết các con là người có tâm đức. Ba mươi năm nay, tôi giữ cái hộp này dưới đáy rương quần áo của con Tú. Trước cái đêm định mệnh ấy, nó đưa cho tôi chiếc hộp này, dặn rằng nếu sau ba ngày nó không về thì hãy đốt đi. Nhưng tôi... tôi không nỡ. Tôi cứ giữ mãi, coi như một mảnh hồn của nó còn sót lại trên đời."

Bà Nhược run rẩy mở chiếc nắp hộp gỗ trắc.

Bên trong không có vàng bạc hay trang sức quý giá. Chỉ có một chiếc kéo đồng nhỏ, một cuốn sổ ký họa bằng giấy dó đã ố vàng mép, và một mảnh lụa phế phẩm hình chữ nhật dài chừng hai gang tay, được cuộn tròn cẩn thận.

Huy cẩn trọng đón lấy mảnh lụa từ tay bà lão. Khi tháo dải dây gai buộc bên ngoài và trải mảnh lụa ra mặt bàn, mắt Huy mở to.

Đó là một mảnh lụa sa màu trắng ngà, góc trên thêu dở một bông hoa sen trắng bằng chỉ tơ tằm. Nhưng điều khiến Huy và Lam chết lặng là ở góc dưới của mảnh lụa, những nét vẽ bằng mực chu sa đỏ rực—loại mực giống hệt với tầng tranh ẩn của Sương Lam Tây Hồ—đã phác họa một góc bờ hồ uốn lượn.

Bên cạnh nét vẽ là dòng chữ viết tay bằng mực nho nhỏ li ti nhưng vô cùng nắn nót, nét chữ thanh tú của một nữ sinh mỹ thuật“...Dòng nước ngầm từ cống Đầm Trị chảy xiết qua doi đất hoang, giao nhau tại vụng sen Phủ Tây Hồ. Nơi ba dòng nước xoáy tụ, đáy sâu sáu sải tay, đá tảng chôn vùi...”

"Vụng sen Phủ Tây Hồ..." Lam khẽ thốt lên, ngón tay cô run rẩy chỉ vào dòng chữ. "Trùng khớp tuyệt đối với tọa độ trong sổ tay của chú Khiêm! Chú Khiêm đã ghi chép về 'bóng ma đầm sen' chính là khu vực vụng nước sâu phía sau Phủ Tây Hồ!"

Huy không nói lời nào. Ánh mắt nhà nghề sắc bén của anh nhận ra thớ lụa này có sự gồ ghề bất thường ở mặt dưới. Lớp mực chu sa dường như đã thấm đẫm qua mặt sau của tấm lụa mỏng, tạo thành những vệt đậm nhạt loang lổ.

Với linh cảm nghề nghiệp mãnh liệt, Huy khẽ luồn những ngón tay xuống mép dưới, chậm rãi lật ngược mảnh lụa phế phẩm lại.

Khoảnh khắc mặt sau của tấm lụa lộ ra dưới ánh sáng xiên của gian phòng dệt, cả Huy và Lam đều rợn tóc gáy, toàn thân đông cứng như hóa đá.

Ở mặt sau, không phải là những nét phác thảo phong cảnh hay đo đạc thủy văn thông thường.

Trên nền lụa trắng ngà mục rách, được viết bằng một thứ son đỏ sẫm đã ngả màu nâu đen của máu khô—những nét chữ run rẩy, nguệch ngoạc và vội vã như được viết trong cơn hoảng loạn tột cùng ngay trước giờ ly biệt“Hắn muốn dìm cả ấn báu lẫn xác em xuống đáy bùn lạnh.”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.