Chương 5: Bước Ngoặt: Lời Đe Dọa Trong Đêm
Bóng tối của kẻ thủ ác chưa từng tan biến; nó chỉ nấp sau tấm rèm nhung của thời gian, kiên nhẫn chờ đợi kẻ tò mò dám vén màn bí mật.
Ngọn đèn cực tím trên mặt bàn bồi biểu chợt lóe lên một tia sáng xanh xao, run rẩy chập chờn như hơi thở thoi thóp của một sinh linh sắp tàn. Trong không gian đặc quánh mùi trầm hương và ẩm mốc của xưởng Cổ Diệp Trai, ánh sáng tím ma mị rọi xuống tầng lụa chu sa khiến đóa sen tám cánh cùng những dòng tọa độ đo đạc thủy văn ánh lên một màu đỏ sẫm như máu tươi vừa rỉ.
Phan Khắc Huy vẫn đứng bất động bên cạnh Vũ Lam. Bàn tay anh buông thõng bên hông, ngón tay hãy còn vương vệt máu cam khô cứng sau lần kích hoạt tàn niệm ban nãy. Tim anh đập dồn dập từng hồi nặng nề sau lồng ngực. Bên cạnh anh, Lam vẫn đang run rẩy, những giọt nước mắt uất nghẹn vì nỗi oan khuất ba mươi năm của người chú ruột vừa chạm xuống mặt gỗ lim thì lập tức bị luồng khí lạnh buốt trong phòng làm cho đông cứng.
Nhưng rồi, một cảm giác gai rợn bất thường bỗng trườn dọc sống lưng Huy.
Đó không phải là cái lạnh siêu linh từ tàn niệm của Nguyễn Cẩm Tú. Khi một linh hồn hiện diện, không khí xung quanh thường mang theo hơi ẩm nhơm nhớp của bùn đáy hồ và mùi hương hoa ngọc lan bảng lảng, thoang thoảng nỗi bi ai. Còn lúc này, luồng hàn khí đang tràn vào qua khe cửa lại rát buốt, khô khốc và tanh nồng một thứ mùi trần tục: mùi mồ hôi chua loét, mùi kim loại rỉ sét và hơi thở nén chặt đầy sát khí của con người.
Ánh đèn cực tím trên trần nhà lại chớp nháy thêm hai nhịp nữa rồi vụt tắt phụt. Cả gian xưởng phục chế chìm ngập vào bóng đen thăm thẳm.
Lam giật thót, theo phản xạ khẽ thốt lên một tiếng nghẹn ngào trong cổ họng: “Anh Huy...”
“Suỵt!”
Huy nhanh như cắt vươn tay ra, đầu ngón tay thon dài chuẩn xác bịt chặt lấy đôi môi mềm của cô gái. Bàn tay anh lạnh toát nhưng vững chãi như thép nguội. Anh cúi sát tai Lam, hơi thở phả nhẹ đến mức chỉ có hai người nghe thấy: “Đừng cử động. Có người ngoài sân.”
Gian nhà cổ của Cổ Diệp Trai nằm nép mình sâu trong ngõ Thụy Khuê, chung vách với một ngôi đền cổ rêu phong thờ mẫu. Đêm thu muộn Hà Nội ở khúc quanh này vốn dĩ tĩnh mịch đến mức một chiếc lá đa rơi xuống mái ngói cũng có thể nghe rõ mồn một. Thế nhưng vào lúc này, giữa tiếng sương đêm tí tách trên tàu chuối, một âm thanh cực nhỏ, khô khốc và sắc lẹm vừa vang lên từ phía cổng sắt ngoài sânLách cách... cạch.
Đó là tiếng cọ xát của lưỡi cưa thép hoặc một cây xà beng mini đang cẩn thận lách vào giữa hai mắt xích khóa cổng.
Lam lập tức cứng đờ người. Tư duy nhạy bén của một phóng viên điều tra hình sự từng xông xáo qua nhiều vụ án nguy hiểm lập tức kéo cô thoát khỏi cơn chấn động tâm lý. Cô nuốt khan một ngụm nước bọt, gật đầu thật nhẹ vào lòng bàn tay Huy để báo hiệu rằng mình đã hiểu. Huy từ từ buông tay khỏi môi cô, ánh mắt sắc lẹm đảo quanh bóng tối. Đôi mắt người thợ phục chế vốn quen làm việc trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu lập tức thích nghi với màn đêm.
Huy khẽ nhích từng bước chân trên nền gạch Bát Tràng cổ. Anh không mang dép, chỉ đi tất len mỏng, từng bước di chuyển uyển chuyển không phát ra bất kỳ một tiếng động nào. Anh lách qua bức bình phong gỗ chạm thủng, nép mình sát mép cửa liếp nhìn ra khoảng sân gạch mờ sương.
Qua những kẽ hở hẹp của chấn song gỗ, một luồng ánh sáng vàng vọt từ cây đèn đường đầu ngõ hắt vào sân, rọi bóng hai người đàn ông cao lớn đang đứng chôn chân trước cánh cổng sắt.
Cả hai đều mặc áo khoác gió màu đen, đầu trùm mũ len kín mít chỉ chừa hai hốc mắt sâu hoắm, trên tay đeo găng da đen tuyền. Kẻ đứng bên trái thấp hơn một chút, trên tay lăm lăm một chiếc xà beng dẹp bằng thép tôi bóng loáng. Kẻ bên phải cao to, vai rộng bè bè; dưới ánh đèn đường leo lét, Huy nhận ra nơi thắt lưng hắn giắt một chiếc bao da sẫm màu – chuôi một con dao găm dã chiến thò ra ngoài một cách lạnh lùng.
Tên thấp hơn khẽ ấn mạnh tay đòn. Một tiếng rắc đanh gọn vang lên, chốt khóa sắt ngoài cổng đã bị bẻ gãy ngọt xớt.
Hai bóng đen không hề vội vã xông vào. Chúng dừng lại khoảng ba giây, lắng nghe ngóng động tĩnh xung quanh. Nhận thấy khu dân cư vẫn chìm trong giấc ngủ say nồng của đêm sương, chúng đẩy nhẹ cánh cổng sắt đã tra dầu êm ru, lách mình bước qua khoảng sân gạch, hướng thẳng về phía cửa chính của phòng phục chế.
Mục tiêu của chúng rành mạch, dứt khoát đến rợn người.
Huy thụt lùi lại, máu trong người như đông cứng. Chúng không phải là những tên trộm vặt thường mò vào các con ngõ sâu để kiếm chác xe máy hay đồ đồng thờ cúng. Cách chúng di chuyển, sự bình thản đến tàn nhẫn và lộ trình nhắm thẳng vào xưởng tranh chứng minh một sự thật duy nhất: chúng đến đây vì bức Sương Lam Tây Hồ.
Hoàng Định Uyên, hoặc tay chân của lão, đã không thể chờ đợi thêm một ngày nào nữa. Việc Trần Khắc Khoa mang tranh đến đây vào sáng hôm qua có thể chỉ là một phép thử, hoặc việc Lam tìm đến Cổ Diệp Trai đã đánh động mạng lưới tai mắt dày đặc của tập đoàn bất động sản ven hồ.
Huy quay ngoắt lại phía bàn bồi biểu. Trong bóng tối lờ mờ, Lam đã kịp với lấy chiếc máy ảnh và cuốn sổ tay của chú Khiêm nhét sâu vào trong balo dã chiến, đôi mắt sáng rực của cô nhìn anh trừng trừng, vừa căng thẳng tột độ vừa chờ đợi một quyết định.
“Chúng tới vì bức tranh,” Huy thì thào sát tai cô, giọng anh trầm đục nhưng dứt khoát lạ thường. “Nếu để chúng lấy được, mọi bằng chứng về Cẩm Tú và chú cô sẽ vĩnh viễn biến mất.”
“Phải mang theo bức tranh chạy trốn thôi!” Lam thì thầm, bàn tay cô vô thức nắm chặt lấy quai balo.
“Không kịp nữa rồi. Ngõ Thụy Khuê là ngõ cụt hình chữ U, cửa sau thông sang sân sau của đền cổ đã bị khóa bằng then cài gỗ lim ba lớp, mở ra sẽ phát ra tiếng động lớn. Chúng ta vừa bước ra khỏi cửa sau là chúng sẽ nghe thấy ngay.” Huy lắc đầu. Ánh mắt anh nhìn chằm chằm vào tấm lụa Sương Lam Tây Hồ đang nằm yên trên mặt bàn nẹp gỗ.
Tầng lụa chu sa vừa được xông hơi mủ bời lời, lớp keo dán cổ truyền chưa kịp khô hẳn, nếu cuộn thô bạo hoặc để dính nước mưa ngoài trời, thớ lụa ba mươi năm tuổi mục ải sẽ lập tức rách nát, hủy hoại toàn bộ các con số tọa độ định vị dưới đáy hồ.
Bằng mọi giá, phải bảo vệ hiện vật. Đó không chỉ là nguyên tắc nghề nghiệp cao nhất của một thợ phục chế, mà lúc này, bức tranh chính là sinh mệnh, là linh hồn đang rên xiết của một cô gái trẻ gửi gắm vào tay anh.
“Đi theo tôi, tuyệt đối không được phát ra tiếng động.”
Huy nắm lấy cổ tay Lam, kéo cô về phía góc sâu nhất của xưởng tranh. Nơi đó, sát chân tường gạch rêu phong giáp ranh với gian hậu cung của ngôi đền cổ, đặt một chiếc tủ chè khảm ốc xà cừ cũ kỹ. Bên dưới gầm tủ là một khoảng sàn gạch Bát Tràng phẳng phiu, phủ một lớp bụi mỏng.
Huy quỳ một chân xuống, ngón tay anh dò dẫm trên các mạch vữa xám chì. Khi chạm đến viên gạch thứ tư tính từ mép chân tủ, ngón tay Huy ấn mạnh vào một góc vát chìm.
Một tiếng cạch khô khốc vang lên từ cơ quan lẫy lò xo ngầm. Viên gạch Bát Tràng bật lên chừng nửa tấc, để lộ một khe hở vừa đủ để đút bàn tay vào. Huy nhấc bổng tấm nắp gạch ba lớp dày cộp được gia cố bằng khung sắt chữ U lên, để lộ một khoảng không gian đen ngòm bên dưới: hầm sấy ngầm.
Đây là bí mật gia truyền của Cổ Diệp Trai mà Cụ Bùi Trọng Niên đã truyền lại cho Huy khi giao lại xưởng phục chế này. Thời phong kiến, các bậc nghệ nhân kinh kỳ thường xây dựng những căn hầm sấy kín gió bên dưới nền đất nện, lót rơm mục và tro trấu để sấy khô các bản thư họa cổ trong mùa nồm ẩm Hà Nội, đồng thời là nơi cất giấu những báu vật vô giá mỗi khi giặc giã hoặc hỏa hoạn ập đến. Căn hầm chỉ sâu chừng một mét hai, rộng chừng hai mét vuông, hoàn toàn cách ẩm và cách nhiệt nhờ lớp gốm non và vôi nhuyễn bao bọc xung quanh.
“Lam, chui xuống trước đi!” Huy khẽ giục.
Lam nhìn khoảng tối chật hẹp dưới sàn, trong mắt thoáng qua vẻ kinh ngạc trước cấu trúc tinh vi của ngôi nhà cổ, nhưng cô không hề do dự. Cô cởi phăng chiếc balo đưa cho Huy, rồi khéo léo trượt người xuống đáy hầm sấy. Không gian bên dưới phảng phất mùi quế chi, hoa hồi và bột trầm khô ráo, ấm áp lạ thường so với cái lạnh cắt da bên trên.
Huy quay trở lại bàn phục chế. Từng giây trôi qua như nghìn cân treo sợi tóc. Ngoài cửa chính, tiếng mũi xà beng cắm phập vào khe cửa gỗ lim bắt đầu nghiến ken két. Gỗ cổ nứt toác từng thớ giòn rụm.
Huy hít sâu một hơi để ổn định đôi bàn tay đang hơi run rẩy. Anh rút từ ống đựng dụng cụ ra một tờ giấy bản khổ lớn – loại giấy dó bồi thủ công dày dặn, mịn như nhung. Bằng động tác chuẩn xác, nhẹ nhàng tựa như một bác sĩ phẫu thuật đang thao tác trên cơ thể người sống, Huy trải tờ giấy bản lên mặt tầng lụa chu sa để ngăn cách bề mặt ẩm ướt với tầng lụa thủy mặc bên ngoài. Sau đó, anh luồn hai bàn tay xuống mép trục cuốn bằng gỗ trắc, cuộn tròn bức tranh lại một cách chậm rãi, đều lực, không tạo ra bất kỳ một nếp gấp nào.
Từ dưới ngăn kéo phụ của bàn làm việc, Huy lôi ra một chiếc ống đồng hình trụ dài chừng tám mươi phân. Đây là ống đồng phong ấn chuyên dùng để vận chuyển sắc phong triều Nguyễn, hai đầu có nắp ren vặn kín gioăng sáp ong, chống nước và chống cháy tuyệt đối.
Huy trượt cuộn tranh lụa vào lòng ống đồng, vặn chặt nắp ren kim loại. Tiếng ren kim loại nghiến vào nhau phát ra một âm thanh rít nhỏ vừa dứt thì một tiếng rầm chấn động vang lên từ cửa trước!
Cánh cửa gỗ lim của Cổ Diệp Trai đã bị bẩy bung chốt trong. Gió đêm thốc mạnh vào phòng làm bay tung những tờ giấy xuyến chỉ treo trên vách, tạo nên những tiếng phần phật rợn người.
Hai bóng đen đã lọt vào trong xưởng.
Huy không kịp trèo xuống hầm nữa. Anh chỉ kịp quỳ thụp xuống bên miệng hầm, đưa chiếc ống đồng và chiếc balo của Lam xuống cho cô gái đang ngước mắt nhìn lên trong bóng tối: “Cầm lấy. Khóa chốt bên trong lại, đừng mở ra dù có chuyện gì xảy ra!”
“Còn anh thì sao?” Lam hoảng hốt đưa hai tay đỡ lấy chiếc ống đồng nặng trịch, giọng cô lạc đi vì lo lắng.
“Tôi ở lại phân tán sự chú ý của chúng. Nếu cả hai cùng trốn, chúng lục soát thấy hầm thì hết đường chạy.”
Không để Lam kịp phản đối, Huy dùng tay kéo mạnh chiếc nắp gạch Bát Tràng sập xuống. Tiếng lẫy sắt nhảy tách một cái, khớp nối chìm vào mạch vữa hoàn hảo như một mặt sàn nguyên vẹn. Huy vội vã kéo chiếc giỏ mây đựng đầy giẻ lau và bột đá mài che lên trên bề mặt viên gạch ngầm, rồi lách mình trượt ra phía sau bức bình phong gỗ trắc ngăn cách gian làm việc với bàn trà tiếp khách.
Vừa lúc đó, ánh đèn pin cực mạnh của hai kẻ đột nhập quét loang loáng khắp gian phòng.
Luồng sáng trắng lạnh lẽo cắt ngang màn đêm, lướt qua những bức tranh phong cảnh hồ Tây dang dở treo trên vách, soi rõ những bình gốm Chu Đậu, đĩa men lam Huế và những nghiên mực cổ nằm ngay ngắn trên kệ gỗ.
Một giọng nói khàn đặc, the thé cất lên sau lớp vải bịt mặt: “Tìm kỹ giá phục chế và hòm tài liệu. Lão Uyên dặn chỉ cần bức tranh lụa và bất kỳ bản sao chép nào. Không được để sót một sợi chỉ!”
“Rõ!” Tên cao to gầm gừ một tiếng trong cổ họng.
Nấp sau khe chạm thủng của bức bình phong, Huy nín thở, hai hàm răng cắn chặt vào nhau. Trái tim anh đập mạnh đến mức dường như muốn xé toạc lồng ngực. Anh nhìn thấy rõ mồn một từng hành động của hai tên sát thủ qua ánh đèn pin lấp lóa.
Tên thấp cầm xà beng tiến thẳng đến bàn phục chế bằng gỗ lim. Khi nhìn thấy trên mặt bàn chỉ còn lại vài khay sứ đựng nước thảo mộc và giá nẹp lụa trống trơn, mắt hắn lóe lên tia giận dữ.
“Mẹ kiếp! Bức tranh không có ở đây!” Tên thấp gầm lên.
“Lục soát chung quanh! Chắc chắn thằng thợ phục chế giấu trong phòng này. Nó không mang ra ngoài được đâu!”
Không một chút chần chừ, tên cao to rút con dao găm sáng loáng bên hông ra. Hắn lao tới góc phòng, nơi đặt giá treo những tác phẩm phục chế hoàn thiện của các khách hàng khác. Lưỡi dao sắc lẹm vung lên tàn nhẫn, rạch nát những bức tranh giấy dó quý giá từ thời Lê Trung Hưng, xé toạc các bức tranh sơn mài cổ một cách điên cuồng.
Từng mảnh lụa, mảnh giấy cổ vô giá bay lả tả trong không trung như những cánh bướm gãy cánh rơi xuống sàn nhà. Nhìn cảnh tượng ấy, ruột gan Huy quặn thắt như có ngàn mũi dao cào xé. Đối với một người trân quý từng sợi tơ, từng nét mực cổ như máu thịt của mình, sự tàn phá dã man này là một sự sỉ nhục tột cùng.
Những kẻ này hoàn toàn không quan tâm đến nghệ thuật, không thèm đoái hoài đến những món cổ vật trị giá hàng trăm triệu đồng đang bày biện ngay trước mắt. Tiền mặt để trong chiếc tráp gỗ hé mở trên kệ sách bị chúng gạt phăng xuống đất, tiền polymer vương vãi khắp nơi nhưng chúng chẳng thèm liếc nhìn lấy một lần.
Đúng như dự đoán của Huy: mục tiêu duy nhất của chúng là tiêu hủy bản cáo trạng bằng máu, xóa sạch mọi dấu vết của vụ thảm sát ba mươi năm trước!
Tên thấp lao tới bàn làm việc của Huy. Bằng một cú hất tay tàn bạo, hắn lật tung chiếc bàn gỗ lim nặng cả tạ. Toàn bộ khay mực xạ, bát bột chu sa đỏ thẫm, bình thủy tinh đựng cồn tẩy mốc và những chiếc kính lúp quang học rơi xuống sàn gạch vỡ toang, phát ra những tiếng va đập chát chúa. Mực đen và chu sa đỏ hòa lẫn vào nhau, loang lổ khắp mặt sàn như một vũng máu đen ngòm.
“Không có! Cả máy ảnh và tài liệu ghi chép cũng biến mất rồi!” Tên thấp thở hổn hển, giọng nói bắt đầu lộ rõ vẻ sốt ruột.
Tên cao to dừng tay, ánh đèn pin trong tay hắn lia một vòng tròn chậm rãi quanh phòng. Vệt sáng quét qua kệ sách, góc tủ chè... và rồi dừng lại ngay tại bức bình phong gỗ trắc nơi Huy đang ẩn nấp.Bóng của Huy in mờ mờ qua những khe hở chạm hình tùng hạc.
“Có chuột!” Tên cao to rít lên qua kẽ răng. Hắn siết chặt cán dao găm, bước chân sừng sững tiến về phía bức bình phong.
Từng bước chân của hắn nặng nề, dằn từng nhịp xuống mặt sàn gỗ như tiếng chuông báo tử điểm nhịp trôi của số phận. Khoảng cách giữa hắn và Huy chỉ còn lại ba bước chân... hai bước chân...
Huy siết chặt nắm tay, các ngón tay rà nhẹ vào túi áo bà ba. Anh không có vũ khí sát thương, nhưng trong túi áo anh có một chiếc dùi sắt phục chế dùng để đột lỗ bồi tranh – một mũi thép tôi nhọn hoắt dài chừng mười lăm phân. Nếu phải đối đầu sinh tử, anh sẵn sàng đâm thẳng vào yết hầu kẻ thủ ác để bảo vệ bí mật dưới hầm ngầm.
Thế nhưng, chênh lệch thể lực quá lớn. Tên sát thủ to lớn như một con gấu rừng, được đào tạo bài bản cho những vụ thanh trừng bẩn thỉu. Đối đầu trực diện đồng nghĩa với cái chết.
Đúng vào khoảnh khắc lưỡi dao găm của tên sát thủ vừa giơ lên, chuẩn bị đâm xuyên qua tấm bình phong gỗ, thì từ dưới gầm sàn gạch – nơi miệng hầm sấy ngầm – vang lên một âm thanh cực nhỏ: Cạch!
Đó là tiếng kim loại va chạm có chủ ý.
Vũ Lam ở dưới hầm đã nhận ra tình thế ngàn cân treo sợi tóc của Huy! Cô không thể trơ mắt nhìn anh bị sát hại, nhưng cô cũng không thể mở nắp hầm để lộ vị trí bức tranh. Cô đã dùng chiếc khóa bấm trên dây đeo balo gõ mạnh vào thanh sắt chữ U của miệng hầm để tạo ra một điểm phân tán chú ý.
Âm thanh đó lập tức khiến tên cầm dao khựng lại. Hắn quay phắt đầu về phía góc tủ chè: “Âm thanh ở dưới đất!”
Tên cầm xà beng lập tức lao về phía chiếc tủ chè khảm ốc.
Không được! Chúng sẽ phát hiện ra hầm sấy! – Đầu óc Huy nổ tung.
Không còn thời gian để tính toán thiệt hơn. Huy nhớ đến một chi tiết quan trọng mà anh vừa cải tạo cho Cổ Diệp Trai cách đây hai tháng theo yêu cầu của ban quản lý di tích phường: đường dây báo động liên thông với ngôi đền cổ bên cạnh!
Vì ngôi đền cổ chứa nhiều pho tượng đồng quý giá thời Hậu Lê thường xuyên bị kẻ gian dòm ngó, người thủ từ già của đền đã cùng Huy kéo một sợi dây cáp ngầm nối hệ thống còi hú phòng cháy và chuông đồng lớn của đền với một công tắc khẩn cấp đặt ngay sau bức hoành phi "Hàn Mặc Lưu Hương" treo trên tường gian khách.
Huy không lùi nữa. Lợi dụng lúc cả hai tên sát thủ đều đang cúi rạp người soi đèn pin xuống mặt sàn góc tủ chè, anh bất thần vung chân đạp tung bức bình phong gỗ trắc!
Tấm bình phong nặng nề đổ ập xuống lưng tên cầm xà beng, đè nghiến hắn xuống sàn nhà trong tiếng thét bất ngờ.
“Thằng ranh con!” Tên cầm dao gầm lên, xoay phắt người lại, mũi dao găm xé gió đâm thẳng vào ngực Huy!
Huy nghiêng người né tránh trong gang tấc. Lưỡi dao bén ngọt rạch toạc lớp áo đũi của anh, để lại một vệt xước rát bỏng trên bắp tay trái, máu tươi lập tức thấm ướt vạt áo. Nhưng Huy không hề chớp mắt. Anh dùng toàn bộ sức nặng cơ thể bình sinh của mình lao thẳng về phía bức tường gạch phía sau, giơ tay giật phăng chiếc dây giật kim loại giấu sau mép khung bức hoành phi cổ.
Tách!
Một giây tĩnh lặng nghẹt thở trôi qua.
Và rồi, cả không gian u tịch của ngõ Thụy Khuê nổ tung!
Chiếc còi báo động công suất lớn gắn trên nóc đền cổ rít lên những hồi chói tai, xé toạc màn sương đêm tĩnh mịch: Ooooo... ooooo... ooooo!
Đồng thời, hệ thống ròng rọc cơ học kích hoạt quả chùy gỗ nện thẳng vào quả chuông đồng ngàn cân treo trên gác chuông của ngôi đền. Tiếng chuông đồng rền vang: ĐOONG! ĐOONG! ĐOONG! – từng tiếng một dồn dập, uy nghiêm, chấn động cả mặt nước Hồ Tây cách đó không xa.
Âm thanh đinh tai nhức óc cùng tiếng chuông báo động tâm linh vang dội như tiếng sấm sét giữa đêm giông bão. Lập tức, những tiếng hô hoán của các hộ dân xung quanh bắt đầu rộ lên “Có trộm! Đền có trộm rồi bà con ơi!”
“Bật đèn lên! Khóa hai đầu ngõ lại!”
“Báo công an phường mau!”
Tiếng chó sủa ran khắp đầu ngõ cuối xóm, ánh đèn neon từ các căn nhà tầng xung quanh đồng loạt bật sáng rực rỡ, tiếng bước chân huỳnh huỵch của thanh niên dân phòng và người dân Thụy Khuê bắt đầu dồn về phía xưởng tranh.
Kế hoạch đột nhập âm thầm của hai tên sát thủ đã hoàn toàn phá sản.
“Mẹ kiếp! Rút mau!” Tên cầm dao gắt gỏng, mắt hắn đỏ ngầu hung quang nhìn Huy đầy căm hận. Hắn biết chỉ cần nấn ná lại thêm một phút, cả con ngõ chữ U này sẽ bị người dân phong tỏa, chúng sẽ không còn đường thoát thân.
Tên thấp vội vã đội chiếc bình phong đang đè trên người ra, khập khiễng bò dậy. Trước khi tháo chạy, tên cầm dao trừng trừng nhìn Huy, gằn từng tiếng qua lớp vải đen: “Mày sống không qua nổi mùa thu này đâu, thằng thợ vẽ!”
Nói rồi, hai bóng đen quay đầu, tháo chạy thục mạng ra khỏi khung cửa gỗ tan hoang, lách mình qua cánh cổng sắt rồi biến mất hút vào màn sương mù dày đặc đang cuộn tròn trên mặt ngõ Thụy Khuê.
Tiếng còi hú và tiếng chuông đồng vẫn tiếp tục ngân vang từng hồi chấn động.
Trong gian xưởng ngập ngụa mùi khói, mùi chu sa và vụn gỗ vỡ nát, Huy đứng tựa lưng vào bức tường gạch lạnh ngắt, hơi th* d*c từng cơn nặng nhọc. Cánh tay trái của anh buốt rát, máu từ vết thương rỉ qua kẽ tay, nhỏ từng giọt tí tách xuống nền gạch Bát Tràng. Cơn sốt nhẹ do di chứng của lần tàn niệm ban nãy kết hợp với sự căng thẳng tột độ khiến đầu óc anh hơi choáng váng.
Một tiếng cạch vang lên từ góc tủ chè.
Viên gạch ngầm bật mở. Tấm nắp hầm được đẩy tung sang một bên, Vũ Lam vội vã trèo lên khỏi lòng đất. Gương mặt cô trắng bệch, tóc tai dính đầy bụi tro, trên tay vẫn ôm chặt chiếc ống đồng phong ấn chứa bức tranh lụa và chiếc balo tài liệu.
“Anh Huy!” Lam lao tới, nhìn thấy vệt máu đỏ tươi loang trên tay áo anh, mắt cô mở to vì kinh hoàng. “Anh bị thương rồi!”
“Tôi không sao... chỉ là vết xước ngoài da thôi.” Huy khẽ lắc đầu, giọng nói khàn đặc nhưng ánh mắt đã lấy lại được sự bình tĩnh cố hữu. Anh nhìn chiếc ống đồng vẫn nguyên vẹn trên tay cô, một hơi thở phào nhẹ nhõm vô hình thoát ra từ lồng ngực. “Bức tranh... vẫn an toàn chứ?”
“Nó an toàn. Không suy suyển một li nào.” Lam nghẹn ngào, cô vội vã đặt chiếc ống đồng xuống chiếc bàn con còn sót lại, rút từ trong túi áo ra chiếc khăn tay sạch, cẩn thận quấn chặt quanh vết rách trên bắp tay Huy để cầm máu. Đôi bàn tay của nữ phóng viên vốn sắc sảo trên bàn phím lúc này đang run lên nhè nhẹ vì vừa trải qua ranh giới giữa sự sống và cái chết.
Bên ngoài, tiếng bước chân của bác thủ từ đền cổ và mấy người dân phòng đang chạy xộc vào sân: “Chú Huy ơi! Có sao không chú Huy? Trộm nó chạy ngả nào rồi?”
“Bác cứ gọi công an phường giúp cháu, chúng nó chạy ra phía đường Thụy Khuê rồi!” Huy cất giọng nói vọng ra ngoài cửa, cố gắng giữ giọng thật bình thản để trấn an chòm xóm.
Lam nhìn quanh gian xưởng phục chế tan hoang. Cổ Diệp Trai – nơi từng thanh tịnh, trang nhã như một góc lánh đời của người nghệ sĩ kinh kỳ – giờ đây trông chẳng khác nào một chiến trường đổ nát. Những bức tranh cổ bị chém nát vụn, bàn ghế lật nhào, mực xạ và chu sa loang lổ như máu nhuộm bến nước.
Một sự phẫn nộ tột cùng dâng lên trong đáy mắt người nữ phóng viên: “Lũ khốn nạn... Chúng dám ra tay giữa ban ngày ban mặt thế này sao? Chúng coi thường pháp luật đến mức này ư?”
“Chúng không coi thường pháp luật,” Huy cúi đầu, ánh mắt anh nhìn chăm chú xuống nền gạch vỡ vụn dưới chân mình. “Chúng chỉ sợ hãi. Đóa hoa sen chu sa và những con số của chú cô đã chọc trúng tử huyệt của chúng. Kẻ đứng sau bức tranh này đang phát điên lên vì sợ chân tướng bị phơi bày.”
Trong lúc nói chuyện, bước chân của Huy vô tình đạp phải một vật thể kim loại cứng cáp nằm khuất dưới chân chiếc ghế đẩu bị gãy.
Một tiếng keng thanh mảnh vang lên.
Huy khựng lại. Anh cúi người xuống, gạt những mảnh gỗ lim vỡ nát sang một bên.
Trên nền gạch dính đầy bột chu sa đỏ thẫm, một vật thể nhỏ bằng kim loại sáng bóng đang nằm trơ trọi. Đó là vật rơi ra từ người của một trong hai tên sát thủ lúc bị chiếc bình phong đè ngã.
Huy nhặt nó lên.
Đó là một chiếc bật lửa kim loại cao cấp mạ bạc, dày bản và nặng trịch trong lòng bàn tay. Thiết kế của nó mang phong cách cổ điển của châu Âu, nhưng điều khiến đồng tử của Huy co rút lại mãnh liệt chính là họa tiết chạm khắc tinh xảo trên thân bật lửa Một con rồng cuộn mình trong mây – hoa văn gia huy đặc trưng thời Nguyễn, được chạm nổi bằng kỹ thuật kim hoàn bậc thầy. Và ở góc dưới của thân bật lửa, một vệt dầu hôi chuyên dụng của dòng bật lửa đắt tiền này bốc lên một mùi xăng thơm nồng nặc, cay xè nơi cánh mũi.
Chiếc bật lửa này tuyệt đối không phải là thứ mà những tên du côn đầu đường xó chợ có thể sở hữu.
Nó là vật phẩm độc bản, được đặt làm riêng cho những kẻ thuộc giới thượng lưu quyền quý, những kẻ có thú chơi đồ cổ cầu kỳ và tôn sùng những biểu tượng quyền lực vương giả.
Một hình ảnh kinh hoàng trong cơn ác mộng tàn niệm đêm qua bỗng nhiên vụt hiện lại trong tâm trí Huy rõ mồn một như một tia chớp rạch ngang trời Trong căn phòng tối tăm của ngôi biệt thự cổ ven hồ năm 1996, bàn tay của kẻ sát nhân siết chặt sợi dây quanh cổ người thiếu nữ... trên ngón tay trỏ của bàn tay tàn độc ấy đeo một chiếc nhẫn ngọc bích, và trên mặt ngọc cũng chạm khắc đúng một đồ án: rồng cuộn trong mây.
Gia huy của dòng họ Hoàng.
Cầm chiếc bật lửa vương mùi dầu hôi nồng nặc trên tay, ngón tay của Phan Khắc Huy từ từ siết chặt lại đến mức các khớp xương trắng bệch.
Một cảm giác ớn lạnh từ từ bò khắp da thịt anh, ngấm sâu vào từng tế bào tủy sống. Vụ án này không còn là những tiếng thở dài oán hận của những linh hồn đã khuất ba mươi năm trước nữa.
Lưỡi hái tử thần của những kẻ thủ ác bằng xương bằng thịt đang sống nhởn nhơ trên danh vọng đã thực sự kề sát vào cổ họng họ, sẵn sàng chém xuống bất cứ lúc nào trong đêm sương u tịch của Hồ Tây.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
