Chương 2: Người Tìm Dấu Vết Quá Khứ

Đúng vào khoảnh khắc một tiếng thở dài buốt giá vô hình như vọng lên từ đáy nước sâu của Hồ Tây cách đó vài cây số, xuyên qua màn sương đêm mịt mùng đang bủa vây đất kinh kỳ, Vũ Lam bỗng khẽ rùng mình.

Một cơn ớn lạnh kỳ quái bất chợt chạy dọc sống lưng cô, tựa hồ có một luồng khí âm hàn vừa lướt thấu qua gáy, mang theo mùi ngai ngái nồng nặc của bùn lầy và rêu mục dạt vào mép nước. Cảm giác sắc lạnh ấy chân thực đến mức khiến da gà toàn thân cô dựng đứng. Lam khẽ giật bắn người, buông rời ngón tay khỏi bàn phím máy tính, theo bản năng quay ngoắt lại nhìn ra sau lưng.

Phòng làm việc của Ban Phóng sự Điều tra thuộc báo Thời Luận hoàn toàn vắng lặng. Đã quá một giờ sáng. Cả tòa nhà năm tầng trên phố Lý Thường Kiệt chìm sâu vào giấc ngủ u tịch, chỉ duy nhất ô cửa kính góc phòng tầng ba này còn hắt ra luồng sáng vàng vọt, cô độc như một đốm lân tinh giữa lòng Hà Nội mùa đông buốt giá. Gió bấc rít từng hồi thê thiết ngoài ban công, đập liên hồi vào khung cửa gỗ lim cũ kỹ, làm rung rinh lớp rèm vải thô ngả màu thời gian. Không có ai ở đó cả. Chỉ có bóng của chính cô đổ dài trên sàn gạch hoa cổ, xiêu vẹo và đơn độc.

Lam đưa tay xoa nhẹ hai bờ vai mỏi nhừ, kéo sát cổ chiếc áo khoác dã chiến màu xanh rêu đã sờn mép. Hơi ấm nhân tạo phả ra từ chiếc máy sưởi dầu góc phòng chẳng thể nào xua tan được cái lạnh thấu tủy đang từ từ xâm chiếm các đầu ngón tay. Trên bàn làm việc bừa bộn, tách cà phê đen đặc đã nguội ngắt từ lâu, mặt nước đen sánh phản chiếu gương mặt thanh tú với đôi mắt sáng quắc nhưng quầng thâm đã hằn sâu vì nhiều đêm thức trắng.

Mái tóc ngắn ngang vai ôm lấy đường quai hàm cương nghị, ánh nhìn của Lam lại bị hút chặt vào tập hồ sơ bọc bìa cáctông ngả vàng nằm ngay ngắn dưới ánh đèn bàn. Trên gáy bìa, dòng chữ viết bằng mực cửu long đã phai nhạt thành màu xám tro: “Hồ sơ lưu trữ vụ án: Vũ Đình Khiêm – Tháng 10 năm 1996”.

Ba mươi năm. Đúng tròn ba thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày thi thể của chú ruột cô — cựu điều tra viên kỳ cựu của Đội Cảnh sát Hình sự Hà Nội — được người dân vớt lên từ vụng nước sâu ven đầm sen Quảng An.

Vào mùa thu năm 1996 định mệnh ấy, Vũ Lam còn chưa có mặt trên cõi đời này. Cô sinh ra vào những năm đầu của thiên niên kỷ mới, lớn lên hoàn toàn trong cái bóng u buồn bao trùm lên căn nhà cũ ở phố Hàng Bún. Chú Khiêm trong tâm trí Lam không phải là một ký ức trực tiếp, mà là một bức chân dung đóng khung gỗ gụ trên bàn thờ gia tiên, nơi nén hương trầm luôn đỏ quạnh mỗi chiều đông giá rét. Đó là hình ảnh một người đàn ông mặc quân phục cảnh sát, vầng trán cao rộng, sống mũi gãy kiên nghị và đôi mắt sáng ngời chính trực — người chú tài hoa bạc mệnh mà mẹ cô mỗi lần nhắc đến đều nghẹn ngào rơi nước mắt.

Kết luận điều tra năm ấy vỏn vẹn trong vài trang giấy đánh máy bằng máy chữ cơ khí sắc cạnh, mực in đã nhòe mờ: Tai nạn đuối nước trong khi thi hành nhiệm vụ tuần tra độc lập do kiệt sức và chuột rút.

Vụ việc nhanh chóng khép lại giữa những năm tháng đất nước đang chuyển mình dữ dội thời kỳ đầu Đổi Mới. Gia đình cô nhận về một tấm huân chương chiến công hạng ba, vài khoản tiền trợ cấp ít ỏi theo chế độ và một cỗ quan tài bọc vải đỏ đẫm mùi nước hồ nồng nặc. Người ta an ủi gia đình rằng đó là sự hy sinh rủi ro trong khi làm nhiệm vụ; dư luận lắng xuống, hồ sơ bị niêm phong và đẩy sâu vào góc tối của kho lưu trữ.

Thế nhưng, mẹ của Lam — người chị dâu từng chăm bẵm chú Khiêm từ thuở chú mới chập chững bước chân vào ngành công an — chưa bao giờ tin vào bản kết luận lạnh lùng ấy. Bà từng kể lại cho Lam trong những đêm mưa dầm dề: đúng bốn mươi tám tiếng trước khi thi thể chú được phát hiện dạt vào bờ lau sậy ven hồ, chú Khiêm đã ghé qua nhà trong bộ dạng ướt sũng, gương mặt tái nhợt và ánh mắt căng thẳng tột độ. Chú không kịp ngồi xuống uống chén trà nóng, chỉ vội vã nắm chặt lấy tay chị dâu, thì thào dặn dò bằng một giọng điệu trĩu nặng dự cảm chẳng lành: “Chị dâu giữ kín chiếc hộp sắt dưới đáy tủ giúp em. Nếu em có mệnh hệ nào, tuyệt đối không được tin vào bất cứ bản kết luận nào nói em sơ ý hay đuối nước. Em đang chạm vào một ổ quỷ... và chúng sẽ không để em yên.”

Sau đêm đó, chú Khiêm vĩnh viễn không bao giờ trở về nữa.

Chiếc hộp sắt đựng bánh quy hoen gỉ ấy đã được mẹ Lam cất kỹ dưới đáy tủ gỗ gụ suốt hơn hai mươi năm trời, qua bao mùa mưa ẩm và những lần dọn nhà gian nan. Mẹ cô gìn giữ nó như một báu vật linh thiêng, tuyệt đối không cho ai đụng tới, cho đến ngày Lam tốt nghiệp thủ khoa Học viện Báo chí và Tuyên truyền, chính thức nhận tấm thẻ nhà báo tác nghiệp đầu tiên trong đời cách đây ba năm. Khi trao chiếc hộp vào tay cô con gái hai mươi ba tuổi đầy nhiệt huyết, mẹ cô chỉ rơi nước mắt bảo: “Đời mẹ phận đàn bà yếu đuối, chỉ biết ôm mối oan của chú mà khóc. Giờ con đã là nhà báo, mẹ trao lại cho con. Hãy dùng ngòi bút và sự thật để trả lại danh dự cho chú con.”

Lam hít một hơi thật sâu, với tay mở chiếc hộp sắt đặt bên cạnh chân bàn.

Bên trong không có tài liệu hành chính quy chuẩn nào, chỉ có một cuốn sổ tay công tác khổ A6 bọc da đen đã mòn vẹt bốn góc, lộ cả lớp cốt bìa ép xơ xác bên trong. Lam nâng niu cuốn sổ bằng cả hai tay, cẩn trọng như một nhà khảo cổ đang tiếp xúc với mảnh di chỉ mỏng manh nghìn năm tuổi. Đáng chú ý nhất là ở góc dưới bìa da phía sau, một vệt máu khô hình bán nguyệt in hằn sâu vào thớ da thuộc, ba mươi năm qua đã chuyển sang màu nâu đen xỉn quánh của rỉ sắt. Đó là vết máu của chú cô, vương lại trong đêm định mệnh trước khi bị làn nước hồ nuốt chửng.

Cô lật từng trang giấy dó ngả vàng, mùi ẩm mốc của thời gian quyện với mùi da thuộc cũ xộc thẳng vào khứu giác. Từng nét chữ viết tay rắn rỏi, gãy gọn bằng bút mực Hồng Hà của một trinh sát hình sự kỳ cựu hiện ra dưới ánh đèn bàn. Lam đã đọc đi đọc lại cuốn sổ này không dưới một trăm lần kể từ ngày nhận nó từ tay mẹ. Cô thuộc lòng từng dấu phẩy, từng ký hiệu viết tắt của ngành công an, nhưng mỗi lần mở ra, lồng ngực cô vẫn thắt lại bởi linh cảm nghề nghiệp mách bảo rằng mình vẫn đang bỏ sót một mắt xích cốt tử nào đó.

Các ghi chép rời rạc trong tháng 9 và tháng 10 năm 1996 xoay quanh hai chuyên án song song mà chú Khiêm đang bí mật theo dấu độc lập, dường như không thông qua báo cáo chính thức với ban chỉ huy“Ngày 12/9/1996: Nhận tin báo từ cơ sở mật. Lô hiện vật triều Nguyễn chuyển từ kho di sản Huế ra Hà Nội phục vụ triển lãm quốc tế có dấu hiệu bị đánh tráo tinh vi. Hai chiếc bát sứ men lam ngự dụng thời Thiệu Trị và một ấn đồng thời Minh Mạng thực chất là đồ phục chế bằng bột đá trộn nhựa tổng hợp, kỹ thuật đổ khuôn tráng men giả cổ đạt mức thượng thừa. Kẻ ra tay phải là bậc thầy phục chế cổ vật hoặc có tay trong am tường tuyệt đối quy trình kiểm kê hiện vật của bảo tàng.”

“Ngày 28/9/1996: Nữ sinh Nguyễn Cẩm Tú, 21 tuổi, sinh viên năm cuối khoa Lụa và Sơn mài – Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội mất tích bí ẩn sau khi rời xưởng thực hành ký túc xá. Đáng chú ý: Tú là con gái út của nghệ nhân dệt lụa Nguyễn Văn Hùng tại làng Vạn Phúc. Nguồn tin trinh sát cho biết Tú có quan hệ tình cảm mờ ám với một nhân vật cộm cán trong giới buôn cổ vật ngầm Hà thành, một kẻ giàu lên nhanh chóng sau thời mở cửa và thường xuyên lui tới các buổi đấu giá kín ven hồ.”

“Ngày 05/10/1996: Tìm thấy mối liên kết kinh hoàng. Cẩm Tú không đơn thuần là một nữ sinh vẽ tranh lụa tài hoa. Nàng nắm giữ bí thuật dệt lụa tơ sống cổ truyền của dòng họ và kỹ thuật pha mực xạ gia truyền có thể bảo tồn hàng thế kỷ. Lô bảo vật triều Nguyễn bị tráo đổi không dừng lại ở đồ gốm sứ. Một chiếc rương sắt chứa ấn tín hoàng gia và bản hải đồ cổ trục vớt từ đáy biển miền Trung đã biến mất khỏi kho lưu trữ tư nhân của một nhà sưu tầm họ Hoàng. Cẩm Tú đã bị ép vẽ lại bản sơ đồ tọa độ đó trên lụa. Nàng đang gặp nguy hiểm chết người. Phải tìm ra nàng trước khi bọn chúng ra tay bịt đầu mối.”

Trang nhật ký dừng lại ở ngày 14 tháng 10 năm 1996 — hai ngày trước khi thi thể chú Khiêm dạt vào bến nước đầm sen“Chúng đang theo dõi tôi ráo riết. Chiếc xe Uoát biển số giả lượn quanh ngõ nhà ba lần trong đêm. Có bàn tay của cấp trên nhúng chàm che chắn cho đường dây này. Bức tranh lụa là chìa khóa duy nhất. Tú đã giấu tọa độ vào tầng mực chìm. Kẻ đeo nhẫn chim ưng... hắn không phải người, hắn là loài ác quỷ...”

Chữ viết ở những dòng cuối cùng nguệch ngoạc, run rẩy dữ dội. Ngòi bút thép cày rách mặt giấy dó như thể người viết đang phải gồng mình chống chọi với cơn hoảng loạn tột cùng hoặc vừa trải qua một cuộc vật lộn sinh tử. Sau dòng chữ ấy là những khoảng trắng lạnh ngắt, kéo dài đến tận trang cuối của cuốn sổ.

Lam chống cằm, ngón tay gõ nhịp đều đặn lên mặt bàn kính. “Kẻ đeo nhẫn chim ưng”, “bức tranh lụa giấu tọa độ”, “Nguyễn Cẩm Tú”. Ba mươi năm trước, công nghệ kỹ thuật hình sự còn sơ khai, việc giám định mẫu vi vết hay đối chiếu ADN còn là điều xa xỉ. Những kẻ thủ ác đã tính toán quá chu toàn, dàn dựng một vụ tai nạn đuối nước do chuột rút hoàn hảo để vùi dập toàn bộ chân tướng xuống đáy bùn đen Hồ Tây.

Cô đưa đầu ngón tay cái miết nhẹ dọc theo sống da của cuốn sổ, lặp đi lặp lại như một thói quen mỗi khi suy nghĩ bế tắc. Bất chợt, một cảm giác cồm cộm kỳ lạ gợn lên dưới đầu ngón tay nơi khe tiếp giáp giữa lớp da bọc bên ngoài và tấm bìa lót cáctông phía sau gáy sổ.

Lam khựng lại. Tim cô khẽ giật một nhịp. Đôi mắt sắc sảo của cô nheo lại đầy cảnh giác.

Đoạn gáy sổ này dày hơn bình thường khoảng một milimet. Nếu không phải là người tỉ mỉ sờ nắn từng thớ da, tuyệt đối không thể phát hiện ra điểm dị thường này.

Lam lập tức với lấy chiếc đèn bàn, kéo sát xuống mặt kính. Cô mở ngăn kéo tác nghiệp, lấy ra chiếc nhíp gắp vi mạch và chiếc dao trổ mũi nhọn chuyên dùng để cắt dán ảnh báo chí. Bằng đôi bàn tay khéo léo và chuẩn xác của một phóng viên điều tra dạn dày thực địa, Lam cẩn thận cạy nhẹ mép keo bồi cổ truyền đã khô khốc và giòn vụn ở đáy gáy sổ.

Từng vụn keo nâu rơi lả tả xuống mặt bàn. Một khe hở hẹp, sâu chừng vài centimet lộ ra giữa lớp da và bìa ép.

Bên trong khe hẹp ấy, một mảnh giấy nhỏ gấp làm tư nằm im lìm suốt ba thập kỷ qua.

Tim Lam đập thình thịch vào lồng ngực. Cô nín thở, dùng đầu nhíp sắt kẹp chặt lấy góc mép giấy, từ từ rút nó ra ngoài. Mảnh giấy ố vàng như màu da người ốm, giòn rụm đến mức chỉ cần một cử động thô bạo cũng có thể khiến nó vỡ vụn thành tro bụi. Lam nhẹ nhàng dùng hai đầu ngón tay trải phẳng mảnh giấy lên tấm kính rọi tài liệu.

Đó là một mảnh cắt bài báo cũ từ tờ nội san của giới mỹ thuật thủ đô, xuất bản vào hạ tuần tháng 9 năm 1996. Dưới dòng tin ngắn về cuộc thi sáng tác tranh lụa chào mừng mùa thu Hà Nội là một bức ảnh đen trắng chụp lại bản phác thảo góc một bức tranh phong cảnh Tây Hồ.

Dù chất lượng in ấn thời bao cấp còn thô ráp với những hạt chì đen nhòe nhoẹt, nhưng bút pháp phóng khoáng đầy ma mị của tác giả vẫn hiển hiện rõ mồn một: một góc đầm sen xơ xác trong sương sớm mùa thu, những cọng sen gãy gục chĩa lên trời như những cánh tay tuyệt vọng đang giãy giụa, phía xa xa là mặt nước mờ mịt khói sóng với một con thuyền nan trôi dạt vô định không bóng người.

Dưới góc bức ảnh in một dòng chú thích ngắn ngủi: “Tác phẩm dự thi 'Sương Lam Tây Hồ' – tác giả: Nguyễn Cẩm Tú (sinh viên năm thứ tư khoa Lụa).”

Lam nhìn trừng trừng vào dòng chữ in nghiêng.

Sương Lam Tây Hồ.

Cái tên này như một tia sét rạch ngang qua màn đêm u tối trong tâm trí cô. Ký ức của hai ngày trước lập tức ùa về rõ mồn một. Khi đó, Lam đang tham gia tác nghiệp bên lề cuộc họp báo giới thiệu chuỗi sự kiện văn hóa nghệ thuật mùa đông tại một khách sạn quốc tế ven đường Quảng An. Trong lúc đứng đợi phỏng vấn ở sảnh trà, cô đã tình cờ nghe lỏm được cuộc trò chuyện thì thầm đầy vẻ bí hiểm giữa hai tay buôn đồ cổ có tiếng ở đất Hà thành.

Họ xì xào bàn tán về một kiệt tác tranh lụa khuyết danh thời kỳ Đổi Mới mang tên Sương Lam Tây Hồ, tác phẩm vốn được xem là đã biến mất vĩnh viễn trong một vụ hỏa hoạn bí ẩn ba mươi năm trước, nay bỗng nhiên tái xuất giang hồ. Tin đồn rỉ tai nhau rằng bức tranh đang được một đại gia giấu mặt cho phục chế khẩn cấp để đưa ra sàn đấu giá nghệ thuật quốc tế vào cuối năm.

Lam lập tức xoay người về phía chiếc máy tính xách tay, mười đầu ngón tay lướt thoăn thoắt trên bàn phím cơ. Cô truy cập vào một diễn đàn ngầm chuyên trao đổi, thẩm định cổ vật và tranh quý của giới sưu tầm tư nhân — nơi cô đã phải mất gần nửa năm trời tạo dựng danh tính giả để thu thập tư liệu cho loạt bài điều tra về nạn buôn lậu di sản văn hóa.

Trên thanh công cụ tìm kiếm nội bộ, Lam gõ cụm từ khóa: “Sương Lam Tây Hồ”.

Chỉ sau vài giây xử lý, hàng loạt bài đăng thảo luận kín từ hai tuần trở lại đây hiện ra trên màn hình. Giới chơi tranh cổ Hà thành đang xôn xao trước một nguồn tin rò rỉ có độ xác thực cực cao: Bức tranh lụa Sương Lam Tây Hồ nguyên bản thực sự đã được một quỹ bảo tồn nghệ thuật tư nhân mua lại từ một bộ sưu tập ở nước ngoài, và hiện đang trong quá trình bồi biểu, tẩy ố cấp tốc tại một xưởng thủ công truyền thống ở Hà Nội.

Đặc biệt, trong một chủ đề thảo luận cách đây ba ngày, một thành viên ẩn danh đã đăng tải bức ảnh chụp lén một tờ phiếu giao nhận hiện vật viết tay trên giấy bổi“Nơi tiếp nhận phục chế: Cổ Diệp Trai – Nghệ nhân phục chế: Phan Khắc Huy. Địa chỉ: Ngõ 182 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội.”

“Phan Khắc Huy... Cổ Diệp Trai...” Lam khẽ lẩm bẩm cái tên ấy, ánh mắt lóe lên tia sáng sắc bén của một thợ săn tin tức.

Là một phóng viên chuyên theo dõi mảng văn hóa và bảo tồn di sản, Lam không hề xa lạ với cái tên Cổ Diệp Trai. Đó là xưởng phục chế tranh lụa cổ nức tiếng nhưng vô cùng kỳ bí nằm khuất sâu trong một con ngõ hẹp cạnh ngôi đền cổ ở phố Thụy Khuê. Chủ nhân của nó — Phan Khắc Huy, một người đàn ông khoảng hai mươi chín tuổi — được giới chuyên môn ví như một “kỳ tài phục chế”, người có đôi bàn tay vàng và đôi mắt thẩm định thấu thị, có khả năng hồi sinh những bức họa lụa mục nát, rách nát đến mức vô phương cứu chữa.

Nhưng người đàn ông này cũng nổi danh là kẻ lập dị, sống khép kín, tuyệt đối lánh xa truyền thông và gần như không bao giờ nhận lời tiếp khách lạ nếu không có các bậc trưởng lão trong giới mỹ thuật giới thiệu.

Tại sao một bức tranh quý chứa đầy uẩn khúc lịch sử như Sương Lam Tây Hồ lại không được đưa vào Viện Bảo tồn Di tích hay Bảo tàng Mỹ thuật Quốc gia — nơi có đầy đủ trang thiết bị hiện đại — mà lại được âm thầm chuyển đến một xưởng thủ công tư nhân nép mình ven bờ hồ?

Ánh mắt Lam trượt xuống dòng thông tin về đơn vị đứng tên bàn giao hiện vật trên phiếu: Quỹ Bảo tồn Nghệ thuật Thăng Long Di Sản.

Một cái tên nghe trang trọng, thanh cao và đậm chất văn hóa. Nhưng bản năng nghề nghiệp của một phóng viên điều tra mách bảo cô rằng, đằng sau những quỹ bảo tồn mang danh nghĩa từ thiện hào nhoáng ấy thường là bình phong rửa tiền hoặc che đậy những đường dây mua bán cổ vật bất hợp pháp.

Lam ngước nhìn chiếc đồng hồ điện tử treo tường: một giờ bốn mươi phút sáng.

Lòng cô như lửa đốt. Sự thôi thúc từ những dòng chữ nhuốm máu của người chú quá cố như một mệnh lệnh thôi thúc từ cõi vô hình, không cho phép cô chần chừ thêm một khắc nào nữa. Lam với lấy chiếc điện thoại di động trên bàn, mở danh bạ và bấm vào một số máy được lưu ở chế độ ưu tiên: Đại úy Trần Tuấn Nam.Đại úy Nam hiện là trinh sát kỳ cựu của Đội Cảnh sát Hình sự số 2, Công an thành phố Hà Nội. Mối dây liên kết giữa Nam và gia đình cô bắt nguồn từ một biến cố lớn trong quá khứ: ba mươi hai năm trước, khi Nam mới chỉ là một đứa trẻ hai tuổi chập chững biết đi, gia đình anh từng rơi vào một vụ bắt cóc tống tiền kinh hoàng. Chính chú Khiêm khi ấy là người chỉ huy mũi đột kích, liều mình đỡ một phát đạn ghém để cứu sống đứa bé là Nam khỏi tay lũ cướp đường sông hung hãn.

Lớn lên, Nam theo học trường cảnh sát và trở thành học trò cưng của Trung tá Lê Doãn Cường — người đồng đội vào sinh ra tử thân thiết nhất với chú Khiêm năm xưa. Suốt nhiều năm qua, Nam luôn coi việc chú Khiêm hy sinh mờ ám là một vết thương nhức nhối của thế hệ đi trước mà anh có bổn phận phải làm sáng tỏ. Với Lam, Nam vừa là người anh trai tin cậy, vừa là cầu nối pháp lý duy nhất giúp cô tiếp cận những góc khuất trong hồ sơ nghiệp vụ.

Chuông điện thoại reo đến hồi thứ ba thì đầu dây bên kia kết nối. Tiếng thở trầm đục xen lẫn tiếng sột soạt của giấy tờ và tiếng còi xe tuần tra vẳng lại từ xa qua ống nghe.

“A lô, Lam à? Giờ này em còn thức sao?” Giọng Nam khàn khàn, lộ rõ vẻ mệt mỏi nhưng vẫn giữ nguyên phản xạ cảnh giác của một chỉ huy hình sự trực ca đêm.

“Em xin lỗi vì đã làm phiền anh lúc nửa đêm thế này, anh Nam,” Lam nói nhanh, giọng cô đanh lại, đi thẳng vào trọng tâm. “Em vừa tìm thấy một manh mối mới trong cuốn sổ tay công tác của chú Khiêm. Nó liên quan trực tiếp đến bức tranh lụa của cô sinh viên mỹ thuật mất tích năm 1996.”

Đầu dây bên kia bỗng nhiên im bặt. Tiếng lật tài liệu ngưng hẳn. Khi Nam lên tiếng trở lại, tông giọng của anh đã trầm xuống mức tối đa “Bức tranh của Nguyễn Cẩm Tú? Em nói sao cơ? Hồ sơ lưu trữ năm 1996 ghi nhận xưởng vẽ của cô ta bị chập điện cháy rụi, toàn bộ tranh ảnh tư liệu đã thành tro bụi rồi mà?”

“Nó chưa từng bị cháy, anh Nam. Nó vừa tái xuất hiện trên thị trường đen,” Lam quả quyết, mắt không rời khỏi màn hình máy tính. “Bức tranh mang tên Sương Lam Tây Hồ. Nó đang nằm tại xưởng phục chế Cổ Diệp Trai ở phố Thụy Khuê. Nhưng điều em cần anh giúp ngay lúc này là kiểm tra hồ sơ pháp lý của Quỹ Bảo tồn Nghệ thuật Thăng Long Di Sản — đơn vị đứng tên sở hữu hiện vật. Anh tra cứu nhanh trên cổng thông tin nghiệp vụ giúp em xem ai là người thực sự nắm quyền chi phối quỹ này được không?”

Tiếng gõ bàn phím lạch cạch vang lên dồn dập từ phía Nam. Anh không hỏi thêm một lời thừa thãi. Sự nhạy cảm của một điều tra viên hình sự sắc sảo khiến anh hiểu rằng một khi Lam đã chủ động gọi cho anh vào giờ này, sự việc chắc chắn đã chạm đến một tầng nấc cực kỳ nghiêm trọng.

Gần hai phút trôi qua trong bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở. Tiếng kim giây đồng hồ tích tắc từng nhịp khô khốc trong căn phòng tĩnh mịch. Lam bặm chặt môi, ngón tay siết chặt thân máy điện thoại đến mức đầu ngón tay trắng bệch.

Cuối cùng, tiếng thở dài nặng trĩu của Nam truyền qua loa thoại “Lam này... em có chắc là em muốn lật lại chuyện này không?”

“Anh tìm thấy gì rồi, đúng không?” Lam hỏi dồn, linh cảm bất an cuộn lên từng cơn trong lồng ngực.

“Quỹ Bảo tồn Nghệ thuật Thăng Long Di Sản được thành lập cách đây tám năm,” Nam chậm rãi nói, từng từ ngữ đều như được cân nhắc kỹ lưỡng. “Về mặt pháp lý hành chính, người đứng tên chủ tịch quỹ là một vị giáo sư mỹ thuật già đã về hưu, chuyên lo các thủ tục học thuật. Nhưng trên hồ sơ ủy thác tài chính và danh sách cổ đông bảo trợ, chín mươi phần trăm dòng tiền tài trợ không hoàn lại đều đổ về từ Tập đoàn Bất động sản Hoàng Gia.”

Lam nheo mắt: “Tập đoàn Hoàng Gia? Chủ tịch Hội đồng Quản trị là ai?”

“Hoàng Định Uyên.”

Cái tên vang lên như một hồi chuông đồng rền rỉ giữa đêm đông hoang vắng.

Hoàng Định Uyên — cái tên quyền lực đến mức bất cứ ai sống ở thủ đô, chỉ cần lật mở các trang báo kinh tế hay văn hóa, đều sẽ bắt gặp hình ảnh của ông ta. Một đại gia bất động sản khét tiếng ở độ tuổi gần sáu mươi, chủ nhân của hàng loạt khu nghỉ dưỡng và dự án đất vàng ven bờ Hồ Tây; một nhà sưu tầm đồ cổ danh giá, một nhà hảo tâm luôn xuất hiện trên truyền hình với gương mặt phúc hậu, nụ cười từ ái và những bộ áo dài gấm truyền thống sang trọng trong các đêm tiệc đấu giá nghệ thuật thiện nguyện.

“Hoàng Định Uyên...” Lam nhắc lại cái tên ấy, trong đầu cô bỗng lóe lên dòng nhật ký run rẩy của chú Khiêm ba mươi năm trước: “Chiếc rương sắt chứa ấn tín hoàng gia... biến mất khỏi kho lưu trữ tư nhân của một nhà sưu tầm họ Hoàng.”

Họ Hoàng! Ba mươi năm trước, kẻ bị chú Khiêm đưa vào tầm ngắm trinh sát là một nhà sưu tầm họ Hoàng. Ba mươi năm sau, kẻ đứng sau bức tranh lụa đẫm máu tái xuất lại chính là đại gia Hoàng Định Uyên!

“Lam, nghe anh nói đây, hãy bình tĩnh,” giọng Nam bỗng trở nên nghiêm khắc và đầy lo lắng. “Hoàng Định Uyên không phải là nhân vật mà một phóng viên có thể tùy tiện đụng vào. Mạng lưới quan hệ của ông ta cắm rễ rất sâu, trải dài từ giới tài phiệt cho đến những chức sắc cấp cao. Năm 1996, khi chú Khiêm gặp nạn, Uyên mới chỉ là một gã buôn bán gốm sứ và đồ mỹ nghệ nhỏ lẻ ven hồ. Năm xưa, chú Khiêm không kịp củng cố chứng cứ thì đã xảy ra tai nạn đuối nước. Nếu bây giờ em hấp tấp chọc vào tổ ong vò vẽ này mà không có chứng cứ vật chất mang tính pháp lý tuyệt đối, không chỉ sự nghiệp báo chí của em tan thành mây khói, mà tính mạng của em cũng sẽ gặp nguy hiểm khôn lường!”

“Em hiểu, anh Nam,” Lam bình thản đáp, nhưng ánh mắt cô lạnh buốt như băng. “Nhưng chú Khiêm không chết vì tai nạn. Anh biết điều đó, em biết điều đó, và những kẻ thủ ác năm xưa cũng biết điều đó. Em không hành động bốc đồng. Em chỉ đi tìm sự thật.”

“Ngày mai em định làm gì?” Nam hỏi, giọng đầy sốt ruột.

“Sáng mai em sẽ đến xưởng Cổ Diệp Trai,” Lam quả quyết. “Em phải tận mắt nhìn thấy bức tranh Sương Lam Tây Hồ. Nếu bức tranh thực sự là chiếc chìa khóa duy nhất như chú Khiêm đã khẳng định, thì người thợ phục chế tên Phan Khắc Huy kia chắc chắn đã nhìn thấy những điều mà người thường không thể thấy.”

Đầu dây bên kia im lặng một thoáng, rồi Nam thở hắt ra “Được rồi. Nhưng em phải hứa với anh: tuyệt đối không được manh động một mình. Có bất kỳ dấu hiệu bất thường nào phải gọi ngay cho anh. Đêm nay anh sẽ bí mật liên hệ với kho lưu trữ của Công an thành phố, rà soát lại toàn bộ hồ sơ khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn năm 1996 xem còn sót lại bản ảnh chụp tử thi hay vật chứng phụ nào không.”

“Cảm ơn anh, Nam.”

Lam ngắt cuộc gọi. Căn phòng lại rơi vào sự tĩnh mịch tuyệt đối, chỉ còn tiếng quạt tản nhiệt của chiếc máy tính xách tay chạy rì rầm.

Cô hít một hơi thật sâu, với tay lấy mảnh bài báo cũ có in bức ảnh phác thảo của Nguyễn Cẩm Tú. Đôi bàn tay Lam nhẹ nhàng đặt mảnh giấy ố vàng vào khay kính của chiếc máy quét tài liệu quang học độ phân giải cao đặt cạnh bàn làm việc. Cô đậy nắp máy, thiết lập thông số quét ở mức 1200 DPI và bấm lệnh thực hiện.

Ánh đèn quét màu xanh lục sắc lạnh từ từ trượt qua mặt kính, rọi sáng từng thớ giấy xơ xác và những hạt mực in thô ráp. Trên màn hình máy tính, hình ảnh bản phác thảo đen trắng của tác phẩm Sương Lam Tây Hồ dần hiện lên, sắc nét gấp hàng chục lần so với bản in trên báo giấy thời bao cấp.

Lam mở phần mềm đồ họa chuyên dụng của ban phóng sự. Đôi bàn tay cô thoăn thoắt di chuyển chuột: cô tiến hành khử nhiễu hạt chì, cân bằng dải màu xám và đẩy độ tương phản vi mô lên mức tối đa. Những đường nét thủy mặc mờ ảo ba mươi năm trước bắt đầu tách lớp rõ ràng trên màn hình độ phân giải cao.

Bức tranh lụa phong cảnh Tây Hồ hiện lên với một vẻ đẹp thê lương, quạnh quẽ đến rợn ngợp. Làn sương mù bao phủ mặt nước được Cẩm Tú vẽ bằng những nét mực loãng nhạt nhòa, nhưng sâu bên dưới những tầng sóng nước lại là những nét cọ vặn xoắn đầy u uất và bi phẫn. Đầm sen xơ xác gãy gục dưới cơn gió lạnh đầu mùa, những cuống sen chĩa thẳng lên trời như những ngón tay gầy guộc đang cầu cứu trong tuyệt vọng.

Lam bắt đầu rê chuột, phóng to từng khu vực của bức phác thảo để tìm kiếm dấu vết mật mã mà chú Khiêm từng nhắc tới trong nhật ký.

Góc trên bên phải: một vệt triện tròn vẽ tay cách điệu hình ba cánh hoa sen úp ngược — một dạng ký hiệu nhận diện riêng của dòng họ dệt lụa Vạn Phúc.

Góc giữa: mặt hồ phẳng lặng như gương, con thuyền nan trôi dạt vô định giữa làn sương lam mịt mù.

Và rồi, Lam kéo con trỏ chuột xuống góc dưới cùng bên trái của bức tranh — nơi mép lụa tiếp giáp với đường viền bồi, nơi tác giả vẽ vùng nước sâu nhất ven bờ lau sậy.

Ở góc độ quan sát thông thường bằng mắt trần, đó chỉ là một mảng mực xạ đen kịt, đặc quánh, thể hiện độ sâu thẳm của lòng hồ và đám rễ sen mục chằng chịt bám quanh những cọc gỗ rêu phong. Thế nhưng, khi Lam đẩy thanh trượt độ tương phản của dải sắc độ tối lên mức cực hạn và phóng đại khung hình lên 400%, cấu trúc phân tầng của mảng mực đen bắt đầu vỡ ra thành những đường nét kỳ dị đến sởn gai ốc.

Một cảm giác ớn lạnh đột ngột bóp nghẹt lồng ngực Lam.

Toàn bộ cơ mặt cô đông cứng lại. Hai mắt Lam mở trừng trừng, đồng tử giãn to trong nỗi bàng hoàng tột độ. Bàn tay đang cầm con chuột máy tính run rẩy dữ dội đến mức phát ra tiếng lạch cạch trên mặt kính bàn làm việc.

Dưới lớp mực đen đặc ngụy trang cho đám rễ sen chìm dưới đáy nước, ẩn hiện một hình hài không thuộc về cỏ cây hay phong cảnh thiên nhiên.

Đó là một nét ký họa giấu kín bằng kỹ thuật vẽ chìm tinh vi đến rợn tóc gáy. Từng nét cọ mảnh như sợi tơ lướt trên thớ lụa đã phác họa rõ ràng và chân thực đến tàn nhẫn hình ảnh của một người đàn ông trung niên.

Người đàn ông ấy đang chìm sâu dưới làn nước lạnh buốt, hai mắt trợn trừng ngước nhìn lên mặt hồ mù sương, khuôn mặt biến dạng vì ngạt thở, một cánh tay vươn lên chới với giữa những rễ sen đen đặc như muốn níu giữ một tia hy vọng mong manh nơi trần thế.

Và trên gương mặt của nét ký họa chìm ấy — từ vầng trán rộng cương nghị, chiếc mũi gãy đặc trưng cho đến vết sẹo dài hai centimet vắt ngang qua lông mày bên trái — tất cả đều trùng khớp một cách tàn nhẫn và chính xác đến từng chi tiết với khuôn mặt của chú ruột cô: cựu điều tra viên Vũ Đình Khiêm!

Lam ngã ngửa ra sau, lưng đập mạnh vào thành ghế tựa. Tiếng th* d*c nghẹn ngào của cô xé rách màn đêm tĩnh mịch trong căn phòng tòa soạn.

Làm sao... làm sao có thể như vậy được?

Mảnh báo này đăng tải bài dự thi vào hạ tuần tháng 9 năm 1996, do chính tay nữ sinh Nguyễn Cẩm Tú vẽ trước khi nàng mất tích.

Trong khi đó, chú Khiêm của cô qua đời vì đuối nước vào giữa tháng 10 năm 1996 — hơn hai tuần sau khi bức tranh phác thảo này hoàn thành!

Làm sao một cô gái trẻ chưa từng gặp mặt lại có thể vẽ lại chính xác cảnh tượng chết đuối thảm khốc của chú cô dưới đáy bùn Hồ Tây trước khi cái chết ấy thực sự diễn ra? Đó là một lời nguyền, một bản cáo trạng tiên tri, hay một điềm báo bằng máu gửi gắm từ cõi u minh?

Một luồng gió mùa đông bắc rít mạnh qua khe cửa sổ, làm ngọn đèn bàn chập chờn chớp tắt. Bên ngoài khung kính mờ sương, mặt nước Hồ Tây xa xa chìm trong màn sương lam dày đặc, đen ngòm và sâu thẳm như một nấm mồ khổng lồ đang cất giữ những linh hồn oan khuất suốt ba mươi năm qua chưa từng được siêu thoát.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.