Chương 12: Mật Mã Chu Sa
Hàn khí từ mặt lụa dội ngược vào căn phòng như một cơn lốc vô hình, khiến ngọn đèn cầy đặt trên đôn gỗ chao đảo rồi bùng lên một tia lửa xanh lét trước khi lụi dần thành một đốm đỏ lay lắt.
“Huy!”
Tiếng thét của Lam nghẹn lại nơi cuống họng. Không một giây chần chừ, cô lao bổ tới bên mép bàn phục chế, hai tay ôm choàng lấy bả vai đang run rẩy bần bật của Huy. Thân nhiệt của anh tụt xuống nhanh một cách đáng sợ; qua lớp áo sơ mi đũi mỏng dính, da thịt anh lạnh buốt như thể vừa bị vớt lên từ một hố băng vĩnh cửu dưới đáy hồ. Vết rách sâu trên trán toạc miệng băng, máu tươi rỉ qua kẽ ngón tay anh, nhỏ giọt xuống sàn gỗ kêu tí tách.
“Thầy Niên! Cầm máu... vết thương của anh ấy lại bục rồi!” Lam hoảng hốt kêu lên, bàn tay cô run rẩy rút vội chiếc khăn tay sạch trong túi áo khoác, cẩn trọng áp chặt vào vầng trán nhợt nhạt của người thợ phục chế.
Cụ Bùi Trọng Niên dù tuổi cao nhưng phong thái vẫn giữ được sự bình tĩnh phi thường của một bậc túc nho quen đối mặt với sóng gió. Cụ nhanh chân bước tới tủ thuốc bằng gỗ gụ kê sát góc phòng, lấy ra một chiếc lọ sành nhỏ nút lá chuối khô. Cụ đổ ra lòng bàn tay một nhúm bột mịn màu nâu sẫm tỏa mùi thơm ngai ngái của cỏ mực và rễ cây tam thất sao cháy, bước vội lại đỡ lấy đầu Huy.
“Cháu giữ chặt vai nó, đừng để nó ngửa cổ ra sau, khí huyết đang nghịch loạn!” Giọng cụ Niên trầm và đanh gọn. Cụ gạt nhẹ chiếc khăn của Lam sang một bên, miết một lượng bột thuốc dày cộm phủ kín miệng vết thương đang tuôn máu trên trán Huy, sau đó dùng dải băng vải xô sạch quấn ba vòng quanh trán anh.
Thuốc ngấm vào da thịt phát ra một tiếng xèo khẽ khàng, cơn co giật của Huy dần dần dịu lại. Hơi thở anh vẫn đứt quãng, lồng ngực phập phồng sau lớp áo đẫm mồ hôi lạnh. Đôi mắt sâu thẳm của anh mở he hé, đồng tử dại đi vì chấn động tâm linh quá lớn, nhưng bàn tay khẳng khiu vẫn cố vươn ra, ngón tay run rẩy chỉ về phía tấm thảm dạ trải trên bàn gỗ.
“Đừng... đừng để lớp chu sa... nguội đi...” Huy thều thào, giọng khản đặc như có cát nghẽn trong thanh quản. “Tro máu... đang dẫn đường... Lam, nhìn vào... bức tranh...”
Sau câu nói đứt đoạn, đầu anh gục xuống lồng ngực Lam, rơi vào trạng thái hôn mê sâu do kiệt quệ tinh thần và mất máu.
Lam cẩn thận đỡ Huy tựa lưng vào chiếc trường kỷ bằng gỗ mun lót đệm bông gòn, dém tấm chăn dạ mỏng lên người anh. Trái tim cô thắt lại khi nhìn gương mặt thanh tú nhưng hốc hác, tái mét của người đàn ông đã liều cả tính mạng để giữ trọn vẹn bức di vật suốt chặng đường trốn chạy dưới họng súng của bè lũ sát thủ. Sự căm phẫn đối với Hoàng Định Uyên và nỗi xót xa dành cho Huy dâng lên nghẹn đắng nơi cổ họng. Nhưng Lam biết, lúc này sự yếu mềm là thứ xa xỉ nhất.
Cô quay phắt lại bàn phục chế.
Dưới ánh sáng vàng vọt của bóng đèn sợi đốt treo thấp, cảnh tượng trên mặt lụa khiến toàn bộ tế bào trong cơ thể Lam như đông cứng lại.
Giọt máu tươi của Huy rơi xuống góc tranh đã tạo nên một phản ứng ma mị đến khó tin. Thớ lụa vân mây sa dường như sống dậy, hút trọn giọt máu và lan tỏa ra một quầng đỏ thẫm. Dưới tác động của sinh khí và nhiệt lượng, lớp mực đen xám xịt phủ ngoài cùng bắt đầu rạn nứt li ti như bùn khô gặp nắng ráo, để lộ ra những nét vẽ chu sa rực rỡ bên dưới.
Những đường nét màu đỏ tươi như máu mới chảy rỉ ra từ tà áo của thiếu nữ Cẩm Tú, chạy ngoằn ngoèo theo các thớ sợi tơ tằm, đan xen vào nhau tạo thành một mạng lưới hình học phức tạp bao quanh khối đá hoa cương đang dìm xác nàng dưới đáy nước.
Không chần chừ một tích tắc, Lam rút ngay chiếc máy ảnh kỹ thuật số chuyên dụng của phóng viên điều tra treo bên hông ba lô. Cô lắp ống kính chụp cận cảnh (macro), bật đèn chiếu sáng dịu với góc nghiêng bốn mươi lăm độ để triệt tiêu hiện tượng lóa sáng trên bề mặt lụa ướt.
Tách. Tách. Tách.
Tiếng màn trập cơ học vang lên giòn giã trong gian phòng tĩnh mịch. Lam nín thở, di chuyển ống kính từng milimét, ghi lại từng góc nhỏ của bức tranh ẩn: từ khóe mắt rỉ huyết lệ của Cẩm Tú, từng mắt xích sắt quấn quanh thân thể nàng, cho đến hệ thống hoa văn chu sa đang rực sáng ở bốn góc khung tranh.
Khi phóng to bức ảnh trên màn hình LCD của máy ảnh, đồng tử Lam co rút kịch liệt.
Ở bốn góc của bức tranh, ẩn dưới những mảng rong rêu và xoáy nước đen ngòm, là bốn ký hiệu Bát quái cổ được vẽ bằng chu sa pha tro hương cực kỳ sắc nét: quẻ Càn ở góc tây bắc gồm ba vạch liền vững chãi; quẻ Khảm ở chính bắc với một vạch liền kẹp giữa hai vạch đứt tượng trưng cho hiểm thủy; quẻ Cấn ở góc đông bắc như một ngọn núi chắn sóng; và quẻ Chấn ở phía đông tựa tiếng sấm chuyển mình dưới lòng sâu.
“Những nét vạch này...”
Lam run rẩy buông chiếc máy ảnh, với tay lấy chiếc ba lô chống nước đặt dưới chân bàn. Cô kéo khóa, lấy ra cuốn nhật ký hiện trường bìa da sờn rách của chú ruột mình — điều tra viên Vũ Đình Khiêm — cuốn sổ mà Huy đã dùng thảo dược bí truyền làm hiện lại những dòng chữ chìm trong đêm kinh hoàng tại Cổ Diệp Trai.
Cô lật nhanh đến những trang cuối cùng. Trang giấy ố vàng vì thời gian và nước hồ ba mươi năm trước bỗng chốc như bừng sáng dưới mắt cô.
Trên trang giấy kẻ ngang lem luốc vết mực tím của chú Khiêm ghi ngày 21 tháng 9 năm 1996 — chỉ hai ngày trước khi chú bị sát hại — có một bản phác thảo vội vã bằng bút chì. Trong đó, chú Khiêm đã vẽ lại bốn quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn y hệt như những nét vẽ chu sa trên tấm lụa!
Bên cạnh các quẻ bát quái, nét chữ cứng cỏi của người điều tra viên quá cố run rẩy viết“Nữ sinh Cẩm Tú không chỉ vẽ phong cảnh. Bốn quẻ định hướng phong thủy không theo trục Tiên thiên hay Hậu thiên thông thường, mà nghịch chuyển theo thế ‘Tụ Thủy Hóa Long’. Kẻ giấu vật báu đã chọn nơi giao thoa của ba luồng long mạch ngầm dưới đáy hồ để trấn yểm. Uyên đang ép Tú hoàn thành bản vẽ tầng hai. Nếu Tú từ chối, tính mạng cô ấy lâm nguy. Phải tìm ra điểm Khảm Cấn trước khi quá muộn...”
Nước mắt Lam trào ra, nóng hổi rơi xuống trang nhật ký.
“Chú ơi...” Cô thì thầm, lồng ngực nghẹn ngào. “Chú không hề phán đoán sai. Chú không hề nhận hối lộ để bao che cho ai cả... Chú đã nhìn thấy tất cả những điều này từ ba mươi năm trước.”
Cụ Niên bước đến bên cạnh Lam, cặp kính lão trễ xuống sống mũi. Cụ chăm chú nhìn vào cuốn nhật ký của ông Khiêm, rồi lại nhìn sang bức tranh lụa trên bàn, đôi lông mày bạc phơ nhíu chặt lại đầy vẻ trầm tư “Cháu Lam, đưa cuốn sổ của chú cháu cho lão xem một chút.”
Lam cung kính trao cuốn nhật ký cho cụ Niên. Vị túc nho già lật giở từng trang với sự cẩn trọng tột cùng, ngón tay đồi mồi khẽ lướt trên những sơ đồ phác thảo vụng về nhưng sắc bén của người chiến sĩ công an năm xưa. Ánh mắt cụ sáng lên một tia kinh ngạc tột độ “Hóa ra là thế... Cố nhân năm xưa thực sự là một bậc kỳ tài phá án. Cậu Khiêm đã lần ra được phần ngọn của thế trận phong thủy này, nhưng tiếc thay, cậu ấy không am hiểu tường tận về thủy văn cổ của đất Thăng Long nên chưa kịp xác định vị trí then chốt thì đã bị nghịch đồ hạ thủ.”
“Thầy nói sao cơ ạ?” Lam vội hỏi, sự nhạy bén của một phóng viên điều tra lập tức được kích hoạt. “Thủy văn cổ Thăng Long là thế nào ạ?”
Cụ Niên không trả lời ngay. Cụ quay sang chiếc hòm gỗ lim kê dưới bàn thờ gia tiên, tra chiếc chìa khóa đồng cổ vào ổ khóa kêu cạch một tiếng. Từ trong chiếc hòm bốc lên mùi long não và giấy cũ nồng nàn, cụ cẩn thận nâng ra một cuộn giấy dó bản lớn, dài gần một mét, được bọc cẩn thận trong một lớp vải điều đã phai màu.
Cụ Niên trải phẳng cuộn giấy lên mặt bàn, đè bốn chiếc chặn giấy bằng đồng hình rồng lên bốn góc.
“Đây là Tây Hồ phân lưu thủy đồ được vẽ vào năm Tự Đức thứ mười bốn (1861), do chính cụ cố của lão – một vị quan phụ trách đê điều của phủ Hoài Đức – truyền lại.” Cụ Niên cất giọng trầm bổng, từng lời nói như kéo không gian quay ngược về một thế kỷ rưỡi trước. “Người đời nay nhìn Hồ Tây chỉ thấy một mặt gương phẳng lặng rộng hơn năm trăm hécta, sóng gợn lăn tăn êm đềm. Nhưng thực chất, Hồ Tây là một đoạn phế tích của dòng sông Nhị Hà cổ. Dưới lớp bùn sâu lắng đọng hàng ngàn năm là một hệ thống hang hốc cácxtơ ngầm và những lạch nước chảy xiết thông thẳng ra sông Hồng và sông Tô Lịch.”
Lam mở to mắt nhìn vào tấm hải đồ cổ. Tấm bản đồ vẽ bằng mực nho trên nền giấy dó ngà voi hiển thị chi tiết hình dáng uốn lượn của Hồ Tây thời xưa, kèm theo vô số dòng chú thích bằng chữ Nôm li ti chỉ rõ độ nông sâu và các luồng lạch ngầm dưới đáy nước.
“Cháu nhìn vào đây,” Cụ Niên cầm chiếc bút lông chưa chấm mực, dùng đầu cán trúc chỉ vào bức tranh lụa chu sa của Cẩm Tú, rồi đối chiếu sang tấm hải đồ cổ. “Bốn quẻ Bát quái này không phải để bói toán hay trừ tà ma. Cẩm Tú sinh ra trong một gia đình dệt lụa Vạn Phúc, nhưng nàng lại theo học trường Mỹ thuật, tiếp thu cả kỹ thuật hội họa phương Tây lẫn tri thức phong thủy truyền thống từ gia đình. Nàng đã dùng hệ thống Bát quái để mã hóa một bản đồ trắc địa không gian ba chiều!”
Cụ Niên chỉ vào quẻ Càn ở góc tây bắc bức tranh: “Càn là Trời, là nguồn cội, đại diện cho cửa xả nước ngầm từ hướng làng Nhật Tân đổ vào. Quẻ Chấn ở phía đông đại diện cho lạch nước ngầm thoát ra phía Yên Hoa, Yên Phụ. Quẻ Cấn ở đông bắc là bãi đá ngầm chạy dọc doi đất Quảng An. Còn quẻ Khảm... Khảm vi thủy, quẻ Khảm nằm ở vị trí trũng sâu nhất, nơi dòng nước xoáy tròn thành một cái phễu khổng lồ dưới đáy bùn.”
Lam chớp mắt liên tục, đầu óc cô vận hành hết công suất để xâu chuỗi dữ liệu. Ánh mắt cô quét qua những vệt xoáy chu sa bao quanh thân thể Cẩm Tú “Thầy nhìn những đường cong đồng tâm này xem! Ban đầu cháu cứ tưởng đó là những nét vẽ cách điệu sóng nước theo phong cách thủy mặc truyền thống. Nhưng không phải! Khoảng cách giữa các đường cong này không đều nhau, càng vào tâm thì các đường xoáy càng dày đặc... Đây chính là đường đồng mức độ sâu!”
“Chính xác!” Cụ Niên khẽ đập tay xuống mép bàn, ánh mắt lộ vẻ tán thưởng khôn xiết. “Đó là đường đồng mức biểu thị độ dốc của đáy vực! Mỗi một vòng xoáy chu sa đại diện cho một sải tay nước sâu. Cháu đếm xem có bao nhiêu vòng?”
Lam cúi sát mặt xuống thớ lụa, cẩn thận đếm từng vòng tròn đỏ thẫm đang phát sáng ma mị dưới ánh đèn “Một... hai... ba... năm... đúng sáu vòng! Sáu sải tay!”
“Sáu sải tay của thợ lặn thời xưa tương đương với độ sâu khoảng chín đến mười mét,” Cụ Niên trầm giọng, nét mặt trở nên đanh lại đầy vẻ nghiêm trọng. “Ở Hồ Tây, độ sâu trung bình chỉ từ một mét rưỡi đến hai mét. Nơi duy nhất có vực sâu tới mười mét với ba dòng chảy ngầm từ Nhật Tân, Quảng An và Thụy Khuê giao nhau xoáy tụ... chỉ có thể là Đầm Thủy Sứ, nằm nép mình phía sau doi đất bán đảo Quảng An, sát nách Phủ Tây Hồ!”
Cái tên “Đầm Thủy Sứ” vang lên như một tiếng sét đánh ngang tai Lam.
Ký ức của cô quay cuồng lật lại những trang tài liệu điều tra mà cô đã thu thập suốt ba năm qua. Đầm Thủy Sứ — một vụng nước hoang vu, quanh năm phủ kín sen tàn và sương mù dày đặc. Nơi đó vào thập niên 90 là một bến đỗ hẻo lánh, lau sậy mọc ngập đầu người, hầu như không có bóng dáng cư dân sinh sống vì tương truyền có nhiều người chết đuối do rơi vào xoáy nước ngầm.
“Và quan trọng nhất,” Lam run giọng bổ sung, ngón tay cô chỉ vào khối đá hoa cương trói chặt thân thể cô gái trong tranh, “Cẩm Tú vẽ khối đá này có hình dáng vuông vức kỳ lạ, bên dưới đáy khối đá có hai chiếc móc sắt to bản. Đây không phải là một tảng đá tự nhiên! Đây là một khối bê tông đúc sẵn!”
Cụ Niên thở dài một tiếng nặng trĩu, ánh mắt nhìn bức tranh tràn ngập nỗi bi thương “Hoàng Định Uyên là một kẻ mưu mô tàn độc đến tột cùng. Hắn biết rằng chiếc rương thép bảo bối chứa ấn vàng triều đình 'Sắc Mệnh Chi Bảo' nếu chỉ thả xuống bùn sẽ bị dòng chảy ngầm cuốn trôi, hoặc theo thời gian sẽ bị phù sa vùi lấp mất dấu. Hắn đã đúc một khối bê tông đặc, gắn móc xích sắt làm vật đối trọng để ghìm chiếc rương cố định tại đáy vực Đầm Thủy Sứ. Và để che giấu tội ác, để chiếc rương có một ‘vong hồn canh giữ’ theo tà thuật phong thủy buôn bán cổ vật... hắn đã trói sống Cẩm Tú vào chính khối bê tông đó rồi dìm nàng xuống đáy vực!”
Không khí trong căn phòng như đặc quánh lại bởi sự thật tàn khốc vừa được phơi bày trọn vẹn.
Bức tranh Sương Lam Tây Hồ không đơn thuần là một tác phẩm nghệ thuật, không phải là một bức tranh nguyền rủa vu vơ. Nó là bản cáo trạng tuyệt mệnh, là tấm bản đồ định vị ba chiều chính xác đến từng mét mà Nguyễn Cẩm Tú, bằng tất cả tài hoa hội họa, tri thức phong thủy và sự phẫn uất tột cùng trước ngưỡng cửa tử thần, đã dùng chính máu và tro hương của mình để dệt nên. Nàng biết mình không thể thoát khỏi bàn tay của kẻ thủ ác, nên đã biến sinh mệnh của mình thành một mật mã vĩnh hằng, chờ đợi người có đủ tâm và tài đến ngày giải mã.
Lam cắn chặt môi đến ứa máu để ngăn tiếng nấc nghẹn ngào. Cô lấy bút lông kim, ghi chép lại toàn bộ các thông số: tọa độ tương đối tại Đầm Thủy Sứ, góc phương vị đối chiếu với chùa Trấn Quốc và Phủ Tây Hồ, độ sâu chín mét, và cấu trúc ba tầng dòng chảy ngầm.
Đồng hồ quả lắc cổ trên tường điểm ba tiếng nặng nề. Ba giờ sáng.
Lam bước ra gian phòng ngoài, rút chiếc điện thoại dùng một lần gắn sim bảo mật mà Đại úy Tuấn Nam đã đưa cho cô trước khi chia tay ở bến nước Thụy Khuê. Cô bấm dãy số đã được mã hóa.
Chỉ sau hai hồi chuông, đầu dây bên kia lập tức nhấc máy.“Tôi nghe đây. Tình hình bên hai người thế nào rồi?” Giọng Nam khàn đặc, bên đầu dây của anh có tiếng lạo xạo của giấy tờ và tiếng gió rít qua cửa sổ mở hé.
“Huy đã qua cơn nguy kịch nhờ thầy Niên sơ cứu, nhưng anh ấy đang kiệt sức vì phản phệ tàn thức,” Lam hạ thấp giọng hết mức có thể, ánh mắt cảnh giác nhìn quanh. “Anh Nam, chúng tôi đã giải mã được toàn bộ bức tranh ẩn. Tọa độ chính xác là Đầm Thủy Sứ, ngay vụng nước sâu sau bán đảo Quảng An. Dưới đáy hồ ở độ sâu khoảng chín đến mười mét có một khối bê tông neo giữ hài cốt Cẩm Tú cùng chiếc rương kim loại chứa ấn vàng 'Sắc Mệnh Chi Bảo'.”
Đầu dây bên kia im lặng trong vài giây, chỉ nghe thấy tiếng th* d*c đầy căng thẳng của người sĩ quan hình sự “Khớp hoàn toàn với một số ghi chép đứt đoạn mà chú Khiêm để lại trong hồ sơ lưu trữ chưa bị hủy... Nhưng Lam này, tình hình ở đây đang xấu đi rất nhanh.”
“Có chuyện gì xảy ra ở cơ quan sao anh?” Trái tim Lam thắt lại.
“Khoảng một tiếng trước, Thượng tá Phó thủ trưởng cơ quan điều tra – người phụ trách trực tiếp khối điều tra trọng án – đã triệu tập tôi lên phòng làm việc,” Giọng Nam đanh lại, phảng phất sự phẫn nộ bị kìm nén. “Ông ta viện lý do vụ cháy tại Cổ Diệp Trai và vụ nổ súng ở bến nước Thụy Khuê có tính chất ‘phức tạp, liên quan đến an ninh văn hóa và yếu tố nước ngoài’, yêu cầu tôi bàn giao toàn bộ hồ sơ, các vật chứng thu thập được, đồng thời ký lệnh đình chỉ nhiệm vụ tổ công tác của tôi để chuyển giao vụ án cho một ban chuyên án mới.”
“Họ muốn tước quyền điều tra của anh để bảo vệ Hoàng Định Uyên?”
“Không chỉ thế. Kẻ nội gián trong nội bộ chúng ta nắm quyền lực rất lớn. Uyên đang dùng các mối quan hệ ngoại giao và kinh tế từ quỹ bảo tồn nghệ thuật của hắn để gây sức ép từ cấp trên xuống. Lãnh đạo ra thời hạn cho tôi trước năm giờ chiều nay phải nộp toàn bộ tài liệu. Tôi đã lấy cớ đang truy kích nhóm của Lê Trọng Bách ở khu vực bán đảo Quảng An để kéo dài thời gian, nhưng tôi chỉ có thể cầm cự được tối đa hai mươi bốn đến ba mươi sáu tiếng nữa thôi. Sau mốc đó, nếu không có chứng cứ vật chất mang tính quyết định để khởi tố bắt khẩn cấp Hoàng Định Uyên, tôi sẽ bị đình chỉ công tác, và toàn bộ vụ án sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn.”
Mồ hôi lạnh rỉ ra trên sống lưng Lam. Thời gian đang trôi đi như cát lọt qua kẽ tay. Hoàng Định Uyên không hề ngồi yên; sau khi xưởng tranh Cổ Diệp Trai bị cháy và việc phục kích bất thành, con cáo già ấy đã bắt đầu kích hoạt toàn bộ mạng lưới bảo kê ngầm để bịt miệng tất cả.
“Anh Nam, chúng ta phải lặn trục vớt khối bê tông và chiếc rương ngay lập tức!” Lam quả quyết. “Chỉ cần đưa được hài cốt Cẩm Tú và chiếc ấn vàng lên khỏi mặt nước trước sự chứng kiến của Viện Kiểm sát, không một ai có thể bao che cho Uyên được nữa!”
“Tôi hiểu,” Nam đáp dứt khoát. “Tôi có một tổ trinh sát đường thủy gồm bốn anh em tuyệt đối tin cậy, từng là lính đặc công nước xuất ngũ về đầu quân cho đội cảnh sát giao thông đường thủy. Họ sẵn sàng hành động theo lệnh tôi mà không thông qua hệ thống báo cáo chính thức. Tôi sẽ ngụy trang một chiếc canô chuyên dụng thành thuyền đo đạc môi trường nước của Sở Tài nguyên, trang bị đầy đủ bình dưỡng khí và thiết bị lặn chuyên sâu. Nhưng vấn đề là... thời điểm nào có thể lặn được? Đáy Đầm Thủy Sứ nước sâu, bùn lầy đặc quánh và dòng chảy ngầm cực kỳ nguy hiểm, lặn bừa bãi là mất mạng như chơi.”
“Đợi tôi mười lăm phút. Tôi sẽ tính toán thời điểm chính xác rồi báo lại cho anh ngay!”
Lam cúp máy, quay trở lại bàn làm việc nơi cụ Niên đang dùng một chiếc thước đo góc bằng gỗ mun và một cuốn lịch vạn niên cũ kỹ để tra cứu.
“Thầy Niên, dòng chảy ngầm ở Đầm Thủy Sứ vận hành theo quy luật nào ạ? Khi nào thì thợ lặn có thể tiếp cận đáy vực mà không bị cuốn vào miệng phễu ngầm?”
Cụ Niên lật giở cuốn lịch, ngón tay dừng lại ở trang ghi ngày tháng âm lịch hiện tại, ánh mắt lóe lên một tia sáng kỳ lạ “Thiên cơ... quả thực là thiên cơ tuần hoàn, nhân quả không sai một ly một hào! Cháu Lam, cháu nhìn xem hôm nay là ngày bao nhiêu?”
Lam nhìn vào dòng chữ in đỏ trên tờ lịch: Ngày mười bốn tháng Mười năm Bính Tý (tính theo tiết khí).
“Hôm nay là mười bốn... Ngày mai chính là rằm tháng Mười âm lịch!” Lam thốt lên.
“Đúng vậy! Rằm tháng Mười – Tết Hạ Nguyên, dân gian còn gọi là ngày Thủy Quan Đại Đế giải ách trừ tai!” Giọng cụ Niên run run vì xúc động. “Theo quy luật thủy triều và thủy văn Hồ Tây được ghi lại trong tấm hải đồ triều Nguyễn này, vào đúng đêm rằm tháng Mười, lực hấp dẫn của mặt trăng đạt cực đại kết hợp với sự đổi chiều của gió mùa đông bắc sẽ tạo nên hiện tượng ‘Triều Tịch Bình Hành’. Ba dòng chảy ngầm từ Nhật Tân, Quảng An và Thụy Khuê khi gặp nhau tại Đầm Thủy Sứ sẽ triệt tiêu xung lực lẫn nhau trong một khoảng thời gian ngắn!”
Cụ Niên lấy chiếc bút lông, chấm một điểm chu sa lên bản đồ “Khoảng thời gian đó kéo dài đúng hai canh giờ, từ mười một giờ đêm đến một giờ sáng – chính là khung giờ Tý đêm rằm ngày mai! Trong hai tiếng đồng hồ đó, mặt nước đáy vực Đầm Thủy Sứ sẽ hoàn toàn tĩnh lặng, dòng xoáy ngừng hoạt động. Đó là cơ hội duy nhất trong cả một năm để con người có thể lặn xuống độ sâu mười mét mà không bị dòng nước ngầm xé toạc!”
“Đêm rằm tháng Mười...”
Một giọng nói trầm khàn, yếu ớt nhưng rành rọt vang lên từ phía sau.
Lam và cụ Niên giật mình quay lại. Huy đã tỉnh từ lúc nào. Anh chống tay ngồi dậy trên chiếc trường kỷ, chiếc khăn băng trắng trên trán đã khô máu. Dù gương mặt vẫn còn nhợt nhạt, nhưng ánh mắt anh đã lấy lại sự trong trẻo, sâu thẳm lạ thường.
“Huy! Anh thấy trong người thế nào rồi?” Lam vội vã chạy lại đỡ anh.
Huy khẽ lắc đầu, bàn tay anh nhẹ nhàng đặt lên mu bàn tay Lam như muốn truyền sự an tâm cho cô.
“Tôi không sao... Cơn phản phệ đã qua rồi.” Huy nhìn Lam, ánh mắt đong đầy cảm xúc phức tạp mà cô chưa từng thấy trước đây. “Tôi vừa nghe thấy những gì thầy Niên nói. Đêm rằm tháng Mười... ba mươi năm trước, đêm mà Cẩm Tú bị dìm xuống hồ cũng chính là một đêm rằm cuối thu mịt mù sương gió. Linh hồn cô ấy đã phong ấn bản th*n d*** đáy nước, chờ đợi đúng chu kỳ này để trỗi dậy đòi lại công lý.”
Anh quay sang nhìn cụ Niên, gật đầu kính cẩn “Thầy tính toán không sai. Đêm mai là thời điểm duy nhất. Nhưng chúng ta không thể chỉ cử thợ lặn của anh Nam đi được.”
“Ý anh là sao?” Lam lo lắng hỏi.
“Khối bê tông đó được yểm bằng tro hương và máu của Cẩm Tú, lại chịu sự đè nén của tử khí ba mươi năm,” Huy trầm giọng, ngón tay anh chạm nhẹ vào lồng ngực mình, nơi trái tim đang đập từng nhịp nặng nề. “Thợ lặn bình thường xuống đó sẽ bị ảo giác và áp lực tâm linh bóp nghẹt trước khi chạm được vào mắt xích. Tôi phải có mặt ở đó. Tôi phải dùng năng lực cảm ứng tàn niệm để dẫn lối cho họ tìm đúng vị trí chiếc chốt khóa rương.”
“Không được!” Lam dứt khoát phản đối, giọng cô run lên vì giận dữ lẫn sợ hãi. “Anh vừa thoát chết sau cơn co giật! Cơ thể anh đang kiệt sức, vết thương trên trán và bắp tay còn chưa lành! Anh xuống nước trong tình trạng này chẳng khác nào tự sát!”
“Lam, nghe tôi nói.” Huy nhìn thẳng vào mắt Lam, ánh mắt anh kiên định như một tảng đá ngầm giữa sóng gió. “Đây không chỉ là việc tìm kiếm chứng cứ để phá án. Đây là sự giải thoát cho Cẩm Tú, cho linh hồn chú Khiêm của cô, và... cho chính bản thân tôi. Tôi đã trốn chạy năng lực này suốt hai mươi năm, coi nó là lời nguyền rủa của số phận. Nhưng đêm nay, khi nhìn thấy giọt máu của mình đánh thức bức tranh của Cẩm Tú, tôi hiểu rằng ông trời cho tôi khả năng này là để làm một việc: trả lại sự thật cho những người đã khuất. Nếu tôi không đi, không một ai có thể định vị được chiếc rương trong lớp bùn lầy dày hàng mét của Đầm Thủy Sứ.”
Lam nhìn vào đôi mắt sâu thẳm ấy, nhận ra trong đó không còn chút sợ hãi hay trốn tránh nào nữa. Đứng trước một Phan Khắc Huy kiên cường và bao dung đến nhường ấy, mọi lý lẽ can ngăn của cô bỗng chốc trở nên bất lực. Cô hít một hơi thật sâu, gật đầu “Được. Nếu anh đi, tôi sẽ đi cùng anh. Tôi không để anh phải đối mặt với đáy hồ đó một mình.”
Huy mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi thoáng qua trên gương mặt phong trần, mang theo sự ấm áp dịu dàng len lỏi vào lòng Lam giữa đêm thu giá buốt.
Lam lập tức quay lại gọi điện cho Đại úy Nam, thống nhất kế hoạch tác chiến tối mật: Đêm mai, đúng hai mươi hai giờ ba mươi, đội lặn trinh sát của Nam sẽ xuất phát từ trạm thủy văn bí mật gần cầu Nhật Tân, tiếp cận Đầm Thủy Sứ theo hướng luồng nước êm. Huy và Lam sẽ cải trang thành người chèo thuyền nan hái sen đêm để tiếp cận hiện trường mà không gây chú ý cho các chốt gác ven hồ của Hoàng Định Uyên.
Nhiệm vụ đã được ấn định. Giờ G đang đếm ngược từng khắc.
Lam thở phào một hơi nhẹ nhõm, cảm giác một gánh nặng khổng lồ vừa được tạm thời dỡ bỏ. Cụ Niên lặng lẽ thu dọn tấm hải đồ cổ, chuẩn bị pha một ấm trà sen sớm để ba người ấm lòng sau một đêm thức trắng đấu trí với quá khứ.
Gió bấc ngoài trời bắt đầu rít mạnh hơn qua những khe cửa sổ. Mưa phùn giăng mắc khắp ngõ Yên Phụ, biến những mái ngói rêu phong của khu phố cổ thành một màu xám xịt u trầm. Tiếng chuông chùa Trấn Quốc từ đằng xa vọng lại từng tiếng ngân nga, trầm đục xuyên qua màn sương sớm, báo hiệu trời sắp sáng.
Lam bước lên những bậc cầu thang gỗ hẹp dẫn lên căn gác lửng trên tầng thượng nhà cụ Niên. Căn gác này vốn là nơi cụ phơi các loại vỏ cây, rễ thảo mộc dùng để nấu hồ bồi tranh, có một khung cửa sổ nhìn thẳng xuống con ngõ Yên Phụ quanh co hun hút.
Cô muốn kiểm tra tình hình an ninh bên ngoài một lần cuối trước khi trời sáng rõ.
Lam nhẹ nhàng bước tới bên khung cửa sổ gỗ, đưa tay khẽ vén khe liếp đan bằng tre trúc đã ngả màu nâu sậm, đưa mắt nhìn xuống con đường lát gạch nghiêng nghiêng dưới màn sương mù đặc quánh.
Con ngõ Yên Phụ giờ này vắng tanh không một bóng người. Những ngọn đèn đường vàng vọt chiếu le lói qua tán cây bàng khẳng khiu đang trút những chiếc lá đỏ cuối cùng xuống mặt đường ẩm ướt. Mặt đường loang loáng nước mưa, phản chiếu không gian tĩnh mịch đến rợn người.
Nhưng rồi, ánh mắt sắc bén của người làm nghề báo điều tra bỗng khựng lại.
Cách cổng gỗ nhà cụ Niên chừng hai mươi mét, nép mình dưới bóng tối rậm rạp của một cây đa cổ thụ rủ đầy rễ phụ, có một bóng đen bất động.
Đó là một chiếc xe sedan màu đen tuyền, thân xe dài, toàn bộ kính xe đều được dán phim cách nhiệt đen mờ tuyệt đối, không thể nhìn thấy bên trong. Chiếc xe tắt ngấm đèn định vị, không nổ máy, nằm im lìm như một con thú săn mồi đang ẩn mình trong bóng đêm rình rập con mồi. Biển số xe bị che khuất bởi một lớp bùn đất khô khốc có chủ ý.
Lam nín thở, toàn thân cứng đờ. Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc từ sống lưng lên tận đỉnh đầu cô.
Chiếc xe đó không thể là của cư dân trong ngõ. Ngõ Yên Phụ là ngõ cụt, rất hẹp, chỉ có người quen thuộc địa hình mới dám lái một chiếc xe thân dài như thế vào đây. Và quan trọng hơn, góc đỗ của nó chếch đúng bốn mươi lăm độ, hướng thẳng ống kính quan sát về phía cửa chính nhà cụ Niên!
Đúng khoảnh khắc Lam định quay người bước xuống báo động cho Huy và cụ Niên, thì một cảnh tượng làm tim cô như ngừng đập diễn ra dưới con ngõ tĩnh lặng.
Từ bên trong chiếc sedan đen, hai chùm ánh sáng đèn pha cực mạnh màu trắng xanh bỗng nhiên bật sáng lóe lên!
Tách. Tách.
Hai nhịp nháy đèn pha ngắn, dứt khoát, sắc lạnh cắt toạc màn sương mù dày đặc, rọi thẳng vào khung cửa sổ gác lửng nơi Lam đang đứng nấp sau khe liếp.
Đó không phải là một sự vô tình. Đó là một ám hiệu. Một lời chào chết chóc báo hiệu rằng bóng tối của Hoàng Định Uyên đã tìm ra nơi ẩn náu cuối cùng của họ.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
