Chương 20: Bát Gạo Ngày Xuân

Khang Tố Uyển đặt chén nước chè tươi xuống chõng tre, ánh mắt trầm tĩnh nhìn chiếc khay ngọc phủ gấm điều đang giơ cao trước mặt. Tấm kim thiếp thếp vàng rực rỡ lấp lánh dưới nắng sớm, bên cạnh là khối thanh ngọc tỷ tỏa luồng linh khí bàng bạc mát lạnh. Vị Chưởng sự viện quỳ rạp sát lớp đất nện của Hẻm Tro Tàn, sau lưng là hàng chục đệ tử tiên môn đang nín thở chờ đợi.

Từ lò rèn sát bên, Chúc Lão Thiết sải bước đi ra. Chiếc kẹp sắt dài ba thước trong tay ông gõ mạnh xuống tảng đá cạnh hàng rào một tiếng “keng” khô khốc, cất giọng ồm ồm phá tan vẻ đạo mạo giả tạo “Mặt trời mọc đằng tây rồi hay sao mà tiên sư lại đem ngọc tỷ xuống chốn xỉ quặng lầy lội này? Năm xưa xua đuổi người ta, chê là phàm cốt ti tiện, nay lại bày trò phong thánh tôn vương, các người không thấy ngượng à?”

Vị Chưởng sự viện đỏ bừng mặt nhưng không dám nổi giận, vội hạ thấp giọng khẩn khoản “Khang đại tông sư, Chúc sư huynh chớ giễu cợt! Tông môn nay đã biết lỗi. Ma triều dẹp yên nhờ đại ân của lão tiền bối. Chưởng môn cùng ba vị đại trưởng lão nguyện dâng ngôi vị Thái Thượng Trưởng Lão tối cao, cung thỉnh lão tiền bối hồi loan ngự trên đỉnh Mây Trôi, cùng nhận sự cung phụng muôn đời của Vân Phù Tiên Tông!”

Khang Tố Uyển chống gậy trúc, thong thả đứng dậy. Chiếc áo vải nâu sồng khẽ lay động trong gió sớm. Bà bước lại mép rào dậu, đưa những ngón tay chai sần vì nửa thế kỷ se tơ nhấc bổng phong kim thiếp nặng trĩu vàng ngọc lên.

Chưởng sự viện mừng thầm, nhưng nụ cười nịnh nọt chưa kịp nở đã lập tức đông cứng lại.

Khang Tố Uyển chỉ liếc qua hàng chữ thếp vàng nắn nót, rồi mỉm cười điềm đạm, thong thả buông tay. Tấm kim thiếp rơi đánh “cạch” một tiếng lên mép khay ngọc, trượt nghiêng sang một bên như trút bỏ mọi vướng bận phù hoa. Bà không hề chạm mắt đến khối thanh ngọc tỷ, cất giọng khoan thai “Lão thân đã bảy mươi tư tuổi, nửa đời người còng lưng se từng tấc gai nơi Thừng Kết Viện ẩm thấp dưới chân núi. Cái buốt giá của mây mù trên đỉnh Mây Trôi, lão thân đã nếm trải suốt năm mươi năm rồi. Đỉnh núi ngút ngàn kia lộng lẫy thật đấy, nhưng chỉ dành cho bậc tiên gia mải miết truy cầu phi thăng, đoạn tuyệt nhân tình. Còn lão thân là kẻ phàm trần, đôi tay này chỉ quen chạm vào sợi gai thô, mũi chỉ ngửi được mùi khói bếp củi và đất ẩm. Tiên sơn nhung lụa không dung nổi người thợ thủ công, hà cớ gì hôm nay lão thân lại phải bước lên chiếc ngai vàng lạnh buốt ấy?”

“Khang đại tông sư...” Chưởng sự viện hoảng hốt: “Ở lại chốn lầm than này thì có gì tốt đẹp? Đăng lâm đỉnh núi, ngài muốn bao nhiêu ngọc thực, linh đan cũng đều có cả!”

“Chốn lầm than này có tấm lòng thơm thảo của con người.” Khang Tố Uyển nhìn thẳng đối phương, ngữ điệu đanh thép: “Nơi đây người đói sẻ nửa củ khoai, người rét nhường manh áo rách. Ta thắt một nút dây, cứu được một sinh mạng bé mọn; bà con trao lại chén nước chè xanh, thế là đủ ấm một kiếp người. Chiếu thư và ngọc tỷ này, các người hãy mang về cho Chưởng môn đi. Đạo thắt nút của người xưa sinh ra để chở che trần gian, chứ không phải để trang hoàng cho sự ngạo mạn phù hoa của tiên môn.”

Dứt lời, bà xoay người bước thẳng vào trong hiên lán tranh, không ngoái đầu nhìn lại.

Chưởng sự viện quỳ chết lặng giữa sân, đám đệ tử phía sau cúi gầm mặt xấu hổ. Biết không thể lay chuyển nổi ý chí sắt đá của bà lão bách nghệ, Chưởng sự viện thở dài não nề, nâng khay ngọc đứng dậy, lủi thủi dẫn đoàn người lui bước ra khỏi ngõ hẹp giữa ánh nhìn lạnh nhạt của xóm thợ.

Khi bóng áo trắng cuối cùng khuất hẳn sau rặng đá ngoằn ngoèo, Hẻm Tro Tàn bỗng vỡ òa trong tiếng thở phào nhẹ nhõm.

Khang Tố Uyển ngồi lại dưới mái hiên nhà tranh đầy nắng sớm. Mùi khói bếp củi ấm nồng tỏa ra từ những gian vách đất hòa quyện cùng hương thơm ngai ngái, thanh khiết của rễ cây đỗ đỏ, lá chàm ngâm ngũ sắc phơi ngoài bờ dậu.

Từ đầu ngõ, tiếng gậy trúc gõ lộc cộc quen thuộc vang lên. Ông lão mù – người ông già yếu của Tiểu Mạch – được người làng dìu từng bước chậm rãi tiến vào khoảng sân nhỏ. Hai bàn tay khẳng khiu của ông cẩn trọng bưng chiếc bát sành mộc mạc, bên trong đầy ắp những hạt gạo nếp nương trắng ngần, mẩy tròn và thơm ngát “Khang lão nương ơi! Thóc gạo tiên môn phát chẩn hôm trước, xóm thợ chúng tôi giã lấy gạo trắng. Đây là mẻ gạo nếp đầu mùa dẻo thơm nhất, lão và bà con gom góp lại, xin biếu Khang lão nương nấu bát cháo ăn lót dạ ngày xuân. Ơn cứu mạng của lão nương, muôn đời chúng tôi không dám quên.”

Một người đàn bà từ xóm phu phen chạy ùa vào, đon đả đặt lên chõng chiếc đĩa gốm mộc đựng những chiếc b*nh b** tr*ng n*n còn bốc khói nghi ngút:“Khang nãi nãi, tôi vừa hấp xong mẻ bánh bao nóng hổi, mang vội sang biếu bà và cháu Tiểu Mạch đây ạ!”

Mấy đứa trẻ xóm thợ đầu trần chân đất, mặt mũi lấm lem tro than nhưng đôi mắt sáng ngời rạng rỡ, cũng ríu rít chạy tới quanh chõng tre. Đứa lớn cẩn thận mở bọc lá chuối tươi, chìa ra những nhúm muối hạt trắng trong, mộc mạc “Bà ơi, mẹ cháu dặn mang nhúm muối sạch sang để bà chấm bánh ạ!”

Khang Tố Uyển nhìn bát gạo nếp thơm dẻo, đĩa bánh bao nóng hổi cùng những nhúm muối hạt đượm ân tình, khóe mắt bà xô lại những nếp nhăn hiền hậu. Bà trân trọng đón nhận từng món quà mộc mạc “Bà con để lại đây. Bát gạo nếp thơm này, nhúm muối mặn mòi này, đối với lão thân còn quý giá gấp vạn lần non vàng biển ngọc trên chín tầng mây kia. Mau vào cả trong hiên uống chén nước chè cho ấm bụng.”

Tiếng cười nói rộn rã xua tan đi những tàn tích ảm đạm cuối cùng của trận đại kiếp.

Bên lò than đỏ rực sát vách đá, Chúc Lão Thiết vừa kéo bể vừa cười vang ha hả, tiếng búa gõ nhịp con thoi mới tóe lên những chùm hoa lửa rực rỡ: keng, keng, keng...

“Khang đại tẩu!” Chúc Lão Thiết quệt mồ hôi trên trán, gọi với sang: “Mười chiếc con thoi thép nguội mới tôi vừa tôi xong nước đây. Lưỡi thoi mài nhẵn thín, gờ móc dây uốn cong đúng nửa tấc như lời tẩu dặn, đảm bảo cho lũ trẻ luồn chỉ gai trơn tru không sợ xước tay!”

Bà Khang mỉm cười gật đầu: “Chú Chúc rèn khéo lắm, con thoi vừa tay thế này thì đường chỉ mới đều, mối gút mới chặt.”

Dưới mái hiên lán tranh ngập tràn nắng xuân, Tiểu Mạch ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế đẩu gỗ thấp. Cô bé mười hai tuổi cầm chắc con thoi gỗ đào mòn vẹt – bảo vật truyền thừa mà sư phụ trao tặng – đôi bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt tách từng sợi tơ gai ngũ sắc.

Đám trẻ nhỏ xóm thợ quây quần quanh gối con bé, chăm chú nín thở nhìn theo “Nhìn kỹ nhé,” Tiểu Mạch cất giọng trong trẻo: “Sợi xanh là Mộc, sợi đỏ là Hỏa, sợi vàng là Thổ, sợi trắng là Kim, sợi đen là Thủy. Khi đan mối gút Bình An đầu tiên, ngón cái phải đỡ lấy bụng dây, ngón trỏ luồn qua khe hở rồi khẽ thít lại...”

Một đứa bé trai vụng về làm rối sợi chỉ đỏ, mặt mếu máo sắp khóc. Khang Tố Uyển bước lại gần, ngồi xuống chiếc ghế tre bên cạnh. Bàn tay thô ráp đầy vết chai sần của bà khẽ vỗ về lên mái tóc đứa trẻ, nhẹ nhàng cầm lấy đôi bàn tay non nớt nắn vào đúng thế luồn “Đừng vội con ạ. Dây gai dẫu ráp, nhưng chỉ cần tâm con lặng, lòng con hướng về sự bình an cho cha mẹ, cho lối xóm, thì sợi dây ắt sẽ ngoan ngoãn nghe lời. Đạo thắt nút không chuộng sự vội vã, mỗi mối gút là một tấc lòng bao dung.”

Đứa bé nương theo bàn tay bà Khang rút nhẹ sợi chỉ gai. Một tiếng “tách” giòn giã vang lên êm ái, mối gút Bình An hình cánh hoa năm sắc liền hiện ra tròn trịa giữa lòng bàn tay non nớt. Lũ trẻ xung quanh đồng thanh reo hò thích thú.

Khang Tố Uyển mỉm cười, khoan thai trở lại chõng tre nâng chén nước chè tươi ấm nóng lên môi. Vị chát nhẹ tan nhanh, để lại vị ngọt thanh sâu lắng nơi cuống họng.

Bà ngước nhìn lên bầu trời thung lũng trong xanh không một gợn mây đen. Từng đàn chim én mùa xuân ríu rít chao liệng trên xóm thợ bình yên, tiếng đe búa hòa cùng tiếng cười trẻ thơ rộn ràng khắp ngõ xóm. Không cần đài cao nghênh thiên lộng lẫy, không cần phi thăng trường sinh tịch mịch, đạo thắt nút cổ xưa đã thực sự trở về với đất mẹ, trả lại vẻ đẹp bình dị và tôn nghiêm đích thực cho nhân gian.

Nắng xuân ấm áp tràn qua mái hiên lều tranh rộn rã tiếng cười, khép lại mọi bão giông thế sự trong từng mối gút bình an đượm nghĩa tình nhân thế.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.