Chương 3: Tiếng Vỡ Thao Trường

Bàn tay cụ Hồ Cảnh Trực vẫn dán chặt trên mặt gang lạnh ngắt, ngón tay trỏ miết đi miết lại trên vết gân mảnh như sợi tơ.

Làn gió đêm thổi qua cổng vòm hầm ngầm lành lạnh, nhưng lưng áo cụ lại toát mồ hôi. Nguyễn Thiết thấy sư phụ đứng sững hồi lâu liền bước tới đỡ lấy cánh tay gầy guộc – Sư phụ, người mệt sao?

Cụ Trực khẽ lắc đầu, rút bàn tay khỏi thân súng, ngón tay khẽ co lại giấu vào trong tay áo rộng. Đôi mắt phủ màng đục của cụ nhìn về phía khoảng tối mông lung ngoài cửa hầm, nơi chiếc xe kéo đang chuyển bánh cọt kẹt trên nền đá – Thiết nhi, cẩn thận giá súng. Đêm nay sương muối nhiều, chớ để ẩm ngòi nạp.

Đặng Côn đi ngay cạnh xe pháo vội quay đầu lại, miệng cười xun xoe – Đại sư phụ cứ yên tâm! Lớp đồng bọc quanh then chốt con đã lau dầu trẩu kín kẽ, nước sương không thấm vào đâu được!

Cụ Trực không đáp lời hắn, chỉ siết chặt cây gậy gỗ nghiến trong tay, cất từng bước chậm rãi theo sau đoàn xe hướng ra bãi đất trống ngoài chân thành Tây Đô.

Trời vừa hửng sáng, sương mù bảng lảng giăng kín bãi đất rộng mênh mông dưới chân tường thành đá sừng sững. Hàng cờ thêu chữ “Hồ” đỏ thắm bay phần phật trong gió sớm. Trên khán đài dựng bằng gỗ lim, Tả Thánh Dực Tướng quân Hồ Nguyên Trừng mình mặc giáp hộ tâm đen nhánh đứng chắp tay sau lưng, ánh mắt quắc thước rọi thẳng xuống cỗ đại pháo vừa được cố định càng xe vào cọc gỗ lim chôn sâu dưới đất. Bên cạnh tướng quân, viên quan đốc khảo mặt lạnh như tiền, tay cầm cuốn thẻ tre chép quân lệnh, ánh mắt soi mói từng động tác của toán thợ lò.

Nguyễn Thiết bước tới trước bệ súng, quấn chặt vạt áo thô vào thắt lưng da. Chàng cầm gáo đồng múc từng đấu thuốc súng hạt mịn màu đen óng rót vào miệng nòng, dùng chày gỗ bịt đồng nện nhẹ từng nhịp đều đặn để lèn chặt đáy buồng nạp. Viên quan giám sát bước lại gần, cúi đầu nhìn chăm chú rồi hất hàm – Thuốc súng này cân đúng năm cân theo định mức chưa? Đạn gang có gọt sạch bavia không?

– Bẩm quan lớn, đúng năm cân thuốc mịn sấy khô, đạn gang tròn trơn nhẵn mười phần – Nguyễn Thiết trầm giọng đáp, hai tay nâng viên đạn gang nặng trịch chừng hai mươi cân cẩn trọng đẩy sâu vào lòng súng, sau đó chèn thêm một lớp nùi giẻ tẩm sáp ong.

Cụ Trực đứng cách giá súng chừng mười bước chân, chống gậy lắng tai nghe ngóng. Cụ nghe rõ tiếng gáo đồng va vào miệng nòng, tiếng thụi chắc nịch của chày gỗ lèn thuốc, và cả tiếng th* d*c đầy căng thẳng của đám thợ phụ đang ghìm dây neo. Đôi tai cụ lọc qua từng âm thanh, nhưng trong lòng lại trĩu nặng mối lo về vết gân ngầm nơi khối đáy nạp.

– Khai hỏa phát thứ nhất! – Tiếng Hồ Nguyên Trừng dõng dạc vang lên từ trên khán đài, át cả tiếng gió rít qua khe đá.

Một pháo thủ dày dạn kinh nghiệm tiến lên, tay cầm thanh sắt dài kẹp bùi nhùi rực lửa, thổi mạnh một hơi rồi châm thẳng vào lỗ ngòi sau khối khóa nòng.

Xì… xì…

Tia lửa hỏa mai cháy lách tách rực sáng rồi thụt sâu vào buồng nạp.

“ĐOÀNG!”

Một tiếng sấm rạch ngang trời đất. Khói trắng bốc lên cuồn cuộn như mây mù, cỗ xe pháo giật lùi về phía sau nửa thước, xới tung hai rãnh đất sâu hoắm nhưng giá gỗ lim bọc đồng vẫn đứng vững. Phía xa ngoài ba trăm trượng, bụi đất trên gò đồi tung lên mù mịt.

– Bắn tốt! Trúng ngay tim gò đất! – Đám binh sĩ đứng canh reo hò rầm rộ.

Viên đốc khảo gật đầu vẻ vừa ý, phất tay áo – Phát thứ hai, tiếp tục năm cân thuốc!Phát bắn thứ hai lại nổ vang giòn giã, khói thuốc súng bảng lảng mùi diêm sinh bay tản vào sương sớm. Cỗ pháo vẫn chịu lực tốt, vỏ nòng chỉ hơi nóng lên. Đặng Côn đứng nép sau cột cờ khẽ nhíu mày, ánh mắt hắn đảo lia lịa, hai bàn tay khẳng khiu bóp chặt vào nhau vẻ bồn chồn khó hiểu.

Cụ Trực vẫn đứng im như pho tượng đá. Gió sớm đưa tà áo bạc của cụ bay là đà. Cụ không màng tới tiếng reo hò, tai cụ chỉ chăm chú đón lấy âm vang dội lại từ thân nòng sau phát nổ. Một tiếng rạn cực nhỏ, mơ hồ như tiếng móng tay cào nhẹ trên đá vôi lọt vào tai lão tông sư.

Đúng lúc ấy, viên giám quan bước tới trước bệ súng, giọng lạnh lùng cao ngạo – Tả Thánh Dực Tướng quân truyền lệnh thử liều tối đa. Cho tăng lên tám cân thuốc mịn hạt nhỏ, nạp đạn kép để xem nòng gang chịu nổi sức ép nghênh giặc nơi cửa sông hay không!

Nguyễn Thiết giật mình, toan lên tiếng can ngăn vì tám cân thuốc hạt mịn vượt quá mức chịu đựng thông thường của nòng pháo đúc sơ bộ. Nhưng lệnh tướng quân đã ban, viên quan giám sát trừng mắt thúc giục, chàng đành nghiến răng xúc thêm ba cân thuốc đổ vào lòng súng.

– Chuẩn bị… Khai hỏa!

Pháo thủ run run đưa thanh sắt đỏ châm vào lỗ ngòi.

Khác hẳn hai lần trước, tia lửa vừa lọt vào buồng nạp, không gian bỗng như nghẽn lại trong một cái chớp mắt. Rồi một tiếng rít chói tai, sắc nhọn tựa tiếng xé lụa sắt bùng lên, nối tiếp bằng một tiếng gầm dữ dội xé toạc đất trời.

“OÀNG!”

Lửa đỏ phụt ra không chỉ từ miệng nòng mà bùng phát thành một quầng lửa khổng lồ ngay giữa thân súng. Áp lực kinh hoàng nổ tung buồng nạp. Nòng pháo gang bọc sắt nứt toác làm đôi như thân cây mục bị sét đánh, vô số mảnh kim loại sắc nhọn văng tung tóe bốn phương tám hướng.

– Á!

Tiếng thét hãi hùng vang lên. Hai pháo thủ đứng cạnh không kịp né tránh, một người bị mảnh gang cứa toạc bắp đùi máu chảy đầm đìa, một người bị sức ép hất văng xuống rãnh đất ngất lịm. Bụi đất, khói đen mù mịt bao trùm cả thao trường trong cảnh hỗn loạn tột cùng.

– Hộ giá! Hộ vệ Tướng quân! – Binh sĩ rút gươm tuốt trần lao lên chắn trước khán đài.

Viên quan giám sát mặt cắt không còn hạt máu, lảo đảo lùi lại mấy bước rồi lập tức đỏ bừng mặt vì tức giận. Y chỉ thẳng tay vào mặt Nguyễn Thiết và đám thợ đúc Đao Thiết Cục đang bàng hoàng, quát tháo the thé – Quân phản nghịch! Tay nghề thợ thuyền đê tiện, làm ăn gian dối! Đem thứ sắt thép rỗng mục này dâng lên triều đình để sát hại tướng sĩ sao? Có phải các ngươi muốn dâng giang sơn này cho giặc Bắc không?

Nguyễn Thiết sững sờ, hai hàm răng nghiến chặt đến suýt bật máu, quỳ sụp xuống bên cạnh pháo thủ bị thương để băng bó nhưng ánh mắt không giấu nổi nỗi cay đắng, uất ức. Đặng Côn nhanh nhảu quỳ mọp xuống đất, dập đầu lia lịa – Quan lớn tha mạng! Tiểu nhân chỉ biết trát bùn làm khuôn, việc nấu gang luyện thép đều do… do lò đúc quyết định!

Hồ Nguyên Trừng từ trên khán đài bước xuống, sắc mặt xám xịt như sắt nguội, ánh mắt thâm trầm dừng lại trên đống đổ nát ngổn ngang.

Giữa làn khói thuốc súng khét lẹt mịt mùng và sự hoảng loạn của đám thợ trẻ, một bóng người gầy guộc, lưng còng vẫn vững chãi bước qua lớp đất đá cày xới. Cụ Hồ Cảnh Trực chống gậy, từng bước chậm rãi mà kiên định tiến thẳng tới bên xác cỗ đại pháo vỡ vụn.

Cụ dừng lại trước mảnh nòng pháo lớn nhất vừa văng cắm ngập vào mô đất, thân kim loại còn đang tỏa hơi nóng hầm hập. Lão tông sư một trăm hai mươi bốn tuổi bỏ gậy sang một bên, chậm rãi quỳ một gối xuống nền đất lạnh, vươn bàn tay trần đầy sẹo bỏng áp thẳng vào gờ thép nứt toác.

Cụ cúi rạp người xuống, đưa chóp mũi áp sát vào thớ gang lởm chởm vừa gãy lìa còn nghi ngút khói. Một mùi khét nồng nặc, ngai ngái xộc thẳng vào sống mũi – mùi lưu huỳnh hôi thối quyện chặt với bột xỉ chì độc hại bám đen kịt trong từng kẽ nứt li ti của thớ sắt, thứ mùi tà độc tuyệt đối không thể nào sinh ra từ ngọn lửa than lim thuần khiết của đất Tây Đô.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.