Chương 17: Bùa Than Dưới Lũy Bến

Lời thì thào của người lính trinh sát vừa dứt, hơi lạnh buốt từ ngọn gió sông thổi thốc qua khe áo tơi khiến sống lưng Nguyễn Thiết khẽ rùng mình. Đôi mắt chàng rực lên ngọn lửa giận dữ, bàn tay siết chặt lấy chuôi đoản đao giắt bên hông. Hàng chục lu dầu trẩu cùng bùi nhùi lưu huỳnh đã ém sẵn, chỉ đợi nửa đêm phóng hỏa thiêu rụi kho thuốc súng của đồn binh!

Cụ Hồ Cảnh Trực đứng lặng bên cạnh, hai bàn tay thô ráp đan vào nhau trên đầu gậy sắt bịt đồng. Khuôn mặt già nua của đại tông sư hằn sâu những nếp nhăn trầm mặc, đôi mắt mờ đục nhìn thẳng vào khoảng mông lung của dòng sông giăng kín sương mù. Cụ cất giọng khàn đục mà vững chãi – Thiết nhi, giặc muốn đốt kho súng, ắt phải có kẻ dẫn đường và ám hiệu thông đồng. Thuyền pháo của ta cồng kềnh, nếu cứ thế xông thẳng vào lũy bến chính ắt đánh rắn động cỏ.

– Thưa Sư phụ, con hiểu ý người. – Nguyễn Thiết lập tức quay sang người trinh sát và viên đà chủ, dứt khoát hạ lệnh: – Lái thuyền rẽ sang mé tây, nép vào vụng đá Hang Én cách bến Bạch Hạc chừng nửa dặm. Ở đó có vách đá vôi nhô ra che chắn, bãi cạn lau lách rậm rạp, thuyền lớn đậu lại tuyệt đối kín đáo.

Mái chèo khẽ khàng khua nước không một tiếng động. Chiếc thuyền sàn chở ba cỗ Thần Cơ đại pháo cùng đoàn mông đồng hộ tống nhẹ nhàng trườn vào vụng đá khuất. Khi dây néo đã buộc chặt vào gốc cây si cổ thụ bên vách đá, Nguyễn Thiết cởi bỏ áo giáp hộ thân, khoác lên mình tấm áo cộc rách tơi tả của phu phen, mái tóc búi tó xốc xếch điểm vài vệt bùn sình. Chàng giắt mảnh giấy dó vẽ bùa than hình móc câu thu được từ người Đặng Côn vào thắt lưng gai, dắt thêm một lưỡi dao găm ngắn giấu kín trong ống tay áo rộng.

– Sư phụ ở lại giữ thuyền, con vào bến dò la thực hư!

– Con đi phải cẩn trọng. – Cụ Trực vỗ nhẹ lên vai đệ tử, dặn dò từng tiếng: – Đôi tai phải tĩnh như mặt nước mùa thu, mắt nhìn không chớp. Kẻ mang dã tâm thường hay liếc ngang liếc dọc, chân bước hấp tấp nhưng gót không chạm đất. Nhớ kỹ, bắt giặc phải bắt tận tay!

Nguyễn Thiết cúi đầu vâng mệnh rồi thoăn thoắt nhảy lên bờ đá, bước chân lẹ làng lẩn vào màn sương sớm đục ngầu như sữa.

Bến sông Bạch Hạc buổi sớm mai ken đặc mùi tanh nồng của cá mè, cá trôi và mùi bùn bãi ẩm mục. Tiếng người mua kẻ bán ồn ã rộn ràng khắp dải bến cát, nhưng dưới ánh mắt tinh tường của Nguyễn Thiết, vẻ nhộn nhịp ấy lại ẩn chứa điều bất thường. Chàng vác trên vai đôi sọt tre rỗng, giả dạng làm phu gánh cá thuê, thong thả cất bước dọc bờ rào nứa ngăn cách bãi chợ với doanh trại của quân Đại Ngu trên đồi cao. Đảo mắt quan sát, chàng nhận thấy vài gã phu đò vạm vỡ nhưng tay chân không hề có vẻ lam lũ của người chài lưới; ánh mắt chúng sắc lạnh, chốc chốc lại lén nhìn về hướng vọng gác kho quân nhu của đồn binh.

Đi men theo con lạch nhỏ dẫn ra mép nước hoang vắng cách xa bến chính, Nguyễn Thiết khựng lại sau một rặng sậy um tùm. Dưới bóng râm của một căn lều tranh xiêu vẹo cắm cọc sát mé nước, thoang thoảng bốc lên mùi dầu trẩu nồng hắc lẫn mùi khét quen thuộc của lưu huỳnh thô – thứ mùi mà chàng đã ngửi suốt bao năm bên bễ than Đao Thiết Cục.

Nấp kín sau thân cây sung cổ thụ, Nguyễn Thiết ghé mắt qua khe vách nứa rách nát.

Bên trong căn lều tối tăm ẩm thấp, bốn gã đàn ông bặm trợn đang ngồi xổm quanh một chiếc bàn gỗ mục. Ngồi ở vị trí đầu bàn là một gã trùm phu đò dong dỏng cao, mặt vuông râu quai nón, khóe mắt có vết sẹo dài đỏ ửng. Trên cán chiếc dầm chèo dựng cạnh gã, một vệt bùa than hình móc câu uốn lượn được khắc chìm rõ mồn một, giống hệt nét mực trên mảnh giấy dó mà chàng đang mang trong người!

Gã trùm phu đò cất giọng the thé, mang đậm thổ ngữ phương Bắc cố gượng ép theo tiếng bản địa – Đêm nay sương mù trên ngã ba sông sẽ dày đặc nhất. Tiếng còi rúc từ soái hạm của Trương tướng quân ở cửa sông Thao vang lên ba tiếng dài làm hiệu, các ngươi lập tức chia hai ngả hành động.

Vừa nói, gã vừa cúi xuống lôi từ gầm chõng tre ra những bầu da trâu bóng nhẫy, phân phát cho ba tên đàn em – Ba lu dầu trẩu cùng mười bầu hỏa chất ngậm lưu huỳnh này, hai đứa mang theo bùi nhùi tiếp cận hàng rào phía đông kho súng. Canh năm khi quân tuần tra đổi kíp, phóng hỏa đốt trụi toàn bộ thuốc súng cho ta! Còn lại hai người theo ta, mang đục sắt và xà beng cắm sẵn dưới thuyền nan. Khi kho súng phát hỏa làm rối loạn đồn binh, thuyền tải pháo của triều đình Hồ nếu tới nơi hoặc cập bến phụ, ta sẽ lặn sâu đục thủng đáy thuyền, dìm ba cỗ pháo thép xuống đáy bùn ngã ba sông!

Một tên đàn em mặt choắt ngập ngừng hỏi – Thưa đại ca, ngộ nhỡ thuyền chở pháo của chúng chưa đến kịp thì sao?Gã trùm phu đò cười gằn, ánh mắt tóe lên tia hung quang tàn độc – Không đến cũng phải chết chìm! Kho thuốc súng nổ tung, lửa cháy ngút trời, hai mươi chiến thuyền bọc sắt của triều đình Đại Minh bên kia sông sẽ xông thẳng vào ngã ba sông san phẳng bến Bạch Hạc trong nháy mắt. Chúng ta lập công lớn, tước lộc vinh hoa hưởng không hết!

Nghe từng lời mưu mô hiểm ác ấy, lồng ngực Nguyễn Thiết phập phồng dữ dội. Thì ra lũ giặc không chỉ muốn thiêu rụi kho súng mà còn định dùng kế lặn đục thuyền để chôn vùi ba cỗ "Bạch Hạc Thần Uy" – mồ hôi và tâm huyết bao ngày đêm của sư phụ cùng toàn thể thợ rèn Đao Thiết Cục!

Chàng hít sâu một hơi, nén chặt cơn giận dữ, lặng lẽ ghi nhớ từng khuôn mặt, từng vị trí đặt bầu hỏa chất trong căn lều. Đợi khi gã trùm phu đò xua tay cho lũ đàn em tản ra ngoài, Nguyễn Thiết mới khẽ khàng lùi từng bước chân trên lớp cát xốp, lách qua rặng sậy rồi nhanh chóng biến mất vào dòng người ồn ào nơi góc chợ cá.

Nửa khắc sau, Nguyễn Thiết đã có mặt tại quân doanh đồn trú Bạch Hạc. Trên chiếc sập gỗ trong lều chỉ huy, Tả Thánh Dực Tướng quân Hồ Nguyên Trừng vừa kịp cưỡi ngựa tới nơi cùng quan chỉ huy đồn binh họ Trần; cụ Hồ Cảnh Trực cũng được hộ tống đến, nghiêm trang ngồi bên cạnh thanh bảo kiếm lệnh khảm ngọc đen.

Nguyễn Thiết bước vào quỳ một gối, dứt khoát bẩm báo – Khởi bẩm Tướng công, thưa Sư phụ! Thuộc hạ đã lần ra hang ổ của toán nội ứng. Kẻ cầm đầu là gã trùm phu đò buôn cá mang dấu bùa than trên cán dầm chèo. Bọn chúng chia làm hai toán: một toán mang dầu trẩu và bầu hỏa chất đốt kho súng, toán còn lại mang đục sắt lặn xuống sông hòng đục thủng đáy thuyền tải pháo!

Hồ Nguyên Trừng đập mạnh tay xuống mặt bàn, mày kiếm dựng ngược – Lũ giặc cướp phương Bắc thật thâm độc! May nhờ có mưu trí của các ngươi mà âm mưu của chúng bại lộ trước giờ xuất quân!

Viên tướng họ Trần lập tức rút lệnh tiễn – Xin Tướng công cho lệnh, mạt tướng sẽ điều năm trăm thiết giáp binh bao vây tiêu diệt sạch lũ gian tế ngay bây giờ!

– Khoan đã! – Cụ Hồ Cảnh Trực bỗng giơ thanh gậy sắt lên, chậm rãi lắc đầu. Giọng cụ đanh thép vang rền gian lều: – Bắt giặc giữa thanh thiên bạch nhật nơi chợ cá ắt khiến chúng cùng đường nhảy xuống sông tẩu thoát, lại làm lộ cơ mưu với hạm đội thuyền bọc sắt của giặc Minh đang ém ngoài cửa sông. Chi bằng tương kế tựu kế! Ban ngày cứ để chúng ngỡ mưu mô trót lọt. Ban đêm, ta giăng lưới sắt phục kích quanh kho súng và dưới đáy nước bến thuyền, đợi chúng mang hỏa chất vào tận tròng mới chụp gọn!

Hồ Nguyên Trừng gật đầu tán thưởng, ánh mắt rực sáng – Diệu kế của Lão tiền bối đúng là vẹn toàn! Truyền lệnh ta: nội bất xuất, ngoại bất nhập, chuẩn bị sẵn lưới sắt và tay nỏ mai phục. Đêm nay, ngã ba sông Bạch Hạc sẽ là mồ chôn lũ nội gián b*n n**c!

Thời gian nặng nề trôi qua theo từng hạt cát rơi trong đồng hồ nước. Màn đêm buốt giá dần buông xuống phủ kín khúc sông ngã ba Bạch Hạc, sương mù trắng xóa dâng lên cuồn cuộn tựa khói tỏa trên mặt sóng lạnh ngắt.

Nguyễn Thiết đứng trên chòi canh ven bờ, bàn tay nắm chặt chuôi búa sắt, căng tai lắng nghe từng biến động của đất trời. Đột nhiên, từ phía màn sương mịt mùng ngoài cửa sông Thao xa xăm, ba tiếng còi đồng rúc lên trầm đục “Rúc… rúc… rúc…”

Âm thanh ma quái xé toạc màn đêm tĩnh mịch, vọng lại trên mặt sóng rợn người, báo hiệu giờ hành động đẫm máu của toán nội gián đã chính thức điểm.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.