Chương 15: Bảo Kiếm Hoàn Trao

Tiếng hô xuất quân của Tả Thánh Dực Tướng quân vừa dứt, binh sĩ và thợ thuyền lập tức tản ra các vị trí, khẩn trương chuẩn bị cho cuộc hành quân đêm. Hồ Nguyên Trừng tra thanh kiếm bên hông vào vỏ, tiến lại gần, cung kính dìu lão tông sư rời khỏi đài bắn thao trường trở về Đao Thiết Cục.

Tại sảnh chính Đao Thiết Cục, ánh nến lung linh hắt lên những vách đá vôi xám lạnh. Không khí hừng hực của ngàn phát đạn thử lửa dường như vẫn còn đọng lại trên từng phiến đá, thớ gỗ.

Hồ Cảnh Trực đứng trước hương án tổ nghề rèn. Cụ cúi đầu làm lễ tạ ơn tiên tổ bách nghệ đã chở che cho mẻ đúc gian nan, đoạn quay người lại. Đôi bàn tay già nua, chai sần ngang dọc những vết sẹo bỏng than nâng bổng thanh bảo kiếm lệnh khảm ngọc đen – vật biểu trưng cho quyền tiền trảm hậu tấu mà Tướng quân đã trao vào tay cụ trong những ngày xưởng rèn lâm vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc.

Cụ Trực bước chậm rãi đến trước mặt Hồ Nguyên Trừng, hạ giọng trầm đục mà dõng dạc – Bẩm Tướng công, lão già này xin hoàn kiếm. Đao Thiết Cục nay đã sạch bóng gian tế, lòng người một mối như sắt tôi qua lửa. Ba cỗ đại pháo nòng thép bọc gang rèn bằng bùn khoáng non sông Mã mang tên "Bạch Hạc Thần Uy" đã hoàn tất trọn vẹn, vượt qua ba trăm phát đạn thử lửa không hề suy suyển. Mệnh lệnh của triều đình giao phó, lão cùng học trò và thợ đúc đã dốc cạn sức tàn hoàn thành. Nay xin trao lại kiếm lệnh để Tướng công toàn quyền thống lãnh ba quân.

Hồ Nguyên Trừng nhìn thanh kiếm lệnh nằm ngay ngắn trên đôi tay run rẩy nhưng vững vàng của vị lão tông sư trăm tuổi. Ánh mắt vị tướng quân ba mươi hai tuổi lay động, gương mặt lộ rõ niềm xúc động và kính cẩn khôn xiết. Chàng không hề đưa tay đón lấy kiếm, trái lại lùi nửa bước, chắp tay cúi mình thật sâu – Lão tiền bối! Kiếm lệnh này trao cho cụ không chỉ để trị gian trong xưởng, mà là niềm tin của Trừng này cùng xã tắc gửi gắm vào bậc rường cột của bách nghệ nước nhà. Ba cỗ thần pháo tuy đã thành, nhưng đường lên Bạch Hạc muôn trùng thác ghềnh, ngã ba sông gió to sóng dữ. Hơn nữa, pháo thần cần người hiểu rõ từng thớ sắt, từng nhịp thở của ngòi nổ mới phát huy được hết uy lực kinh thiên động địa.

Hồ Nguyên Trừng ngẩng đầu, ánh mắt tha thiết nhìn thẳng vào đôi mắt mờ đục của cụ Trực – Trừng này khẩn khoản cầu xin Lão tiền bối cùng đoàn thợ tinh nhuệ của Đao Thiết Cục đích thân tháp tùng cỗ pháo ngược dòng lên ngã ba Bạch Hạc, nắm quyền chỉ huy bố trận hỏa khí nơi tiền duyên. Có cụ bên cạnh ba cỗ thần cơ, tướng sĩ bờ cõi mới vững lòng giữ ải. Xin Lão tiền bối chớ chối từ!

Cụ Trực lắng nghe từng lời tâm huyết của vị hoàng tử tướng quân. Đôi tai cụ cảm nhận được nhịp thở dồn dập, tha thiết và chân thành tuyệt đối trong từng thanh âm. Cụ im lặng một thoáng, ngực phập phồng theo từng luồng nhiệt khí bốc lên từ lòng đất Tây Đô. Cụ hiểu rằng, khi non sông đứng trước họa diệt vong bởi móng vuốt quân cuồng Minh, thân già này đâu thể an nhàn ngồi lại chốn hậu phương.

– Tướng công đã vì giang sơn mà hạ mình cầu hiền đến bực này, già sao dám tiếc mấy đốt xương tàn? – Cụ Trực thu kiếm về, nắm chặt chuôi ngọc đen, giọng rền vang chính khí. – Già xin vâng mệnh! Ba cỗ "Bạch Hạc Thần Uy" đi đến đâu, lão già này cùng búa đe Đao Thiết Cục sẽ theo đến đó, quyết cùng tướng sĩ gìn giữ từng tấc đất bờ cõi!

– Đa tạ Lão tiền bối! – Hồ Nguyên Trừng reo lên mừng rỡ, lập tức hạ lệnh điều động đội thuyền hộ tống thiện chiến nhất bến Tây Đô.

Không chậm trễ nửa khắc, cụ Trực chống gậy sắt bịt đồng đi thẳng xuống bến ngầm dưới chân thành. Nơi đây, ba cỗ đại pháo Thần Cơ khổng lồ đã được kích kéo cẩn thận đặt lên sàn gỗ của chiến thuyền chuyên dụng.

Mắt lòa không thấy rõ hình thù, nhưng từng giác quan của người thợ già trăm năm lại sắc bén hơn bất kỳ ai. Cụ Trực lần từng bước quanh sàn thuyền chở pháo trung quân. Cụ cúi người, bàn tay thô ráp miết dọc theo từng thanh giá pháo làm bằng gỗ lim già nguyên khối. Cụ gõ mũi gậy sắt vào từng chiếc nêm gỗ, nêm sắt đóng chặt cố định bánh xe pháo, lắng nghe tiếng "cộc, cộc" đanh chắc vang lên để đo độ khít khao.– Thiết nhi! – Cụ Trực cất tiếng gọi.

Nguyễn Thiết đang cùng toán thợ siết lại những vòng chão lớn vội buông tay chạy lại – Dạ, con đây thưa Sư phụ!

– Mấy sợi dây lèo giữ đuôi pháo này bện bằng sợi gai dầu hay mây nước? – Cụ Trực dùng mu bàn tay sờ vào nút thắt lớn bọc quanh khối đáy pháo.

– Thưa Sư phụ, là dây gai dầu già tẩm dầu trẩu ba lượt, bện dày bốn tấc, chịu được sức kéo ngàn cân ạ! – Nguyễn Thiết đáp, giọng chắc nịch.

Cụ Trực gật đầu, nhưng vẫn dặn dò nghiêm cẩn – Đường sông ngược lên Bạch Hạc nhiều thác cạn, nước chảy như tên bắn. Thân pháo bằng gang thép nặng hàng ngàn cân, chỉ cần trượt nửa tấc là đắm thuyền như chơi. Con phải mang theo sẵn ba chục chiếc nêm sắt dự phòng và hai búa tạ ngay dưới chân giá, hễ nghe tiếng dây chằng rên siết là phải chêm giữ tức thì, tuyệt đối không được lơ là nửa khắc!

– Con xin ghi nhớ từng lời sư phụ dạy! – Nguyễn Thiết chắp tay lĩnh mệnh, lập tức quay lại kiểm tra lần cuối từng hòm nêm sắt và bao tải chốt hãm.

Canh ba đêm ấy, trăng mờ khuất sau tầng mây xám đục. Bến ngầm mở toang then cài bằng gỗ lim.

Một hồi tù và trầm hùng vang lên xé toạc màn đêm tĩnh mịch. Đoàn thuyền tải pháo gồm một thuyền sàn lớn chở ba cỗ Thần Cơ đại pháo nòng thép cùng năm chiến thuyền mông đồng hộ tống của Tả Thánh Dực quân từ từ tách bến, rẽ sóng rời khỏi Đao Thiết Cục. Trên các thuyền hộ tống, cung thủ và pháo thủ nai nịt gọn gàng, giáo mác sáng ngời trong bóng tối, sẵn sàng nghênh chiến. Thuyền rẽ nước ngược dòng sông Mã, mang theo toàn bộ niềm hy vọng và vận mệnh non sông Đại Ngu tiến thẳng về ải đầu sóng Bạch Hạc.

Cụ Trực ngồi tĩnh tọa ở khoang giữa của thuyền tải pháo, ngay bên cạnh cỗ pháo trung quân, hai tay chống lên thanh gậy sắt bịt đồng. Tiếng nước sông Mã vỗ bì bõm vào mạn thuyền lim hòa cùng tiếng thở đều đặn của hàng trăm phu chèo lực lưỡng.

Đoàn thuyền cứ thế lướt đi trong đêm, vượt qua những vách núi đá vôi sừng sững của đất Thanh Hoa, dần tiến sâu vào khúc sông hiểm trở hướng về ngã ba sông. Sương đêm buông xuống mỗi lúc một dày đặc, lành lạnh phả vào da thịt.

Bỗng nhiên, từ phía mũi thuyền, Nguyễn Thiết đang đứng quan sát luồng nước bỗng giật thót mình. Chàng nghiêng đầu đón luồng gió bấc thổi lồng lộng ngược từ hướng bến Bạch Hạc lại, hai cánh mũi khẽ phập phồng.

Một mùi khét lẹt ngai ngái, vừa giống mùi dầu trẩu cháy dở, vừa tanh nồng như mùi cá ươn quyện trong khói bếp ẩm ướt thoang thoảng bay tới giữa làn sương lạnh. Nguyễn Thiết siết chặt quai búa nặng ba mươi cân trong tay, mắt nhìn trừng trừng vào màn đêm mịt mùng phía trước, vẻ mặt bỗng chốc đanh lại đầy cảnh giác.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.