Chương 6: Mảnh Giấy Chuyển Tiền
Âm thanh rạn toác chát chúa vừa dội xuống từ đỉnh vòm đá, Tiệp không kịp suy nghĩ, quăng mạnh thân mình về phía trước. Cánh tay gân guốc của người thợ già chộp lấy vai áo Đính, giật thốc người thợ phụ lùi mạnh về sau. Chiếc chân thọt gồng cứng lấy đà, Tiệp kéo Đính ngã dạt vào khoảng giữa hai dải ray thép, vừa vặn tránh khỏi tảng đá hộc to bằng chiếc nồi đồng từ vòm cuốn rơi ụp xuống làm thanh tà vẹt gỗ lim vỡ toác. Bụi vôi cùng sỏi dăm bắn rát rạt vào nón lá. Gió hầm sâu rít lên từng hồi u uất, cuốn theo mùi bùn đất ẩm mục và hơi khói trầm buốt giá rợn người. Dưới chân bức tường bịt ngách số 3, dòng bùn đỏ quạch sền sệt vẫn không ngừng ứa ra qua kẽ nứt, trườn qua đống đá dăm nhuộm sẫm một bên đầu ray kim loại.
— Chú Tiệp... Chú có sao không chú? — Đính run lẩy bẩy, hai tay bấu chặt lấy bả vai Tiệp, giọng lạc hẳn đi giữa tiếng th* d*c nghẹn ngào.
— Chưa chết được! Mau đứng dậy, rảo chân ra ngoài! — Tiệp gằn từng tiếng khàn đục, lồng ngực phập phồng sau cơn thắt nghẽn.
Tiệp ngước nhìn lên vòm hầm. Dưới ánh đèn khí đá, một đường rãnh nứt sâu hoắm tựa hàm ếch khổng lồ đang ngoác miệng ngay trên tuyến ray chính. Tầng đá ngầm của đèo Heo Hút đã suy kiệt sau những đợt mưa dầm dai dẳng; nhịp gõ sắt cùng dòng bùn in dấu tay cào bấu nơi ngách cụt chính là lời báo nguy khẩn thiết từ những người anh em khuất mặt. Vòm đá này không thể chống đỡ thêm được bao lâu nữa. Nếu đoàn tàu nặng hàng trăm tấn rầm rộ lăn bánh qua đây, chấn động sẽ kéo sập toàn bộ vòm hầm, chôn vùi tất cả xuống đáy vực tăm tối.
Canh ba đã tàn, gió lạnh ngoài cửa hầm bắt đầu đổi hướng báo hiệu trời sắp rạng. Tiệp một tay siết chặt cây búa tuần đường, một tay xốc nách dìu Đính gượng dậy. Hai cái bóng xiêu vẹo bước khập khiễng trên mặt đá balat trơn tuột, lầm lũi rảo bước về phía ánh sáng mờ đục nơi cửa Bắc.
Khi hai người về tới chòi tuần đường số 14, bình minh mùa đông đã hé rạng sau rặng núi xa. Bầu trời đèo Heo Hút xám ngoét màu chì, mưa phùn ràn rạt quất vào mái tôn xi vẹo phát ra những tiếng lộp bộp khô khốc. Cả Tiệp lẫn Đính đều ướt sũng từ đầu đến chân, nước mưa lạnh ngắt hòa lẫn lớp bùn đỏ nhớp nháp bám đầy đôi xà cạp vải thô và ống quần lấm lem muội than.
Tiệp đặt cây đèn đồng lên chiếc bàn gỗ mộc mòn vẹt ở góc chòi, hai hàm răng va vào nhau lập cập vì cái rét buốt thấu xương. Căn chòi gỗ chật chội phảng phất mùi khói bếp quen thuộc, che chở cho họ khỏi những cơn gió bấc hung hãn đang gầm rít bên bờ vực thẳm.
— Thằng Đính, ngồi xuống khều lại bếp than củi cho ấm người. Cởi áo ướt ra mau, để ngấm lạnh vào phổi là sốt rét rừng quật ngã đấy! — Tiệp vừa nói vừa tháo chiếc áo tơi đệm xơ dừa sờn cũ móc lên vách nứa, chiếc chân thọt nhói buốt sau chặng đường dài chống đỡ dưới lòng hầm.
Đính khẽ vâng một tiếng, đôi môi tím tái vì lạnh và sợ hãi. Cậu run rẩy cởi chiếc áo bà ba vải thô ướt đẫm bết chặt vào da thịt, vặn mạnh vạt áo cho róc nước toan vắt lên chiếc sào tre bên bếp than. Bất thần, từ mép túi áo trong đã sờn rách chỉ của Đính, một bọc nhỏ rơi “bịch” xuống sàn ván gỗ ẩm ướt, rồi lăn tròn đến sát mũi giày vải thô của Tiệp.
Đó là một gói nhỏ bọc bằng lá sen khô đã mòn vẹt bốn góc, lớp vỏ lá ngả sang màu vàng ố của thời gian, được buộc chặt bằng một sợi chỉ đỏ bện đôi. Cú rơi khiến sợi chỉ mục nát đứt lìa, lớp lá sen khô hé mở làm lộ ra những vật phẩm cất giấu bên trong.
Tiệp cúi người nhặt gói lá sen toan đưa lại cho người thợ phụ. Nhưng khi ánh mắt chạm vào những mảnh giấy rơi ra trên lòng bàn tay, toàn thân ông bỗng khựng lại như bị sét đánh ngang tai.
Bên trong lớp lá sen là một lá bùa bình an vẽ chu sa đỏ đã phai nhạt theo năm tháng, kẹp chặt lấy một tờ giấy mỏng gấp tư có mép sờn rách. Đó là mẩu giấy chuyển tiền từ nhà dây thép ở vùng duyên hải miền Trung, góc giấy đã ngả màu ố vàng vì mồ hôi và hơi ẩm.
Ở mặt sau mẩu giấy chuyển tiền, dưới ánh than hồng le lói, Tiệp nhìn thấy những dòng chữ nắn nót, run rẩy viết bằng mực tím “Đính con... Mẹ gom góp gửi cho con năm đồng bạc hoa xòe làm lộ phí lên đèo. Con theo chân các bác thợ tuần đường học lấy cái nghề kiếm cơm, nhưng nhớ lời mẹ dặn: lên đến đèo Heo Hút, ráng dò hỏi các bậc thợ già xem phần mộ của cha con... ông Đoàn Văn Bưởi... năm xưa vùi xác ở ngách lò nào thì xin người ta chỉ cho, đặng thắp cho cha một nén nhang cho ấm lòng nơi đất lạnh...”Từng con chữ như nhát búa nện thẳng vào lồng ngực Tiệp. Đôi mắt sâu thẳm của người thợ già mở to, bờ môi nứt nẻ run bần bật.
Đoàn Văn Bưởi.
Cái tên ấy dội về từ ký ức mười năm trước, rõ mồn một như vừa mới hôm qua. Bưởi – người phu mỏ vạm vỡ cùng quê miền biển, tính tình hiền lành, cục mịch nhưng luôn chia nửa củ sắn lùi, sẻ từng bát nước chè tươi cho Tiệp trong những đêm đông rét mướt ở lán trại phu đường. Đêm định mệnh mùa đông năm 1926, khi vòm lò ngách số 3 sập xuống, Bưởi cùng Đội trưởng Ba Cẩn và mười sáu người anh em khác đã vĩnh viễn nằm lại dưới hàng chục tấn đất đá sau bức tường vôi lạnh lẽo kia.
Mười năm qua, Tiệp sống sót trở về mang theo chiếc chân thọt tật nguyền và mảnh thép gãy của cọc chống lò găm sâu trong túi ngực, đêm đêm bị dằn vặt bởi nỗi đau của kẻ sống sót. Ông từng thề trước vong linh những người đã khuất rằng sẽ bảo bọc từng tấc đường ray mà xương máu đồng đội đã đổ xuống. Nhưng ông không ngờ rằng, đứa con trai côi cút của người bạn phu phen năm ấy lại đang đứng ngay trước mặt mình, cũng khoác lên người chiếc áo bà ba vá vai lam lũ để mưu sinh bên rìa vực thẳm này.
Tiệp ngước mắt nhìn Đính. Chàng trai hai mươi mốt tuổi đang co ro bên bếp than, ánh mắt chứa chan nỗi âu lo ngơ ngác khi thấy người thợ già bàng hoàng chết lặng.
— Chú Tiệp... Giấy tờ của con... — Đính ngập ngừng đưa tay ra, giọng thỏ thẻ ái ngại.
Tiệp hít một hơi thật sâu, ghìm nén cơn xúc động đang dâng nghẹn nơi cổ họng. Bàn tay chai sạn của ông cẩn thận gấp lại mẩu giấy chuyển tiền, đặt lá bùa bình an vào giữa rồi bọc kín lớp lá sen khô như cũ. Bàn tay ông vô thức chạm vào ngực áo mình, nơi mảnh thép cọc chống lò năm xưa vẫn nằm im lìm sát bên da thịt. Mảnh thép ấy là bằng chứng cho thấy cọc chống lò năm xưa mục ruỗng kém chất lượng chứ chẳng phải do thiên tai, nhưng ông giấu kín chưa thể tiết lộ. Một lời thề sắt đá bùng cháy trong tim người thợ già: dù phải đánh đổi bằng cả tính mạng tàn phế này, ông cũng quyết che chở cho Đính, quyết không để giọt máu của người bạn cũ phải chịu thêm bất kỳ tai ương nào trên đoạn đèo nghiệt ngã.
Tiệp bước lại gần, trao gói lá sen vào bàn tay run rẩy của Đính, cất giọng trầm lắng và ấm áp lạ thường — Cầm lấy cho cẩn thận, thằng Đính. Giữ lấy bùa của mẹ, đừng để ướt. Chuyện cha mày... cứ yên tâm ở đây với tao. Đợi qua đợt mưa dầm này, tao sẽ đưa mày đi tìm lại người xưa.
Đính ngước nhìn Tiệp, đôi mắt chàng trai trẻ bỗng hoe đỏ, gật đầu thật mạnh trong làn hơi ấm của bếp than củi.
Đúng lúc ấy, một âm thanh chát chúa bất ngờ rít lên từ phía dốc đèo phía Nam.
“Tu... tu... u...!”
Tiếng còi chiếc xe goòng máy từ xa hú vang rền rĩ, xé toạc màn sương mù dày đặc đang cuộn trào trên vách núi, báo hiệu thanh tra Pierre de La Tour đã đặt chân đến đoạn đèo Heo Hút. Âm thanh khô lạnh rạch nát bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm mai, dội vào vách đá tiếng máy nổ phành phạch đanh thép và ngạo mạn.
Tiệp quay phắt người nhìn qua ô cửa sổ chòi gác. Qua làn sương giăng mờ mịt bên triền đèo, chiếc xe goòng máy sơn đen bóng lộn đang trườn tới dốc cua. Cơn giông bão thực sự của lòng người giờ đây mới bắt đầu ập xuống cửa hầm.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
