Chương 17: Giờ Đen Tối Trước Bình Minh

Khối âm thanh rền vang từ đỉnh núi như nhát búa trời giáng xuống nóc đèo Heo Hút, kéo theo những đợt rung chuyển nghẹt thở trong lòng Hầm số 14. Bụi đá và vữa vôi rơi lả tả xuống mặt ray như một trận mưa rào khô khốc. Giữa làn khói mờ và ánh sáng vàng vọt le lói của chiếc đèn bão mà toán lính tuần bỏ rơi lúc tháo chạy, Hàn Văn Tiệp gượng đứng thẳng trên đôi chân khập khiễng, đưa mắt nhìn xuống lòng đường sắt.

Khẩu súng lục ổ quay sáu viên của Pierre de La Tour nằm chỏng chơ trên thanh tà vẹt ngập nước, nòng thép đen ngòm còn vương vệt bùn nhão. Tiệp bước khập khiễng tới, cúi người nhặt khẩu súng lạnh ngắt lên. Bàn tay gân guộc của người thợ già gạt chốt hãm, búng mở ổ đạn tròn xoay. Sáu viên đạn đồng sáng loáng rơi lả tả vào lòng bàn tay dính đầy muội than. Không chút ngần ngại, ông vung tay ném cả nắm đạn tõm xuống rãnh thoát nước sâu ngập ngụa bùn non bên mép hầm, rồi quẳng luôn khẩu súng rỗng vào hốc đá tối tăm sát vách núi. Thứ vũ khí tàn độc ấy không thể cứu vãn được khúc đường sắt này, và ông cũng chẳng cần đến nó để đòi lại công bằng.

Thứ duy nhất lúc này có thể minh oan cho mười tám mạng người nằm lại nơi đây chính là bọc tang vật vừa tìm thấy. Tiệp rút từ trong túi ra mảnh vải dầu bọc kín cuốn sổ điểm danh thợ phu thấm máu khô cùng bản cam kết ăn chia ba nghìn đồng bạc hoa xòe năm xưa. Ông cẩn thận kiểm tra từng nếp gấp rồi nhét sâu vào lớp trong của vạt áo tơi đệm sợi dừa, ghìm chặt vào lồng ngực gầy gò, nơi trái tim đang đập dập dồn từng nhịp đau nhói. Mười năm oan khuất và sự thật về thảm kịch sập hầm phải theo ông bước ra ánh sáng ngoài cửa hầm đêm nay.

Chưa kịp thở một hơi dài, một tiếng rạn nứt dữ dội bỗng xé toạc vòm đá trên đầu.

Từ kẽ nứt toác hình hàm ếch nơi ngách cụt số 3, dòng nước ngầm đỏ quạch tích tụ bấy lâu trên đỉnh đèo bắt đầu đổ ập xuống như thác lũ. Nước xối xả xé toang những mảng vôi vữa ngụy trang còn sót lại, cuốn theo bùn non và đá vụn trút ầm ầm xuống hai dải ray thép. Áp lực ngàn cân trút thẳng xuống ba bộ khung chống chữ A. Ba súc gỗ lim vuông vức, mỗi chiều rộng hơn một gang tay rưỡi, bắt đầu oằn mình gánh đỡ tầng địa chất đang lún sụt.

“Rắc... rắc... ken két...”.

Tiếng thớ gỗ lim vặn mình kêu lên rợn người giữa màn đêm buốt giá. Hai chiếc kích sắt công binh mười tấn bị dìm ngập trong dòng bùn cuồn cuộn, trục ren thép rít lên chói óc khi phải chịu đựng trọng tải vượt mức tưởng tượng. Nền đá balat dưới chân tà vẹt trôi dạt lạo xạo theo dòng nước xối, để lộ những khoảng hẫng hụt nguy hiểm.

Cửu Thao và năm người thợ già xóm Lạc Sơn đứng dạt vào góc vách đá, mặt mày ai nấy cắt không còn giọt máu. Ánh lửa leo lét của chiếc đèn bão soi rõ những giọt mồ hôi hòa lẫn nước bùn chảy ròng ròng trên những gương mặt khắc khổ đầy nếp nhăn.

— Anh Tiệp ơi! Đá trên nóc đang rạn toác thêm rồi! — Cửu Thao gào lên qua tiếng nước đổ ầm ầm. — Khung gỗ lim dẫu có bền đến mấy cũng không chống nổi túi bùn cả quả núi trút xuống đâu! Nó sắp sập thật rồi!

Tiệp nhìn vệt nứt đang há rộng thêm từng tấc trên vòm cuốn, đôi mắt sâu thẳm của người thợ tuần già co thắt lại. Ông bước tới, vỗ mạnh vào vai Cửu Thao — Bác Thao, các bác đã vì mười tám anh em phu mỏ mà vào sinh ra tử đêm nay, cái ơn này tôi xin ghi tạc vào lòng. Nhưng giờ đây túi nước đã vỡ, vách hầm có thể sập bất cứ chớp mắt nào. Các bác mau dẫn nhau chạy ngược ra cửa Bắc, men theo sườn núi mà về xóm Lạc Sơn đi! Ở lại đây chỉ tổ chôn xác vô ích!

— Thế còn chú? Chú định ở lại chết chìm trong này à? — Cửu Thao níu lấy cánh tay Tiệp, giọng run rẩy.

— Tôi là thợ tuần đường của đoạn đèo này! Một tấc ray còn, người tôi còn! Mau đi đi, đừng để anh em dưới suối vàng phải bận lòng thêm nữa!

Thấy ánh mắt đanh thép không gì lay chuyển nổi của Tiệp, Cửu Thao nghẹn ngào gật đầu, rồi giục năm người thợ già cuống cuồng men theo lề đá balat tháo chạy về hướng cửa Bắc Hầm số 14.

Lòng hầm giờ chỉ còn lại hai thầy trò trơ trọi giữa tiếng bùn réo rắt. Tiệp quay ngoắt sang nhìn Đoàn Văn Đính, giọng dứt khoát khác hẳn ngày thường — Đính! Mày cầm ngay ngọn đèn bão này, dùng hết sức bình sinh chạy thấu hơn ba trăm thước tây về phía cửa hầm phía Nam! Ra khỏi cửa hầm, mày đứng ngay chỗ khúc quanh taluy mà chốt chặn, thấy ai đi tới thì xua tay cản lại! Bằng mọi giá không được để một bóng người nào bén mảng vào cửa Nam đêm nay!

Nhưng người thợ trẻ không hề nhúc nhích. Đính đứng chôn chân trên mặt tà vẹt ướt sũng, bùn đỏ bắn lên tận đầu gối. Chàng trai đưa bàn tay run run siết chặt lấy chiếc búa chim cán gỗ lim của người cha quá cố đang cài bên hông, ánh mắt rực lên một ngọn lửa bướng bỉnh:— Cháu không đi đâu, chú Tiệp! Chú đừng đuổi cháu!

— Mày điên rồi à Đính? — Tiệp quát lớn, tiếng quát át cả tiếng đá rơi. — Mày còn mẹ già đau ốm dưới quê, còn đàn em nheo nhóc đang ngóng từng đồng hào mày gửi về! Chỗ này là cửa tử, mày có hiểu không?

— Cháu hiểu chứ! — Đính nghẹn ngào, hai giọt nước mắt trào ra nơi khóe mi, hòa cùng nước bùn trên gò má sạm đen. — Nhưng bố cháu đã nằm lại dưới đống đá này suốt mười năm ròng rã. Bác Ba Cẩn và mười bảy người thợ khác đã chết oan ở đây! Đêm nay các linh hồn hiển linh, chú liều mạng đứng đây giữ ray, cháu làm sao có thể cắp đuôi chạy trốn một mình để sống hèn hạ được? Cháu ở lại với chú! Cháu có sức dài vai rộng, có sập thì hai thầy trò mình cùng chống!

Nhìn vóc dáng vạm vỡ nhưng run lên vì xúc động của đứa con người bạn cũ, lồng ngực Tiệp thắt lại. Ông thấy bóng dáng người thợ phu Đoàn Văn Bưởi năm nào như đang hiển hiện ngay trước mắt, cũng kiên cường và trọng nghĩa khí như thế. Tiệp nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt, bàn tay gầy gò đặt lên vai Đính, bóp mạnh một cái thay cho lời tạ ơn câm lặng.

— Được rồi! Đã thế thì đứng sát vào vách, giữ chắc lấy chân kích sắt!

Tiệp ngẩng đầu nhìn vòm đá đang rên xiết từng hồi. Tiếng nước xối mỗi lúc một dữ dội hơn, lớp bùn non dưới chân đã dâng ngập đến mắt cá. Ông rút chiếc đồng hồ quả quýt cũ kỹ bằng kền trong túi áo, bật nắp dưới ánh đèn bão lờ mờ.

Kim đồng hồ đã chỉ quá nửa canh ba, giờ Sửu sắp điểm.

Theo lịch trình chạy tàu mà Tiệp đã thuộc nằm lòng suốt hàng chục năm qua, chuyến tàu khách số 4 từ phương Nam ra đang chuẩn bị vượt đèo. Trên đoàn tàu ấy có hơn ba trăm con người — phần lớn là phu phen trở về quê sau những ngày tháng làm xâu cực nhọc, là những bà mẹ bế con thơ, những người buôn gánh bán bưng còm cõi trên các toa thùng bọc gỗ ngột ngạt. Họ không hề hay biết rằng phía trước họ, khúc Hầm số 14 xuyên qua lòng đèo Heo Hút đang biến thành một cái bẫy tử thần.

Tiệp nhẩm tính từng thước đường ray trong bóng tối. Trong đêm mưa bão mù trời thế này, đoàn tàu kéo theo hàng chục toa xe nặng trịch sẽ phải chật vật leo dốc, rồi thả trôi theo quán tính khi tiến gần đỉnh đèo. Nếu ba khung chống gỗ lim kia không chịu nổi áp lực của túi bùn đất mà gãy đổ trước khi tàu tới, hàng trăm khối đá hộc sẽ lấp kín tim đường. Đoàn tàu lao trong bóng tối mịt mùng với tốc độ trôi dốc sẽ tông thẳng vào khối đá sạt lở, các toa xe sẽ vò nát, đè bẹp ba trăm sinh mạng vô tội. Thảm họa ấy sẽ khủng khiếp gấp mười lần vụ sập hầm mười năm trước.

Hai dải ray thép dưới chân Tiệp bỗng khẽ rùng mình, phát ra những tiếng ngân u u lạnh ngắt. Sự run rẩy của thanh ray không chỉ vì chấn động của tầng địa chất, mà như thể sắt thép cũng đang thấu suốt nỗi kinh hoàng của một tai ương đang chực chờ ập tới.

Mùi bùn tanh nồng nặc quyện với mùi đá vôi ẩm mốc xộc thẳng vào cánh mũi buốt rát. Tiệp vươn tay nắm chặt lấy cán chiếc búa kiểm âm thân thuộc, bàn chân thọt đứng vững chãi giữa hai thanh tà vẹt. Giờ đen tối nhất trước bình minh đang đè nặng lên từng hơi thở của hai thầy trò.

Bất thình lình, xuyên qua tiếng gầm rú của dòng bùn nước và tiếng gió rít điên cuồng từ ngoài cửa đèo thốc vào...

Một âm thanh dài dại, sắc lạnh xé toạc màn mưa đêm tĩnh mịch “Tu... u... u... Tu... u... u...!”.

Tiếng còi hơi của đầu máy xe lửa rúc lên từng hồi thảng thốt từ sâu dưới thung lũng chân đèo dội ngược lên vách núi.

Đoàn tàu khách số 4 đã bắt đầu vào cua, nghiến bánh sắt ầm ầm leo dốc tiến về cửa tử.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.