Chương 3: Tiệm May Chân Dốc
Bằng cẩn thận nhét chiếc kẹp tóc vân đồi mồi sứt góc vào túi áo ngực, nơi lớp vải lăng cộc tay đã bạc phếch vì nắng gió biển. Góc nhựa sứt cọ qua lần vải mỏng, cấn vào da thịt nhói buốt như chiếc móc câu găm chặt vào lồng ngực đang phập phồng nghẹn ứ. Anh đứng dậy, kéo lại then cài cánh cửa gỗ ọp ẹp của căn phòng số 12, tra chiếc chìa khóa đồng mòn vẹt vào ổ sắt rồi lầm lũi rảo bước xuống con dốc rải đá dăm.
Dãy nhà tập thể của Ty Hàng hải phía sau lưng im lìm dưới cái nắng hanh nồng của cữ trưa cuối tháng Sáu. Mấy người phụ nữ bên giếng nước công cộng vẫn len lén ngước nhìn theo bóng lưng cao lớn, vai bè còng xuống của người trạm trưởng hải đăng vừa bỏ đảo về bờ. Bằng không bận tâm đến những ánh mắt săm soi hay tiếng thở dài ái ngại ấy. Đầu óc anh lúc này chỉ lởn vởn một ý nghĩ duy nhất: tìm cho bằng được mẹ con Mai.
Xuống đến bến cá dưới chân ngọn đồi thông, Bằng rảo bước qua những đống lưới rách phơi khô trên bãi cát. Mùi bùn lầy nồng nặc quyện với mùi cá ươn bốc lên ngột ngạt dưới nắng trưa. Anh ghé vào sạp thu mua hải sản của ông Cả Mùi—người lái buôn quen mặt vẫn hay chở nước ngọt và rau xanh tiếp tế cho trạm đèn Hòn Dáu mỗi con nước lớn.
Giữa tiếng lao xao ngã giá của cánh bạn thuyền và tiếng rổ sảo va nhau chan chát, ông Cả Mùi đang cặm cụi cân từng sọt cá nục. Thấy bóng Bằng lừng lững bước tới với chiếc ba lô con cóc trĩu nặng trên vai, ông buông chiếc cân đồng xoay lại, tặc lưỡi ái ngại “Chú Bằng đấy à? Chuyện cô Mai dắt cái Oanh dọn đi, cả cái bến này ai mà chẳng hay. Cô ấy thuê cái chòi gạch cũ của bà Ba Béo tít xóm Bến, ngay dưới chân dốc đá dẫn ra bãi cát sau. Chú cứ men theo con đường đất đỏ rợp bóng phi lao, thấy căn nhà nào treo tấm biển gỗ đề chữ tiệm may thì đúng là nó đấy.”
Bằng siết chặt quai ba lô, khẽ gật đầu cảm ơn ông Cả Mùi rồi cắm cúi bước đi.
Con đường dẫn về xóm Bến gập ghềnh đá sỏi, càng đi sâu vào trong càng nồng nặc mùi cá khô phơi trên phên tre, mùi ruốc ủ muối nồng đậm và hơi dầu luyn máy nổ vương trên những vũng nước lầy lội ven đường. Khác với khu tập thể yên tĩnh của Ty Hàng hải, xóm Bến là nơi tụ họp của dân lao động nghèo, dân chài lưới tứ xứ và những người buôn thúng bán mẹt. Nhà cửa ở đây chen chúc xập xệ, phần lớn là nhà cấp bốn lợp ngói vảy cá rêu phong hoặc chắp vá bằng những tấm fibro xi măng xám xịt. Trước sân nhà nào cũng giăng đầy lưới bén, nong tôm khô phơi nghiêng đón gió biển, thỉnh thoảng lại vang lên tiếng quát tháo cộc cằn của cánh thợ thuyền vừa thức giấc sau chuyến biển đêm.
Bằng bước chầm chậm qua từng con ngõ hẹp ngoằn ngoèo. Gió biển tháng Sáu thốc qua hàng phi lao chắn cát xào xạc, mang theo hơi nóng hầm hập phả vào mặt rát rạt. Dưới chân dốc đá trơn trượt rêu xanh, một căn nhà nhỏ rộng chừng mười lăm mét vuông nép mình khiêm nhường bên vách đá dựng đứng.
Mái fibro xi măng đã ngả màu xám mốc, vài mép tấm lợp sứt mẻ được chèn tạm bằng mấy viên gạch bavanh vỡ để chắn gió bấc. Bức tường vôi vàng loang lổ những vệt ẩm ướt, tróc từng mảng lớn trơ cả lớp gạch xỉ xám ngoét. Bên ngoài hiên, treo nghiêng nghiêng trên cọc tre mục là một tấm ván gỗ tạp vẽ tay bằng sơn xanh đã bắt đầu bong tróc: “Tiệm may Tuyết Mai”. Nét chữ uốn lượn quen thuộc mà mười mấy năm trước, chính tay Mai từng nắn nót viết lên nhãn vở cho anh mỗi đợt học tập nghiệp vụ hàng hải.
Ngực Bằng thắt lại, hai đầu gối cứng đờ như đeo đá tảng. Anh dừng bước trước bậc thềm đất nện lổn nhổn vỏ sò khô vụn.
Qua liếp cửa gỗ mở hé một nửa, một vệt nắng trưa xiên khoai hắt vào gian phòng chật chội, làm nổi rõ từng hạt bụi vải li ti bay lơ lửng trong không khí. Trong gian phòng sực mùi vải mới quyện với mùi dầu máy khâu khen khét, tiếng chân vịt đạp lạch cạch... lạch cạch vang lên đều đặn, nhịp nhàng.
Tuyết Mai đang ngồi đó.
Bóng lưng cô gầy guộc, còng xuống trên chiếc máy may con bướm đạp chân hiệu Hoàn Cầu cũ kỹ. Chiếc áo bà ba bằng vải ú màu tro đã sờn rách nơi bờ vai gầy, để lộ phần xương quai xanh nhô cao hốc hác. Mái tóc đen dài không còn chiếc kẹp đồi mồi quen thuộc, chỉ được búi tạm bằng một dải dây vải thừa màu tím than. Đôi bàn chân gầy gò nhịp nhàng đạp lên bàn đạp gang xám xịt; những ngón tay thon dài chi chít vết kim châm thoăn thoắt đẩy từng đường vải lanh hoa dưới mũi kim sắc lẹm.Bằng đứng chết lặng bên ngoài cánh liếp. Mười năm qua, mỗi lần từ đảo Hòn Dáu về phép ba bốn ngày, anh chỉ quen thấy mâm cơm dọn sẵn, quần áo giặt tinh tươm thơm mùi nắng, và bóng dáng lặng lẽ của Mai bưng thau nước ấm cho anh ngâm chân. Anh đinh ninh rằng người đàn bà ở nhà chỉ có việc cơm nước, dọn dẹp, nào có cực nhọc gì so với những đêm thức trắng quay đèn giữa sóng lừng bão giật. Anh chưa từng để ý đôi vai ấy đã gầy rộc đi tự lúc nào, cũng chẳng hề hay biết chiếc áo bà ba của vợ đã vá đến hai lần nơi nách áo.
Một cơn gió biển bất chợt lùa qua khe liếp, thổi tung mấy mảnh vải vụn vương vãi trên nền đất. Bằng nuốt khan, cố đè nén tiếng đập thình thịch trong lồng ngực, bước qua bậu cửa.
Tấm ván bậu cửa mục kêu lên một tiếng cót két nặng nề dưới sức nặng của người đàn ông to lớn.
“Mai...”
Tiếng gọi của Bằng khàn đặc, thô ráp như tiếng đá cọ vào cát ướt.
Tiếng lạch cạch của bàn đạp gang bỗng ngưng bặt. Gian phòng mười lăm mét vuông rơi vào khoảng lặng ngột ngạt đến nghẹt thở. Chỉ còn tiếng gió rít qua khe nứa mục trên mái nhà và tiếng sóng biển ì oạp ngoài bãi xa vọng lại.
Tuyết Mai khẽ buông tay khỏi mép vải lanh. Cô không giật mình, cũng chẳng hề luống cuống quay ngoắt lại. Cô chậm rãi nâng cần chân vịt lên, rút sợi chỉ thừa rồi mới ngẩng mặt nhìn ra cửa.
Ánh mắt ấy rọi thẳng vào Bằng.
Bằng sững người, bàn chân như chôn chặt xuống nền đất lạnh. Trong đôi mắt bồ câu từng một thời đượm vẻ nhẫn nhịn và dịu dàng kia, giờ đây không có một tia kinh ngạc, không có giận dữ, cũng chẳng có chút oán hờn. Nó phẳng lặng, lạnh tanh như mặt nước vụng trước cơn dông tố. Một cái nhìn xa cách dửng dưng, tựa hồ cô đang nhìn một kẻ lạ mặt ghé bến tránh mưa, hay một người khách vãng lai lỡ bước qua đường.
“Cô... Mai, tôi...” Cổ họng Bằng nghẹn ứ, chiếc lưỡi vốn vụng về càng trở nên lúng búng. Bàn tay to bè thô ráp của anh vô thức sờ lên túi áo ngực, nơi chiếc kẹp tóc sứt góc đang cấn đau. “Tôi về... căn nhà tập thể trống trơn rồi... Sao cô lại dắt con ra chốn dột nát này?”
Nụ cười nhạt thếch thoáng hiện nơi khóe môi nhợt nhạt của Mai, nhưng đáy mắt cô vẫn buốt giá. Cô đặt chiếc kéo cắt vải bằng thép gỉ xuống mặt bàn gỗ tạp gồ ghề. Tiếng kim loại va chạm với mặt gỗ vang lên một tiếng “cộc” đanh gọn.
Mai đứng dậy, hai tay buông thõng bên tà áo bà ba bạc phếch. Cô nhìn thẳng vào người chồng mười năm gác đèn biển. Lời phân bua nghẹn lại nơi cổ họng khi Bằng nghe Mai lạnh lùng thốt ra “Ông Bằng về đây làm gì? Ở đây không có gì để ông ra lệnh nữa đâu.”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
