Chương 23: Bàn Tay Nắm Chặt Nơi Trạm Xá

Chiếc cáng tre dừng lại trước bậc tam cấp trạm xá xóm chài. Nhìn thân hình to lớn của La Chí Bằng nằm bất động, vạt áo lăng cộc tay rách bươm bết dính máu tươi hòa lẫn bùn cát mặn chát, tim Mai như bị ai bóp nghẹt. Đôi chân cô nhũn ra, nhưng bản năng người vợ lập tức thôi thúc cô lao vội xuống bậc thềm, bất chấp lòng bàn tay phải còn quấn băng gạc trắng đang nhức buốt.

“Anh Bằng! Anh Bằng ơi!”

Mai nghẹn ngào đỡ lấy mép cáng cùng Thìn và hai anh dân quân. Thân nhiệt Bằng nóng rực như than nung, bờ vai vạm vỡ co giật liên hồi vì cơn rét run của chứng nhiễm trùng nước biển. Y sĩ trạm xá vội mở toang cánh cửa phòng cấp cứu, khẩn trương chỉ đạo khiêng Bằng đặt lên chiếc giường sắt trải chiếu cói trắng.

“Chị Mai, lấy nước ấm giúp tôi! Vết rách ở bả vai phải bục sâu quá, cát biển lọt cả vào rồi!”

Tiếng vị y sĩ già kéo Mai bừng tỉnh khỏi cơn bàng hoàng. Cô nuốt nước mắt vào trong, thoăn thoắt bê chiếc thau đồng đựng nước ấm pha muối loãng. Đôi bàn tay vốn chỉ quen cầm kéo cắt vải giờ run rẩy cầm từng miếng gạc y tế, nhẹ nhàng lau sạch lớp bùn đen và máu bám quanh miệng vết rách bả vai phải của chồng. Mỗi lần đầu gạc chạm vào mép thịt sưng tấy, khóe mắt Bằng lại giần giật trong cơn mê man, miệng bật ra tiếng rên đứt quãng. Cả hai đầu gối anh cũng dập nát, da thịt bầm tím vì va đập vào đá hộc lúc ghìm giữ thuyền nan cho bà con. Nhìn thân thể dãi dầu chằng chịt thương tích của người đàn ông đã liều mình suốt bốn tiếng đồng hồ giữa tâm bão, lồng ngực Mai quặn thắt xót xa.

Vị y sĩ tiêm thuốc hạ sốt, luồn kim khâu miệng vết thương rồi cẩn thận băng kín bằng lớp gạc dày. Khi gian phòng trút bớt mùi cồn đỏ và thuốc sát trùng, Thìn cùng mấy anh dân quân mệt mỏi ra ngoài sân ngồi nghỉ. Trong buồng bệnh chỉ còn lại tiếng gió sau bão rít khẽ qua khe liếp và hơi thở nặng nhọc của Bằng.

Mai ngồi xuống chiếc ghế đẩu bên mép giường, lặng lẽ nhặt chiếc áo lăng rách nát của chồng từ dưới sàn mang đi giặt. Bỗng nhiên, từ chiếc túi trong bên ngực áo rơi ra một gói nhỏ bọc kỹ bằng nilông dính đầy cát khô.

Mai gỡ từng nút buộc rồi sững sờ chết lặng. Nằm gọn trong lòng bàn tay cô là chiếc kẹp tóc vân đồi mồi sứt một góc nhỏ ở đuôi—kỷ vật ngày cưới mà cô ngỡ đã thất lạc ở căn phòng số 12 khu tập thể cũ từ ngày dứt áo ra đi. Suốt bao tháng ngày dãi dầu nắng gió, anh vẫn luôn mang nó bên mình, áp chặt nơi lồng ngực trái.

Bên cạnh chiếc kẹp tóc là cuốn sổ trực hải đăng bìa xanh đã sờn gáy. Mai run run lật từng trang giấy pơlua ố vàng. Mười năm trước, cuốn sổ này chỉ toàn những ghi chép khô khốc về hướng gió và con nước ngoài đảo Hòn Dáu. Nhưng từ những trang sau, nét bút sắt ngòi lá tre gồ ghề của Bằng bỗng đổi khác hoàn toàn “Mai thích ăn canh tép riu nấu rau muống ngọn nhỏ, nêm muối hột, không ăn mì chính...”

“Trời trở gió bấc, lưng Mai buốt nhức vì cơn bão năm tám tám... Phải gom gỗ tốt chêm lại chân bàn may, kiếm thêm dầu nóng...”

“Nợ Mai một thanh xuân, nợ con Oanh một bờ vai...”

Từng dòng chữ mộc mạc thấm đẫm sự dằn vặt của người đàn ông vốn cộc cằn hiện lên rõ mồn một dưới ánh đèn hoa kỳ. Nước mắt Mai rơi lã chã xuống mặt giấy, làm nhòe đi vết mực tím đã khô. Hóa ra, đằng sau sự lặng lẽ gánh nước, chẻ củi, đằng sau vết thương dầm mưa trét ngói và số tiền tiết kiệm ba trăm ngàn đồng tích cóp mười năm gác đèn, là cả một tấm chân tình sâu nặng, quằn quại muốn sửa sai mà không biết giãi bày cùng ai.

Một tiếng cựa mình rất khẽ trên giường sắt kéo Mai về thực tại. Bằng từ từ hé mở đôi mắt đỏ hoe vì sốt, yết hầu giật giật “Nước... nước...”

Mai vội vã lau nước mắt, cẩn thận đỡ gáy Bằng ghé vào bát nước ấm. Uống từng ngụm nhỏ, thần trí Bằng dần hồi tỉnh. Nhận ra cuốn sổ bìa xanh và chiếc kẹp đồi mồi trên tay vợ, gương mặt sạm đen của anh thoáng vẻ ngượng ngùng, bối rối như đứa trẻ mắc lỗi “Cái kẹp... hôm dọn nhà tập thể tôi nhặt được... Mai đừng giận... Tôi giữ lại để tự răn mình...”

Bằng gượng nâng cánh tay trái không bị thương, vụng về vén lại lọn tóc mai lòa xòa của vợ, nhẹ nhàng cài chiếc kẹp tóc lên mái tóc đen dày của cô. Động tác chậm rãi, nâng niu như thể chạm vào báu vật thiêng liêng nhất đời mình.

Mai không kìm được nữa, cô úp mặt vào bàn tay thô ráp của chồng, bật khóc nức nở “Em đọc hết rồi... Em hiểu hết rồi... Em không giận anh nữa đâu. Anh đừng cử động mạnh kẻo bục vết khâu...”Nghe tiếng “em”, tiếng “anh” nghẹn ngào thốt ra từ môi vợ, bờ vai Bằng run lên bần bật. Hai tiếng xưng hô giản dị mà anh hằng mong mỏi suốt bao tháng ngày dường như đã làm tan biến mọi khoảng cách, khiến đôi mắt người lính biển đỏ hoe vì xúc động nghẹn ngào. Khóe mắt hằn sâu vết chân chim của người lính biển ứa ra hai giọt lệ nóng hổi. Bằng run run siết chặt lấy những ngón tay thon gầy mang đầy vết kim châm của vợ.

Đúng lúc ấy, ngoài sân trạm xá vang lên tiếng lách cách của chiếc xe đạp Phượng Hoàng. Thầy giáo Vũ Khang bước vào, trên tay ôm một bọc giấy xi măng phẳng phiu. Thấy bé Kim Oanh đang ngồi bên bậu cửa, thầy Khang mỉm cười xoa đầu cô học trò nhỏ “Thầy nghe tin nhà bị sập nên lo cho hai mẹ con quá. Thầy mang cho Oanh bộ sách tham khảo văn toán lớp bảy mới tinh đây, ráng học cho giỏi con nhé.”

Oanh mừng rỡ khoanh tay lễ phép “Cháu cảm ơn thầy Khang nhiều lắm ạ!”

Thầy Khang bước vào buồng bệnh, thấy hai bàn tay của Bằng và Mai đang đan chặt vào nhau trên mép chiếu, trên mái tóc Mai là chiếc kẹp đồi mồi sứt góc. Ánh mắt người thầy giáo thoáng chút trầm ngâm, rồi nở nụ cười đôn hậu “Thấy anh Bằng tỉnh táo thế này, tôi mừng lắm. Anh chị có một cháu bé rất ngoan, và quan trọng hơn, anh chị đã tìm lại được điểm tựa vững vàng nhất đời mình. Chúc anh Bằng chóng khỏe để sớm dựng lại mái ấm cho cô Mai và cháu Oanh.”

Bằng gượng cười, ánh mắt tràn đầy sự cảm kích “Cảm ơn anh Khang... Cảm ơn tấm lòng của anh dành cho cháu Oanh và gia đình tôi suốt thời gian qua.”

Thầy Khang khẽ gật đầu chào rồi từ tạ ra về, khép lại trọn vẹn mối duyên bạn bè tốt đẹp.

Thầy Khang vừa đi khỏi thì bà Tư Lành chống gậy bước vào. Nhìn con rể nằm thiếp đi với lớp băng trắng quấn quanh vai, hàm răng đen nhánh của bà cụ run rẩy, khóe mắt đỏ hoe. Bà bước lại gần, đặt bàn tay nhăn nheo lên v*m ng*c Bằng “Thằng Bằng... Khổ thân con quá... Đêm qua không có con liều mình chống thuyền thì bà con mất trắng rồi. Con đã làm tròn chữ nghĩa với xóm làng, với vợ con... Từ nay, u giao con Mai với cún Oanh lại cho con.”

Bằng nghẹn ngào nắm lấy tay mẹ vợ “U... con đội ơn u...”

Mai đứng bên cạnh, hít một hơi thật sâu. Cô rút từ túi áo ra một tờ giấy gấp tư đã ố vàng mép—tờ đơn xin ly thân từng nộp lên Công đoàn Ty Hàng hải, vừa được ban liên lạc trao trả lại sáng nay.

Trước ánh mắt ngỡ ngàng của Bằng, sự chứng kiến của bà Tư Lành và ánh mắt rạng rỡ của bé Oanh, Mai dứt khoát xé đôi tờ giấy, rồi xé vụn thành từng mảnh nhỏ buông rơi xuống chiếc thau đồng. Những vụn vỡ, hờn tủi của mười năm đằng đẵng giờ đây chính thức khép lại.

Bão số 4 đã tan hẳn. Khung cửa sổ trạm xá đón luồng gió biển nồng nàn cùng những vệt nắng vàng ươm rọi thẳng vào gian phòng bệnh nhỏ. Bằng siết chặt lấy bàn tay phải còn quấn băng gạc của Mai, ngắm nhìn gương mặt thanh tú đã rạng ngời trở lại của vợ. Anh ghé sát tai cô, thì thầm bằng chất giọng trầm ấm, kiên định “Mai này... chờ anh lành vết thương, hết ca trực tới, anh sẽ cùng anh em thợ đèn dựng lại cho hai mẹ con một căn nhà ngói ba gian thật kiên cố trên đất Ty cấp... Mưa bão mấy cũng không sợ nữa...”

Mai mỉm cười, nước mắt hạnh phúc lăn dài, khẽ tựa đầu vào bờ vai vững chãi của chồng. Ngoài khơi xa, ngọn hải đăng Hòn Dáu sừng sững vươn cao giữa nền trời xanh ngắt, soi rọi bến đỗ bình yên của một gia đình đã tìm lại được nhau sau bao dông bão cuộc đời.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.