Chương 14: Bên Bậc Thềm Chòi Cá
Tiếng hò dô kéo lưới và mùi tanh nồng của cá nục tươi quyện chặt trong ngọn gió biển xế chiều thốc lên ràn rạt từ mép sóng Đồ Sơn. Dưới chân cầu tàu gỗ mục, La Chí Bằng còng lưng ghì chặt hai quai sọt cá nặng trĩu chất đầy muối hạt. Bả vai phải của anh nhức buốt từng cơn; mỗi lần dồn lực nhấc sọt cá lên sàn xe ba gác, mép vải sơ mi bảo đảm hàng hải sờn bạc lại cọ xát vào lớp băng gạc trắng, khiến vết rách thịt hôm dầm mưa trét ngói lại rỉ ra một vệt máu đỏ tươi.
Bằng cắn răng nén cơn đau, quệt ngang dòng mồ hôi muối cay xè nơi khóe mắt. Tờ mờ sáng nay, anh đã mang toàn bộ số tiền ba trăm ngàn đồng tích cóp bấy lâu giao tận tay bà Thoa buôn chuyến ngoài chợ thị xã để chuộc xấp lụa tơ tằm bị cháy. Giờ đây trong túi áo ngực anh trống rỗng, chỉ còn lại chiếc kẹp tóc đồi mồi sứt góc của vợ. Anh phải tranh thủ từng giờ bốc cá thuê cho các chủ thuyền nan để kiếm thêm vài đồng công nhật đong gạo qua ngày.
Đang cúi người bốc sọt cá của chuyến thuyền cập bến cuối ngày, Bằng bỗng khựng lại. Qua làn gió mặn chát của bến bãi, bóng dáng một người phụ nữ mặc áo bà ba màu tro đang hớt hải băng qua bãi đá dăm đi thẳng xuống bến. Mái tóc dài buộc vội bằng dải vải tím than bay rối bời trước trán, hai bàn tay gầy guộc run rẩy nắm chặt một mảnh giấy gấp tư.
Là Mai.
Bằng vội đặt mạnh sọt cá xuống cát ướt, dặn với mấy người bạn thuyền vài câu rồi rảo bước đón đầu. Anh không muốn dân xóm chài nhìn thấy cảnh vợ chồng to tiếng giữa chốn đông người, bèn ra hiệu chỉ tay về phía căn chòi lá cọ tạm bợ nằm chơ vơ sát rặng phi lao. Mai không nói một lời, gương mặt tái nhợt vì tức giận và kiệt sức, lẳng lặng bám gót anh bước vào trong chòi.
Vừa bước qua tấm liếp cửa, Mai đã vung tay ném mạnh mảnh giấy xuống mặt chiếc bàn tre kêu “soạt” một tiếng: “Ông giải thích đi! Cái này là thế nào?”
Tờ giấy biên nhận nhăn nhúm nằm trơ trọi giữa bàn tre, vệt dầu luyn mờ mờ cùng nét chữ ký nguệch ngoạc của Bằng đập thẳng vào mắt hai người. Bằng đứng im bên cột chòi, lặng lẽ nhìn bờ vai gầy của vợ đang run lên từng chặp. Anh chậm rãi lên tiếng: “Mai… cô uống bát nước vối đã.”
“Tôi không đến đây để uống nước vối!” Tiếng Mai nghẹn lại nhưng gay gắt, đôi mắt đỏ hoe ngước lên nhìn thẳng vào anh. “Ba trăm ngàn đồng! Ông có biết ba trăm ngàn ở cái đất Đồ Sơn này nó lớn đến mức nào không? Người ta đi làm cả năm trời chưa chắc đã ky cóp nổi ngần ấy tiền bạc. Ông lấy đâu ra số tiền lớn như thế? Hay ông lại đi vay nặng lãi dưới bến tàu để làm cái trò anh hùng rơm này?”
Bằng lắc đầu, ánh mắt trầm tĩnh không chút gợn sóng: “Tiền sạch. Tôi không vay mượn ai một hào.”
“Vậy ông lấy ở đâu ra?” Mai siết chặt hai nắm tay, giọng sắc buốt như mảnh vỏ sò. “Ai cho phép ông tự tiện can thiệp vào chuyện tiệm may của tôi? Tôi đã nói rõ từ ngày dọn ra xóm Bến, tôi và ông không còn can dự gì đến nhau nữa. Tiệm may này là tự tôi mở, vải hỏng là do tôi sơ ý, dù có phải bán máy may hay đi ở đợ gánh nợ tôi cũng tự chịu! Ông làm thế này là có ý gì? Ông muốn chứng tỏ tôi là người đàn bà vô dụng, không có ông thì mẹ con tôi chết đói, hay ông muốn dùng số tiền này để mua lại sự phục tùng của tôi?”
Từng lời cay đắng của vợ như những nhát búa nện thẳng vào lồng ngực Bằng. Nếu là mười năm trước, với thói gia trưởng cộc cằn của một trạm trưởng đèn biển, anh đã đập bàn quát lớn để thị uy. Nhưng lúc này, nhìn vào khóe mắt thâm quầng sau một đêm thức trắng cùng đôi bàn tay đầy vết kim châm của người đàn bà đã vì anh mà tàn phai thanh xuân, trong lòng Bằng chỉ trào dâng một nỗi xót xa tê tái.
Anh bước lại gần bàn tre, nhẹ nhàng nhặt tờ giấy biên nhận lên rồi chậm rãi nói: “Đó là tiền lương bậc năm và tiền phụ cấp độc hại, phụ cấp ngoài đảo Hòn Dáu mười năm qua tôi tích cóp được. Tiền giấy cotton mười ngàn với hai mươi ngàn còn mới tinh là vì tôi gửi ở quỹ tín dụng trên thị xã, vừa rút ra sáng nay.”
Mai sững sờ, bờ môi mím chặt khẽ run rẩy. Bằng hít một hơi sâu, giọng khàn đặc: “Số tiền ấy… vốn dĩ tôi gom lại định sang năm xin Ty Hàng hải cấp cho mảnh đất nhỏ ven đồi cát, rồi thuê thợ cất một căn nhà ngói ba gian khang trang cho hai mẹ con. Tôi tính để cô bớt khổ, con Oanh có chỗ học hành đàng hoàng… Nhưng tôi chưa kịp làm thì cô đã dắt con đi.”Mai quay mặt đi, nhìn ra dải cát trắng bên ngoài liếp cửa, hai bờ vai khẽ rung lên nhưng cố nén tiếng nấc.
Bằng nói tiếp, giọng mộc mạc và chân thành: “Tôi biết tiệm may là manh áo, bát cơm của mẹ con cô. Cái máy may Hoàn Cầu ấy mà mất đi thì cô lấy gì nuôi con? Đám buôn chuyến ngoài chợ chúng nó dữ dằn lắm, chúng kéo đến đập phá tiệm thì cô chống đỡ sao nổi? Tôi không mua chuộc cô, càng không bao giờ nghĩ cô vô dụng. Tôi là chồng, là bố của con Oanh, tôi không thể giương mắt nhìn mẹ con cô bị người ta dồn vào chân tường.”
Không gian trong căn chòi lá bỗng chìm vào im lặng, chỉ còn tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân bờ kè đá ngoài xa. Bằng không đứng ở vị thế kẻ bề trên nữa. Anh lặng lẽ bước ra bậc thềm chòi cá, ngồi thụp xuống bãi cát thoai thoải, rồi chỉ tay vào chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp bên cạnh: “Mai, cô ngồi xuống đây đi. Mười năm qua, tôi chưa từng một lần ngồi nghe cô nói cho hết nhẽ.”
Trước sự nhẫn nhịn và cử chỉ vụng về của anh, vẻ cứng cỏi trên gương mặt Mai dường như dần nứt vỡ. Cô bước chầm chậm ra thềm, ngồi xuống chiếc ghế đẩu, hai bàn tay đặt trên đầu gối gầy guộc.
Gió biển chiều thổi lồng lộng qua rặng phi lao. Bao nhiêu nỗi uất ức dồn nén bấy lâu bỗng chốc vỡ òa, Mai nghẹn ngào trút hết ra trước mặt người chồng cũ. Cô nghẹn ngào kể về những ngày đầu chập chững bước ra làm ăn thời mở cửa. Cô kể về những đêm đông lạnh buốt ngồi đạp máy khâu đến sưng vù hai mắt cá chân, những lần đạp xe lên tận chợ Sắt Hải Phòng gom từng thước vải phin, vải lanh, bị con buôn ép giá, lừa gạt từng cắc bạc lẻ. Cô kể về nỗi sợ hãi mỗi chiều đón con muộn, nỗi tủi nhục của người đàn bà sống ly thân phải chịu bao lời xì xào độc địa của xóm giềng.
Bằng ngồi im lặng trên thềm cát, hai bàn tay thô ráp đan chặt vào nhau. Từng lời Mai thốt ra như gọt từng tảng đá đè nặng trong lòng anh. Mười năm anh lênh đênh ngoài ngọn hải đăng Hòn Dáu, đinh ninh chỉ cần gửi trọn gói tiền lương về là tròn bổn phận trụ cột gia đình, chưa từng một lần thấu hiểu cái giá của từng hạt gạo, từng manh áo mà vợ anh phải chắt bóp trong cô độc.
“Tôi sai rồi, Mai à,” Bằng ngước nhìn vợ, giọng khàn đục như có cát cọ vào thanh quản. “Mười năm gác đèn, tôi cứ ngỡ mình chống chọi được sóng to gió lớn ngoài biển khơi là giỏi giang, là xứng mặt đàn ông. Hóa ra tôi chỉ là một kẻ mù quáng, để mặc vợ con chìm nổi giữa bão táp cuộc đời. Ba trăm ngàn ấy không bù đắp nổi một phần mười những tủi cực cô đã nếm trải. Từ nay, tôi không ép cô phải quay về khu tập thể, cũng không can thiệp thô bạo vào tiệm may nữa. Tôi chỉ xin cô… cho phép tôi được đứng từ xa làm chỗ dựa cho hai mẹ con. Những việc nặng nhọc, gánh nước, chẻ củi, sửa sang mái dột… cứ để tôi lo. Cô đừng gánh gồng một mình nữa, có được không?”
Mai đưa mu bàn tay áo quệt ngang dòng nước mắt lăn dài trên má. Ánh mắt cô nhìn người đàn ông trước mặt đã vơi bớt nét hằn học buốt giá, thay vào đó là một sự dao động sâu xa, giằng xé khôn nguôi. Dưới bóng chiều tà đang ngả dần trên bến cá, khoảng cách ngăn cách giữa hai người dường như đã được kéo lại gần hơn bao giờ hết trong một khoảnh khắc hòa hoãn hiếm hoi.
Bóng hoàng hôn đỏ ối bắt đầu nhuộm thẫm mặt vịnh Đồ Sơn. Những chiếc thuyền nan đi lộng lục tục trở về bến, tiếng máy nổ giòn giã phá tan bầu không khí tĩnh lặng. Mai khẽ thở dài, toan đứng dậy bước về thì bỗng nhiên, từ con dốc đá dẫn xuống xóm Bến, một bóng người già nua đang hớt hải chạy thục mạng xuống bãi cát.
Là bà Tư Lành. Chiếc khăn vuông chít đầu của bà xộc xệch, vạt áo cánh nâu ướt đẫm mồ hôi, bước chân run rẩy suýt vấp ngã vào đống lưới mục ven đường.
Bằng giật mình bật dậy, cùng Mai chạy vội ra đón. Chưa kịp tới nơi, tiếng bà Tư Lành đã thất thanh xé toạc ráng chiều: “Anh Bằng ơi! Con Mai ơi! Mau… mau về nhà ngay đi! Cún Oanh… cún Oanh đi học về tự nhiên sốt hầm hập, giờ đang nằm trên phản co giật sùi cả bọt mép rồi!”
Đất trời quanh Bằng như sụp đổ trong tích tắc, hơi thở anh nghẹn ứ nơi lồng ngực.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
