Chương 13: Vết Cháy Trên Xấp Lụa
Tiếng quát the thé vừa dứt ngoài bậu cửa, tiếng guốc mộc đã nện côm cốp xộc thẳng vào gian tiệm may. Mai giật nảy mình, đôi đũa tre trên tay suýt rơi xuống mâm cơm, còn Oanh sợ hãi buông bát canh tép nép sát vào sườn mẹ.
Một người đàn bà đẫy đà, mặt trát phấn dày cộm, nách cắp bọc vải túm trong tờ nhật trình cũ sấn tới trước bàn cắt. Đó là bà Thoa, người buôn chuyến đường dài Móng Cái, hai hôm trước vừa mang xấp vải lụa tơ tằm đắt đỏ đến tiệm đặt may gấp bộ áo dài để đi ăn cưới thông gia.
“Bà mở mắt to ra mà nhìn!” Bà Thoa quăng mạnh bọc vải xuống mặt bàn gỗ tạp kêu “huỵch” một tiếng, làm chiếc kéo thép gỉ nảy lên. “Xấp lụa Vạn Phúc tôi cất công đánh từ Móng Cái về giá trị cả chỉ vàng, bà làm ăn kiểu gì mà để thành đống giẻ rách thế này?”
Lớp giấy báo toác ra, để lộ tấm lụa màu cánh sen mịn màng. Ngay chính giữa tà áo trước, một vệt cháy xém đen sì, quăn queo to bằng miệng bát ăn cơm đập vào mắt Mai như vết dao cứa. Mùi khét lẹt của sợi tơ tằm dường như vẫn còn quẩn quanh nơi sống mũi.
Mặt Mai cắt không còn hạt máu, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Cô run rẩy bấu chặt gấu áo bà ba vải ú, cổ họng nghẹn đắng: “Bác Thoa, tôi… tôi thực tình không cố ý…”
Làm sao cô dám thanh minh rằng để kịp giao áo cho khách trước chuyến xe trưa, cô đã cặm cụi đạp máy suốt từ đêm hôm trước thâu qua buổi trưa, hai mắt cay xè vì kiệt sức. Cữ trưa nay, khi dồn chút sức tàn nhóm than củi đước vào chiếc bàn ủi con gà bằng đồng thau nặng trịch để là phẳng nếp tà, cơn hoa mắt bất thần ập đến khiến đầu óc cô choáng váng trong tích tắc. Than bén lửa đỏ rực nung đáy kim loại quá nhiệt. Chỉ một cái chớp mắt lơ đễnh đặt xuống, tiếng xèo buốt óc vang lên, vạt lụa quý lập tức sun lại thành mảng cháy nham nhở. Đúng lúc gã phu xe của bà Thoa chạy xộc vào giục giã vơ lấy bọc hàng mang đi, Mai chưa kịp hoàn hồn chạy theo phân trần thì bà khách buôn đã đùng đùng kéo đến.
“Không cố ý mà ra nông nỗi này à?” Bà Thoa chống nạnh, mắt trợn trừng, giọng the thé xé toạc xóm Bến: “Bà đừng giở giọng nghèo khổ ra đây! Đúng ba trăm ngàn đồng, chiều mai tôi quay lại lấy tiền đền. Nếu không nôn đủ ra đây thì liệu hồn, cái máy may này đừng hòng nguyên vẹn, mẹ con bà cũng đừng mong sống yên ở đất Đồ Sơn!”
Oanh òa khóc nức nở, hai tay ôm chặt lấy eo mẹ. Mai cắn môi đến bật máu, cúi gập người lí nhí van xin khất nợ nhưng bà Thoa chỉ nhổ toẹt bãi nước bọt rồi nện guốc mộc hậm hực bỏ đi.
Gian tiệm may mười lăm mét vuông chìm vào sự im lặng nghẹt thở. Bát canh tép rau muống nguội ngắt tanh nồng, mâm cơm đạm bạc vừa chan chứa chút ấm áp ban trưa bỗng chốc hóa thành tro lạnh. Dỗ dành Oanh ăn tạm củ khoai luộc rồi giục con đến trường cho kịp buổi học chiều, Mai cài chặt then cửa liếp rồi ngã quỵ xuống cạnh chân bàn cắt.
Ba trăm ngàn đồng! Ở thời điểm năm 1993, ba trăm ngàn là cả một gia tài khổng lồ đối với người phụ nữ đơn thân vừa dứt áo ra đi tay trắng. Tiền công sửa một chiếc khóa quần chỉ được năm trăm đồng, may một chiếc áo sơ mi vỏn vẹn ba ngàn. Để kiếm được ba trăm ngàn, cô phải đạp máy ròng rã cả năm trời không ăn không tiêu.
Mai quỳ gối bên mép phản, thò tay vào góc kẹt lôi ra chiếc hộp thiếc đựng bánh bích quy cũ kỹ đã rỉ sét. Đây là chiếc hộp giữ trọn niềm kiêu hãnh của cô từ ngày dọn khỏi khu tập thể Ty Hàng hải. Run rẩy mở nắp, Mai trút toàn bộ số tiền bên trong ra mặt chiếu.
Những tờ tiền giấy cotton mỏng manh, sờn mép được cô vuốt phẳng phiu, xếp ngay ngắn: vài xấp tiền hai trăm đồng màu nâu đỏ, tiền năm trăm đồng màu cánh sen, tiền một ngàn đồng màu xanh lá, hiếm hoi lắm mới có vài tờ hai ngàn đồng màu tím sẫm. Mai đếm đi đếm lại, ngón tay chai sạn vì kim châm run lên bần bật.
Cộng cả số tiền lẻ khách vừa trả sáng nay, toàn bộ gia tài gom góp trong chiếc hộp thiếc chỉ được vỏn vẹn bốn mươi hai ngàn tám trăm đồng.
Thiếu hơn hai trăm năm mươi ngàn nữa. Mai gục đầu xuống hai bàn tay gầy guộc, tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ lồng ngực đau thắt. Đi vay ai bây giờ? Bà con xóm chài quanh năm bám biển đều nghèo khó, giật gấu vá vai. Mẹ đẻ cô – bà Tư Lành – chỉ có đồng lương hưu còm cõi của công nhân xưởng mắm, chắt bóp lắm mới đủ tiền trầu cau thuốc thang mỗi khi trái gió trở trời. Còn chiếc máy may Hoàn Cầu cũ kỹ này, nếu đem bán đi bồi thường thì mẹ con cô lấy gì để đong gạo qua ngày?Nỗi cô đơn tr*n tr** của người đàn bà đơn độc giữa sóng gió cuộc đời lại ùa về, bóp nghẹt từng nhịp thở của Mai. Suốt đêm ấy, ngọn đèn hoa kỳ leo lét soi bóng cô ngồi bất động bên chiếc máy may. Nhìn con gái ngủ say trên manh chiếu cói, Mai chỉ biết nuốt nước mắt vào trong, ruột gan cồn cào như có muối xát.
Sáng sớm hôm sau, trời Đồ Sơn phủ một màn sương mù xám đục. Gió biển thổi ù ù qua rặng phi lao ven dốc đá. Mai thức dậy với đôi mắt thâm quầng, đầu đau như búa bổ. Cô ngồi bên bàn cắt, hai bàn tay đan chặt vào nhau lạnh ngắt, lặng lẽ chờ đợi cơn bão tố ập xuống mái đầu.
Khoảng bảy giờ sáng, tiếng guốc mộc quen thuộc lại gõ lạch cạch từ ngoài ngõ dốc vọng vào.
Mai giật bắn người, toàn thân cứng đờ. Cánh cửa liếp bị đẩy mạnh, bóng dáng bà Thoa hiện ra sau màn sương sớm. Mai hít một hơi sâu, gượng đứng dậy, miệng mấp máy định cúi đầu van xin khất nợ thêm vài ngày.
Thế nhưng, điều kỳ lạ là hôm nay bà Thoa không hề gào thét hay chửi bới ầm ĩ. Gương mặt trát phấn dày cộm lộ vẻ sượng sùng, ánh mắt nhìn Mai có phần dò xét, vị nể lạ thường.
Bà Thoa bước đến cạnh bàn cắt, móc trong túi áo khoác ra một mảnh giấy gấp tư vứt “xoạch” xuống mặt gỗ: “Cầm lấy! Coi như bà phúc lớn mạng lớn, có quý nhân ra tay gánh nợ cho đấy!”
Mai sững sờ, trân trân nhìn mảnh giấy rồi ngước lên: “Bác… bác nói thế là có ý gì?”
Bà Thoa nhếch mép, khoanh hai tay trước ngực, giọng hạ thấp xuống: “Ý tứ gì nữa! Tờ mờ sáng nay, sạp hàng của tôi ngoài chợ thị xã vừa mở cửa thì có một người đàn ông tìm đến. Gã to như hộ pháp, mặc cái áo sơ mi bảo đảm hàng hải bạc phếch sờn vai, chân xỏ đôi dép rọ cao su đúc mòn vẹt đế. Vừa vào sạp, gã đã đập thẳng xuống bàn ba trăm ngàn đồng tiền mặt, toàn là tiền mười ngàn với hai mươi ngàn mới tinh còn thơm mùi giấy bạc ngân hàng.”
Tim Mai bỗng hẫng đi một nhịp, lồng ngực nghẹn lại.
Bà Thoa tặc lưỡi kể tiếp: “Gã bảo số tiền đó đền xấp lụa tơ tằm bị cháy, bắt tôi viết giấy biên nhận sòng phẳng rồi dằn giọng đe tôi từ nay cấm bén mảng đến quậy phá cái tiệm may này một bước. Đứng gần gã mà tôi lạnh cả sống lưng. Lúc gã cúi xuống ký tên, chỗ rách sau vai áo để lộ nguyên một vết rách da dài chéo bả vai phải, băng gạc trắng toát dán bên trong còn rớm đỏ cả máu tươi… Này, bà bảo thật tôi nghe, người đàn ông đấy là ai mà chịu chi tiền cứu bà dữ vậy?”
Mai không nghe thấy câu hỏi của bà Thoa nữa. Đôi tai cô như ù đi giữa tiếng sóng gầm ngoài vịnh xa.
Run rẩy đưa những ngón tay gầy guộc nhặt mảnh giấy biên nhận nhàu nát trên mặt bàn, mắt Mai nhòa đi. Đó là một trang giấy xé vội từ cuốn sổ trực nhật ký bìa xanh, góc giấy còn vương một vệt dầu luyn nhạt màu. Phía dưới dòng chữ viết tay xác nhận đã thu đủ ba trăm ngàn đồng là cái móc câu quen thuộc hằn sâu mép giấy: La Chí Bằng.
Nhìn nét chữ ký nguệch ngoạc quen thuộc của La Chí Bằng trên góc giấy biên nhận nhàu nát, Tuyết Mai chết lặng giữa gian tiệm may, lồng ngực thắt lại trong một nỗi bàng hoàng khó tả.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
