Chương 6: Nhát Đục Khởi Đầu
Gió bấc từ rặng Tử Tiêu tràn xuống thung lũng đá xám, gầm rú từng hồi qua các khe nứt nham nhở như tiếng kêu oan ai oán của ba trăm kiếm tu đã khuất ba mươi năm trước. Không khí đêm lạnh buốt thấu xương tủy phàm nhân, hơi ẩm và bụi đá quyện vào nhau tạo thành lớp sương mờ đục bám ráp trên vạt áo thô bạc màu của Nhan Bá Thuần.
Người thợ đục già cẩn trọng xếp lại mảnh gấm nhuốm máu cùng dải da thú tàn khuyết, đặt trả vào tráp gỗ phong ấn đang mở nắp. Kẽ ngón trỏ phải vừa rỉ máu vẫn còn buốt nhói, nhưng nét mặt ông không gợn chút dao động. Ông ngước nhìn khối cự thạch đen tuyền cao chín thước sừng sững trước mặt. Phiến Vạn Niên Trầm Thạch tựa như một bức tường thành cổ xưa dựng đứng giữa đất trời hoang phế, thâm trầm, lạnh lẽo, tuyệt nhiên không màng đến những hỷ nộ ái ố của nhân gian.
Bá Thuần khom lưng, thò tay vào túi vải gai bên hông lấy ra một nén nhang thô màu nâu sẫm — thứ nhang mộc mạc làm từ bột vỏ cây rừng mà ông vẫn thường dùng để viếng những ngôi mộ vô danh nơi thung lũng. Lách cách vài tiếng đanh gọn của đá lửa, một đốm sáng đỏ rực bừng lên xua đi bóng tối đặc quánh. Khói nhang mỏng manh bay lên, tỏa ra mùi nhựa thông ấm áp, đối chọi với tử khí lạnh lẽo ngàn năm của bãi tha ma.
Bá Thuần cắm nén nhang sâu vào lớp cát đá nứt nẻ ngay dưới chân khối Trầm Thạch.
Trước làn khói nhang lượn lờ trong gió bấc, người thợ đục bốn mươi tám tuổi chầm chậm chắp hai bàn tay thô ráp đầy vết chai sần ngang ngực. Ông cúi đầu thật sâu, sống lưng hơi cong xuống trong sự trang nghiêm tột cùng. Động tác của ông chậm rãi, kính cẩn cúi đầu trước anh linh của những người đã ngã xuống vì trượng nghĩa ba mươi năm trước tại Huyết Đầm Ma Cốc. Ở chốn tu chân này, kẻ thắng làm vua, kẻ bại bị dẫm đạp dưới bùn nhơ; ba trăm con người mang nhiệt huyết đã bị chính chén rượu độc của kẻ mang danh minh chủ tước đoạt sinh mạng, lại còn phải gánh chịu tiếng nhơ phản nghịch suốt ba thập kỷ. Cái lạy của một kẻ phàm trần không mang linh lực, nhưng lại nặng tựa ngàn cân đạo nghĩa.
Cách đó vài bước chân, Tạ Thanh Vân cũng quỳ sụp xuống bên cạnh nén nhang. Nàng ôm chặt thanh tàn kiếm Vị Tế trước ngực, trán dập sát mặt đất lạnh buốt. Dưới ánh sáng le lói của tàn nhang, Bá Thuần nhìn thấy bờ vai thiếu nữ khẽ run rẩy từng chặp, nhưng tuyệt nhiên không một tiếng khóc than bi lụy nào thốt ra.
Hành lễ xong, Nhan Bá Thuần quay sang phiến đá dẹt kê bên gò đá. Ông ngồi xổm xuống, rút ngọn đục hàn thiết giắt nơi thắt lưng da thô ra. Trải qua những tháng năm đục bia cho các tán tu phiêu dạt, lưỡi đục đã hơi mòn vẹt, mép thép ánh lên màu xám xịt.
Bá Thuần lấy ra một thỏi đá mài nhẵn bóng, mở nắp bầu da rưới vài giọt nước suối lên bề mặt đá. Đôi bàn tay chai sạn nắm chặt cán sắt, bắt đầu mài.
“Xoạt... xoạt... xoạt...”
Tiếng kim loại cọ xát vào đá mài vang lên đều đặn, nhịp nhàng giữa đêm thanh vắng. Mỗi đường mài dứt khoát đẩy đi lớp kim loại cùn gỉ, để lộ ra lưỡi thép hàn thiết sáng loáng, sắc lẹm dưới ánh sáng mờ nhạt của nén nhang. Mùi thép lạnh tanh nồng lẫn trong mùi đá ướt bốc lên cay nồng. Vết rách nơi kẽ ngón tay ông cọ vào thân đục buốt ran, từng cơn nhức nhối truyền thẳng lên cánh tay, nhưng nhịp mài của Bá Thuần không hề chậm lại dù chỉ nửa nhịp. Đối với một người thợ đục, lưỡi đục chính là tiếng nói; muốn đá cất lời công minh, ngọn đục sắt phải đạt đến độ sắc bén thuần khiết nhất.
Mài xong ngọn đục hàn thiết, Bá Thuần đưa vạt áo lau sạch nước đọng trên mũi thép. Ông đứng dậy, với lấy chiếc búa sắt nặng năm cân đặt bên góc đá. Cán búa bằng gỗ nghiến ngâm dầu đã bóng loáng vì mồ hôi tay qua hàng vạn lần vung đập; đầu búa sắt đúc vuông vức, sứt mẻ đôi chỗ nhưng đầm chắc lạ thường. Bàn tay chai sần siết chặt lấy cán gỗ, cảm nhận trọng lượng quen thuộc đã gắn bó với nửa đời phiêu bạt của mình.
Bá Thuần ngửa mặt, hít một hơi sâu luồng sương lạnh buốt vào lồng ngực gầy guộc. Khí lạnh tràn qua cuống họng, làm tinh thần ông tỉnh táo lạ kỳ, xua tan mọi mỏi mệt của thể xác phàm trần.Phía sau lưng, tiếng bước chân khập khiễng cùng tiếng gậy trúc nện “cộc... cộc...” xuống nền đá vụn chầm chậm tiến lại gần.
Cố Tùng Đình dừng lại cách khối Trầm Thạch vài bước chân. Gió lạnh thổi tung mái tóc bạc xơ xác cùng vạt áo vá chằng đụp của lão coi mộ. Lão nhìn nén nhang đang lập lòe, nhìn mũi đục hàn thiết sáng quắc trong tay Bá Thuần, rồi buông một tiếng thở dài thườn thượt. Tiếng thở dài ấy tựa như trút bỏ gánh nặng ba mươi năm câm lặng, hèn nhát mà lão đã chôn chặt trong lòng từ ngày tự phế tu vi trốn về đây.
Con mắt trái của lão mù lòa, phủ một lớp màng trắng đục vô hồn, nhưng trong con mắt còn lại, một tia sáng dũng khí ngỡ như đã nguội ngắt từ lâu bỗng chốc bừng cháy, rực rỡ và kiên định đến lạ thường.
Chẳng cần một lời thốt ra, Bá Thuần cũng hiểu người bạn già đã thấu tỏ lòng mình; một khi kẻ thợ đục này đã chạm tay vào đá, dẫu thiên lôi giáng xuống cũng không thể lay chuyển. Cố Tùng Đình không nói thêm lời nào. Lão coi mộ xoay người, gậy trúc chống mạnh xuống đất, quay lưng về phía khối cự thạch. Lão lẳng lặng cất bước về phía lối mòn độc đạo dẫn vào thung lũng Tiên Mộ Lăng, đứng sừng sững giữa màn sương đen kịt như một pho tượng cổ canh chừng hiểm họa từ bên ngoài.
Bấy giờ, trước mặt khối Vạn Niên Trầm Thạch chỉ còn lại Nhan Bá Thuần.
Ông bước lên một bước, áp sát ngực vào vách đá lạnh ngắt cao chín thước. Đôi mắt mờ đục phủ bụi đá của ông ngắm chuẩn vị trí trang trọng nhất nơi trung tâm bề mặt khối cự thạch — nơi sẽ khởi đầu cho nét chữ “Thẩm”.
Tay trái Bá Thuần ghìm chặt ngọn đục hàn thiết nghiêng một góc ba phần tư, mũi đục sắc lẹm tỳ chặt lên thớ đá đen tuyền. Tay phải vung chiếc búa sắt nặng năm cân lên cao, cơ bắp cuộn chặt dưới lớp áo vá thô sơ. Toàn bộ sức lực, tâm can và phẩm giá của một kiếp phàm nhân như dồn cả vào đường búa ấy.
Búa sắt bổ xuống!
“Keng!”
Một tiếng nổ giòn giã, đanh thép xé toạc màn sương đêm tĩnh mịch, rền vang khắp thung lũng đá xám rồi dội ngược vào vách núi Tử Tiêu thăm thẳm. Mũi đục hàn thiết cắm ngập vào mặt đá nửa tấc, mẩu đá vụn đen nhánh văng ra lấp lánh như bụi sao sa, để lại một nét khuyết sâu hoắm, vuông vức và sắc sảo đầu tiên giữa lòng cự thạch ngàn năm.
Đó là nhát đục mở đầu cho bản văn bia rửa sạch oan khiên.
Tiếng đục sắc lạnh vừa dứt, một cơn gió xoáy bất ngờ từ đáy vực rặng Tử Tiêu thốc tới dữ dội, cuốn theo cát sỏi ràn rạt. Ngọn gió đen lướt qua chân khối cự thạch, dập tắt ngấm nén nhang thô vừa thắp, hất tung tàn tro đỏ rực bay tán loạn vào bóng đêm mịt mùng, báo hiệu phong ba bão táp sắp sửa ập xuống Tiên Mộ Lăng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
