Chương 4: Quy Tắc Của Đá
Nhịp đập mơ hồ truyền qua lòng bàn tay chai sần khiến Nhan Bá Thuần khẽ rùng mình. Ông chậm rãi thu tay về, giấu những ngón tay nứt nẻ vào vạt áo vải gai xám xịt. Hơi lạnh thấu xương của Vạn Niên Trầm Thạch vẫn vương vấn trên da thịt, buốt nhói nơi vết rách cũ ở kẽ ngón trỏ. Tiếng gậy trúc lách cách cùng lời gắt gỏng kinh hãi của Cố Tùng Đình vẫn lơ lửng giữa màn sương muối, nhưng Bá Thuần không hề cất lời đáp lại.
Đứng sau ông, Tạ Thanh Vân cắn chặt môi đến rớm máu. Nghe hai chữ “Lãnh Vô Nhai”, ngọn lửa căm hờn bùng lên dữ dội trong đáy mắt nàng. Không một lời báo trước, nàng đột ngột vung tay phải. Cổ kiếm gãy góc Vị Tế rít lên một tiếng xé gió thê lương. Dưới áp chế nặng nề của Tức Linh Trận, chút linh lực cạn kiệt còn sót lại trong đan điền bị nàng cưỡng ép ngưng tụ thành một dải kiếm khí xanh nhạt mỏng manh như cánh ve.
“Keng!”
Một tiếng ngân trong vắt tựa ngọc vỡ vang lên giữa đêm vắng. Dải kiếm khí sắc nhọn lao thẳng vào cự thạch. Thế nhưng, không một vụn đá nào b*n r*, chẳng một vết nứt nào xuất hiện. Kiếm mang vừa chạm vào mặt đá đen tuyền liền trượt đi như giọt nước rơi trên phiến lá sen trơn nhẵn, rồi lặng lẽ tan biến vào màn đêm. Thân kiếm Vị Tế bị lực phản chấn hất ngược khiến cổ tay Thanh Vân run lên bần bật, lảo đảo lùi lại ba bước, khóe môi ứa ra dòng máu tươi.
“Đừng uổng phí sức lực.”
Bá Thuần từ tốn xoay người lại, ánh mắt bình thản nhìn mũi kiếm đang run rẩy của nàng. Giọng ông trầm khàn, đanh gọn “Khối cự thạch này cao chín thước, cắm rễ sâu vào lòng đất từ thuở hồng hoang. Tu sĩ các vị cậy có linh căn, mượn sức trời đất để dời non lấp bể, coi linh lực là vạn năng. Nhưng Vạn Niên Trầm Thạch sinh ra từ cội nguồn đất mẹ, bản tính thâm trầm, xưa nay không chịu khuất phục trước pháp thuật tiên gia. Kiếm khí của cô nương dù sắc bén gấp mười lần, hay dẫu đại năng Nguyên Anh giáng sấm sét xuống đây, cũng chỉ trượt đi như gió thoảng qua đèo mà thôi.”
Thanh Vân th* d*c, hai vai khẽ run rẩy. Nàng nhìn phiến đá đen tuyền phẳng lặng không một tì vết, rồi lại nhìn bàn tay gầy guộc đầy vết chai của Bá Thuần “Nếu tiên thuật vô dụng... thì làm sao có thể khắc chữ lên nó?”
Bá Thuần đưa tay chạm vào chiếc búa sắt nặng năm cân và ngọn đục hàn thiết giắt bên hông, đôi mắt ánh lên nét kiên định “Quy tắc của đá rất giản đơn. Nó khinh thường linh lực ngạo mạn, nhưng lại cúi đầu trước sức lực phàm trần. Muốn khắc lên nó một nét chữ, người thợ phải dùng mồ hôi, máu thịt và tâm huyết của một con người. Một nhát búa, một ngọn đục, gõ từng khắc, gọt từng tấc. Đá cảm nhận được nhịp thở và sự nhẫn nại thì mới chịu mở lòng để nét chữ ăn sâu vào xương tủy. Một khi đã khắc thành văn, dẫu ngàn năm sương gió hay vạn kiếp luân hồi, trời không xóa được, tiên chẳng bôi nhòa.”
Nhìn thanh tàn kiếm buông thõng và đôi vai chùng xuống của nàng, Bá Thuần biết thiếu nữ đã hiểu ra rằng việc minh oan cho người đã khuất không thể dựa vào sự bốc đồng hay những đòn chém vô vọng.
Thanh Vân hít một hơi sâu, vội luồn tay vào vạt áo trong rút ra chiếc túi gấm nhỏ sờn rách mép vải. Nàng run rẩy mở dây buộc, để lộ hơn chục viên linh thạch hạ phẩm mờ đục cùng một nắm linh thạch vụn, hai tay nâng lên trước mặt Bá Thuần “Nhan thúc... Vãn bối trốn chạy nhiều năm, chỉ gom góp được bấy nhiêu linh thạch từ việc săn thú hái thuốc. Kính xin thúc nhận lấy làm tiền công đục bia cho sư phụ. Nếu vẫn chưa đủ, kiếp này vãn bối nguyện làm trâu ngựa hầu hạ thúc...”
Bá Thuần nhìn những viên đá phát ra thứ ánh sáng yếu ớt trong lòng bàn tay nàng. Ánh mắt ông không gợn tia tham lam, trái lại chỉ đọng lại vẻ xa xăm, trầm mặc. Ông khẽ lắc đầu, đưa bàn tay thô ráp nhẹ nhàng đẩy túi gấm trở lại “Thu lại đi, cô nương. Thứ linh thạch này có thể khiến tu sĩ ngoài kia tranh đoạt đến đầu rơi máu chảy, nhưng ở Tiên Mộ Lăng này, nó chẳng đổi nổi một nắm đất sét đắp lò. Kẻ hèn này cả đời đục đá mưu sinh, ăn hạt gạo phàm trần, uống ngụm nước suối lạnh. Ta đục bia cho người chết, nhận công bằng bát cơm hay vài văn tiền phàm bạc, chứ tuyệt đối không nhận nửa viên linh thạch của tiên nhân. Muốn ta vung búa, thứ cô nương phải trả không phải tiền tài châu báu, mà là một tấc chân tướng xứng đáng để khối đá này mang đi qua muôn đời.”“Lão Nhan à Lão Nhan!”
Cố Tùng Đình nãy giờ đứng tựa vào gậy trúc, nghe vậy liền thở dài thườn thượt, chống gậy bước tới gần. Đôi lông mày bạc trắng của lão nhăn tít lại, con mắt mù phủ màng trắng đục rung rinh dưới ánh trăng “Ngươi sống ở cái lăng mộ này hai mươi năm, đục biết bao tấm bia, chẳng lẽ vẫn chưa hiểu ra chân lý sao? Thế gian này làm gì có chân tướng tuyệt đối! Kẻ mạnh định đoạt đúng sai, kẻ thắng viết nên lịch sử. Lãnh đại minh chủ ngồi trên Vấn Đạo Điện, một lời phán ra là thiên hạ coi như ý trời. Ngươi chỉ là một phàm nhân bốn mươi tám tuổi, không có nửa điểm linh căn, hà cớ gì phải lấy trứng chọi đá? Cứ an phận thủ thường, đục vài tấm bia vô danh, uống chén rượu nhạt sống nốt quãng đời còn lại không tốt hơn sao? Chọc giận Tiên Minh, cái giá phải trả không chỉ là tính mạng của ngươi, mà nắm xương tàn của ngươi cũng sẽ bị nghiền thành cát bụi, vĩnh viễn không có đất chôn thân!”
Đối diện với lời khuyên can đầy cay đắng của người bạn già, Nhan Bá Thuần vẫn đứng thẳng như một cây tùng trên vách đá. Gió đêm thốc mạnh làm bay những sợi tóc hoa râm phủ đầy bụi đá xám nơi thái dương ông.
“Ông bạn già, ta hỏi ngươi, kiếp người phàm trần dài được bao lâu?”
Cố Tùng Đình sững lại, khẽ hừ một tiếng không đáp.
Bá Thuần nhìn xuống đôi bàn tay chằng chịt vết chai sạn của mình, giọng nói trầm tĩnh nhưng nặng tựa ngàn cân “Bảy mươi năm, cùng lắm là tám mươi năm. So với tu sĩ các ngươi sống mấy trăm năm, kiếp phàm quả thực ngắn ngủi tựa ngọn cỏ ven đường. Hai mươi năm trước, khi vợ con ta chết oan dưới chân núi này, ta từng nghĩ mạng sống phàm nhân sao mà rẻ rúng. Nhưng những năm tháng cầm búa nơi đây, nhìn hàng vạn nấm mồ tu sĩ xanh cỏ, ta lại hiểu ra một điều. Trường sinh ngàn năm mà tâm can rỗng tuếch, sống bằng sự dối trá và hèn nhát ngoảnh mặt trước oan khiên, thì thọ mệnh ấy cũng chỉ là một kiếp mục ruỗng kéo dài. Thân phàm này dẫu tan thành tro bụi, nhưng nếu nhát búa hạ xuống giữ lại được một tấc công minh cho người chết, thì kiếp sống ngắn ngủi này mới không uổng phí.”
Cố Tùng Đình há miệng định nói gì đó, nhưng rồi ngậm lại. Con mắt lành còn lại của lão co giật liên hồi, bên trong ánh lên vẻ bàng hoàng xen lẫn hổ thẹn sâu kín. Chiếc gậy trúc trên tay lão khẽ run lên, rồi lão im lặng lùi lại một bước, chìm vào bóng tối dưới chân phiến đá.
Không khí Tiên Mộ Lăng lại rơi vào sự tĩnh mịch cô liêu. Gió rít từng cơn buốt giá. Nhan Bá Thuần quay sang Tạ Thanh Vân, ánh mắt dừng lại trên chiếc hộp gỗ mun cổ kính mà nàng vẫn đang ôm ghì trước ngực. Mùi trầm hương thoang thoảng quyện cùng mùi máu khô rỉ sét từ khe hộp tản mác trong không khí.
“Tạ cô nương.” Bá Thuần cất tiếng, ngữ điệu dứt khoát.
“Có vãn bối.” Thanh Vân run giọng thưa.
“Lời cô nương nói, ta có thể tin một nửa. Nỗi oan của Thẩm Dực, ta cũng thấu hiểu một phần. Nhưng muốn lão thợ đục này giáng nhát búa đầu tiên lên Vạn Niên Trầm Thạch, ta cần chứng cứ sắt đá chứ không thể chỉ dựa vào một tấm lòng.”
Bá Thuần chỉ ngón tay thô ráp về phía những đạo phù chú màu bạc đang phong tỏa nắp hộp “Hãy mở phong ấn chiếc hộp gỗ này ra. Hãy để ta tận mắt thấy di vật bên trong, xem thử ba mươi năm trước tại Huyết Đầm Ma Cốc, rốt cuộc máu của ai đã chảy, và tội ác của ai bị che giấu. Nhìn thấy chân tướng rồi, ta mới quyết định có khắc bia cho người hay không.”
Thanh Vân sững người. Ánh trăng mờ đục rọi xuống gương mặt thanh tú đượm vẻ phong trần của nàng. Bàn tay nàng run rẩy đặt lên dải phù chú khô giòn trên mặt gỗ mun, trong khi ngoài xa, tiếng gió hú từ rặng Tử Tiêu bỗng chốc gầm lên từng hồi dữ dội...
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
