Chương 2: Tàn Kiếm Vị Tế

Tiếng thở hắt nghẹn ứ vừa dứt, đôi mắt đẫm lệ của thiếu nữ bỗng mờ dại rồi khép chặt. Tấm thân mảnh mai lảo đảo đổ sụp xuống lớp đá dăm lởm chởm, hai cánh tay buông lơi để bọc vải đen tuột khỏi lồng ngực.

Nhan Bá Thuần buông rơi búa sắt cùng ngọn đục hàn thiết xuống mặt đá, vang lên tiếng “keng” đanh gọn. Ông sải bước tới, hai cánh tay gầy guộc rắn rỏi kịp đỡ lấy thiếu nữ trước khi nàng đổ ập xuống nền sương giá. Thân thể nàng nhẹ bẫng, lạnh ngắt đến rợn người, chỉ có vệt máu nơi khóe môi còn vương chút hơi ấm tàn tạ. Kẽ ngón trỏ tay phải của Bá Thuần – nơi bị đá cứa rách hồi chiều – khẽ nhói buốt khi chạm vào lớp áo thô bết dính vệt đỏ sẫm.

Cố Tùng Đình chống gậy trúc bước thấp bước cao lại gần, con mắt phải trũng sâu đảo quanh màn sương đang sụp xuống chân rặng Tử Tiêu, cất giọng khàn đặc “Lão Nhan, con nha đầu này toàn thân nồng nặc mùi máu tanh, rõ ràng đang bị cừu gia truy sát. Đưa kẻ lạ mặt vào lăng mộ lúc này, chỉ e rước họa sát thân!”

“Người sống có tội hay không ta chưa rõ, nhưng sắp chết cóng nơi đầu ngõ thì không thể khoanh tay.”

Bá Thuần đáp lời ngắn gọn. Ông nhặt thanh cổ kiếm sứt mẻ cùng bọc vải đen lên, rồi xốc thiếu nữ lên tấm lưng gầy guộc vững chãi, từng bước cõng nàng tiến về phía gian lều đá tồi tàn nép mình dưới bóng rặng thông già.

Gian lều đá xám xịt chỉ rộng chừng một trượng vuông, bốn bề che bằng phên nứa mục nát, trơ trọi chiếc chõng tre ọp ẹp cùng bếp lò đắp đất sét đỏ. Đặt thiếu nữ nằm xuống, đắp cho nàng tấm chăn chàm bạc màu, Bá Thuần ngồi thụp xuống nhen lại lửa, đun nóng nồi cháo hoa nấu bằng gạo đỏ còn thừa ban trưa. Khói mỏng lượn lờ tỏa mùi thơm mộc mạc, phần nào xua đi giá buốt luồn qua khe vách.

Cố Tùng Đình tựa lưng vào mép cửa, với tay cầm lấy thanh kiếm cũ nát đặt trên bàn đá. Dưới ánh lửa bập bùng, con mắt đục ngầu của lão co rút dữ dội khi ngón tay sờ lên vệt nứt chéo nơi mũi kiếm gãy cùng hai chữ cổ “Vị Tế” loang lổ rãnh máu. Sắc mặt lão thoắt cái trắng bệch, giọng thì thào run rẩy “Vết gãy này... ba tấc nghịch phong... Đây là kiếm của Kiếm Tông ba mươi năm trước! Sao nó lại ở trong tay con nha đầu kia?”

Chưa kịp dứt câu, từ góc lều bỗng vang lên một tiếng thở gấp gáp.

Trên chiếc chõng, thiếu nữ giật mình choàng tỉnh. Nàng hoảng hốt gượng dậy, bàn tay gầy theo thói quen quờ vội sang bên hông. Không thấy thanh kiếm quen thuộc, ánh mắt nàng lập tức lóe lên tia cảnh giác sắc lạnh, bờ vai gồng cứng, hai hàm răng nghiến chặt toan vùng dậy liều mạng.

“Đừng nhúc nhích, kinh mạch của cô nương đang tổn hại nghiêm trọng, cử động mạnh chỉ tổ thổ huyết thêm thôi.”

Một giọng nói trầm khàn, bằng phẳng vang lên cắt ngang sự căng thẳng. Nhan Bá Thuần từ tốn bưng bát cháo nóng tiến lại. Dưới ánh đèn dầu tù mù, đôi mắt phủ bụi đá của người thợ đục phẳng lặng như mặt giếng cổ, không nửa tia sát khí hay toan tính.

Ánh nhìn ấy cùng hơi ấm nghi ngút từ bát cháo mộc mạc khiến sự hoảng loạn trong lòng thiếu nữ dần tan biến. Cánh tay giơ lên phòng thủ chầm chậm hạ xuống, bờ môi nứt nẻ của nàng run rẩy mấp máy “Tiền... tiền bối...”“Ta không phải tiền bối, chỉ là một lão thợ đục phàm trần.” Bá Thuần đưa bát cháo qua. “Nơi này không có linh đan diệu dược, chỉ có cháo hoa ấm bụng. Uống đi cho lại sức.”

Thiếu nữ run rẩy đón lấy bát cháo. Nhìn nàng cúi đầu nuốt từng ngụm cháo nóng hổi, để mặc nước mắt lặng lẽ rơi xuống miệng bát sứt, Bá Thuần thầm thở dài. Một thiếu nữ mang đầy thương tích, áo vải rách nát phong trần, hẳn đã phải nếm trải muôn vàn hiểm nguy trên bước đường trốn chạy.

Ở góc lều, Cố Tùng Đình bước giậm chân tới, chiếc gậy trúc gõ cộc cộc xuống nền đất nện, giọng gay gắt “Ăn xong thì đi ngay! Lão Nhan, ngươi hồ đồ rồi! Đó là tàn kiếm của nghiệt đồ Kiếm Tông năm xưa! Giữ con bé này lại nửa khắc, khi đám Chấp pháp đường của Tiên Minh tìm đến, mảnh xương tàn của hai lão già chúng ta cũng chẳng còn!”

Thanh Vân run lên bần bật. Nàng đặt vội bát cháo xuống mép chõng, bất chấp hơi thở đứt quãng vì nội thương, lập tức quỳ sụp xuống nền đá lạnh ngắt ngay trước mũi giày Nhan Bá Thuần. Nàng dập đầu thật mạnh, trán chạm đá vang lên tiếng cộc nặng nề “Cầu xin tiền bối từ bi! Vãn bối biết mình mang tội lớn, không dám làm liên lụy đến hai vị ân công. Nhưng trên cõi đời này, ngoài Tiên Mộ Lăng ra, chẳng còn nơi nào chịu dung chứa nắm xương tàn của sư phụ...”

Nàng run rẩy kéo bọc vải đen lại gần, cẩn thận gỡ từng lớp vải thô bết máu khô. Hiện ra bên trong là chiếc hộp gỗ mun cổ kính, mặt trên chạm khắc những đường phù văn phong ấn màu bạc đã mờ nhạt, tỏa ra mùi trầm hương thoang thoảng hòa quyện cùng tử khí u buồn.

Nàng ôm chặt chiếc hộp gỗ trước ngực, nước mắt giàn giụa ngước nhìn người thợ đục “Sư phụ vãn bối đã nằm dưới đáy vực suốt ba mươi năm oan khiên, không bia không mộ, tên tuổi bị bôi nhọ muôn đời. Vãn bối liều chết gom nhặt di cốt người mang đến đây, chỉ mong một nấm đất vùi thân, một dòng tên tạc lên đá... Xin tiền bối thương xót!”

Nhan Bá Thuần lặng lẽ nhìn chiếc hộp gỗ rồi nhìn đôi tay rớm máu của thiếu nữ, lòng gợn lên niềm xót xa. Ông cúi người, bàn tay thô ráp đặt lên vai nàng, trầm giọng “Người chết nhắm mắt, vinh nhục đều thành mây khói. Nhưng trước khi hạ búa, ta cần biết rõ. Kẻ nằm trong hộp gỗ này... rốt cuộc mang danh tính gì?”

Căn lều đá chìm vào một khoảng lặng nghẹt thở, chỉ còn tiếng than củi nổ lách tách và tiếng gió rít ngoài khe núi.

Thiếu nữ cắn chặt môi đến bật máu, ngẩng cao đầu. Trong đôi mắt ngấn lệ của nàng bừng lên ngọn lửa kiên trinh bất khuất, từng chữ từng lời thốt ra run rẩy nhưng vang vọng đanh thép “Sư phụ vãn bối... chính là Thẩm Dực!”

Cái tên Thẩm Dực vừa dứt lời, một luồng tử khí âm hàn từ sâu trong rặng Tử Tiêu dường như khẽ cuộn trào, làm ngọn đèn dầu le lói trong lều đá chao đảo suýt tắt.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.