Chương 18: Bóc Trần Cốt Tội
Tiếng thét uy nghiêm như sấm sét vừa dội tới thì một mũi phi tiêu bằng đồng xé gió cắm phập vào thân ngọn đuốc trên tay Nghiêm Bá Hoài, hất văng khối lửa đỏ rực ra giữa khoảng sân lát đá xanh. Toán nha sai mang giáp da, tay lăm lăm giáo câu liêm ùa vào như nước vỡ bờ. Những đôi ủng sắt giẫm tắt ngúm đốm than le lói, nhanh chóng gạt phăng các bao tải rơm khô tẩm dầu hỏa ra xa khỏi hàng cột lim Thâm Uyển.
Cùng lúc ấy, tiếng bước chân rầm rập của hàng trăm quan binh thị vệ làm rung chuyển màn đêm. Dưới ánh đuốc sáng rực như ban ngày, Tuần án Ngự sử Lý Văn Khâm sải bước tiến vào gian viện. Ngài vận quan phục gấm tía thêu chim trĩ, thắt đai ngọc lấp lánh, tay giơ cao lệnh bài triều đình khắc chữ vàng sáng loáng. Khí độ uy nghi cùng ánh mắt sắc lạnh như chim ưng của bậc khâm sai khiến đám gia đinh Nghiêm phủ mặt mày tái nhợt, chân tay rụng rời, lập tức buông rơi gậy gộc, run rẩy quỳ rạp xuống nền gạch rêu phong., lập tức buông rơi gậy gộc, run rẩy quỳ rạp xuống nền gạch rêu phong.
Nghiêm Bá Hoài lảo đảo toan lùi bước tháo chạy nhưng hai nha sai vạm vỡ đã lướt tới, bẻ ngoặt hai cánh tay lão ra sau, ấn quỳ gối ngay trên bậc tam cấp trước bậu cửa Thâm Uyển. Chuỗi bồ đề trên cổ tay lão đứt bặt, những hạt gỗ đen lăn lông lốc trên thềm đá., những hạt gỗ đen lăn lông lốc trên thềm đá.
“Lý… Lý đại nhân! Ngài… ngài cớ sao lại nửa đêm phá cổng xông vào trang viên của thảo dân?” Nghiêm Bá Hoài lắp bắp thanh minh, mặt mày cắt không còn hột máu.
Lý Văn Khâm hừ lạnh một tiếng, cất giọng đanh thép dội khắp bốn bề “Nghiệt súc! Trước mặt bản quan, ngươi còn dám giở thói giảo biện? Ngươi toan phóng hỏa diệt khẩu, thiêu sống thợ sơn để che giấu tội ác tày trời ba mươi năm trước hay sao?”
Tiếng thanh la báo động dồn dập từ đầu đêm cùng cánh cổng gỗ lim sụp đổ đã làm kinh động cả vùng phụ cận. Hàng trăm bá tánh và bô lão dân chúng huyện Thanh Khê nghe tin chấn động đã lục tục kéo tới, đứng vây kín khoảng sân ngoài Thâm Uyển, nghển cổ bàng hoàng dõi nhìn vào gian từ đường nghi ngút khói đen., đứng vây kín khoảng sân ngoài Thâm Uyển, nghển cổ bàng hoàng dõi nhìn vào gian từ đường nghi ngút khói đen.
Giữa vòng vây quan nha và dân làng, gia nhân A Thìn bước ra quỳ mọp trước quan Tuần án, bên cạnh là Đặng Phúc đã bị trói chặt cánh khuỷu, nửa mặt lở loét vì độc sơn đang run như cầy sấy. Lý Văn Khâm trang nghiêm rút từ trong ngực áo ra một mảnh ngọc phỉ thúy vỡ góc dính sợi chỉ bạc và vạt lụa thiên thanh, giơ cao trước ánh đuốc sáng lòa “Ba mươi năm trước, cả nhà Bạch viên ngoại đột ngột bỏ mạng, nguyên phối thê thất Bạch Tố Nương mất tích không một dấu vết, toàn bộ ruộng đất điền sản danh giá rơi trọn vào tay họ Nghiêm. Nay gia nhân A Thìn đã dũng cảm mang mảnh ngọc gia bảo này cùng huyết thư tố giác tội ác đến tận tay bản quan! Triều đình có lệnh, bản quan phụng mệnh phục thẩm lại đại án họ Bạch, vén màn tà thuật, trả lại công bằng cho oan hồn dưới suối vàng!”
Tiếng xì xào kinh hãi của bá tánh rộ lên như sóng trào. Những cặp mắt đổ dồn về phía pho tượng hộ pháp cao sáu thước đang nứt toác ngực trái, rỉ từng dòng huyết dịch tanh nồng đen đặc, ai nấy đều rùng mình ớn lạnh.
Lý Văn Khâm quay sang Chúc Đình Tín, giọng chùng xuống đầy cung kính “Lão trượng Chúc Đình Tín, thảo dân làng An Mộc đã vì đại nghĩa gìn giữ cốt tượng đến giờ phút này. Nay bản quan yêu cầu lão trượng dùng ngón nghề truyền đời, hạ nhát dao công lý bóc trần ruột tượng ngay trước mắt công đường và trăm họ!”
Chúc Đình Tín khẽ cúi đầu, chắp đôi bàn tay chai sạn đáp lễ “Thảo dân tuân lệnh Đại nhân.”Ông quay sang nhìn cháu nội. Chúc Tiểu Lạc đứng nép bên cạnh, bàn tay nhỏ nắm chặt vạt áo chàm của ông, đôi mắt trong veo lấp lánh niềm tin tưởng sắt đá. Cậu bé nhanh nhẹn mở túi gấm, cẩn thận rắc một nắm tro vỏ nghêu nướng cùng bột lá chàm gai quanh chân bệ thờ để ngăn chướng khí sơn độc phát tán làm hại bá tánh xung quanh, đoạn đốt một nén trầm thơm c*m v** lư đồng. Khói trầm thanh khiết tỏa lan, át đi mùi máu tanh nồng ngột ngạt.
Chúc Đình Tín bước từng bước chậm rãi nhưng chắc nịch lại gần pho tượng gỗ. Giọt lệ máu trên mu bàn tay ông bỗng ấm sực lên, tựa luồng hơi ấm dịu dàng xua tan giá lạnh đêm sương, che chở cho tâm trí ông được sáng suốt, vững vàng. Người thợ cả rút từ ống tay áo ra con dao nạo bằng thép tôi nguội dài nửa thước uốn cong hình lá lúa. Lưỡi thép sáng loáng phản chiếu ánh đuốc — người bạn đường nửa đời người qua bao dặm nghề nghiệp.
Cả gian Thâm Uyển nín thở, Cả gian Thâm Uyển nín thở, hàng trăm cặp mắt đổ dồn về lưỡi dao, chỉ còn nghe tiếng lửa đuốc xèo xèo l**m gió và nhịp thở nén chặt của bá tánh.. Khắc ghi lời răn của tổ tông truyền đời: “Khắc ghi lời răn của tổ tông truyền đời: "Sơn phủ ngoài hình, tâm giữ đức trong", ánh mắt người thợ già đanh lại, tay cầm dao nâng lên ngang tầm vết nứt ngực tượng.”, ánh mắt người thợ già đanh lại, tay cầm dao nâng lên ngang tầm vết nứt ngực tượng.
Lưỡi thép lá lúa sắc ngọt lướt một đường dứt khoát men theo kẽ nứt toác. Nhát nạo đầu tiên hạ xuống, từng mảng sơn son thếp vàng quỳ tróc lả tả, để lộ tầng sơn then đen nhánh trơ cứng như đá hoa cương. Chúc Đình Tín bình tĩnh đổi góc dao, thi triển ngón nghề bóc cốt gia truyền, nạo sâu qua tầng hom mùn cưa mịn màng. Lớp vải xô gai cổ xưa tẩm máu khô đen đặc ba mươi năm dần dần hiện rõ, bốc lên mùi xú uế tanh tưởi rợn người.
Dưới bàn tay điêu luyện của lão thợ cả, từng dải vải gai bện chặt bằng tóc phụ nữ quyện mỡ người bị rọc đứt ngọt xớt. Lưỡi dao chạm vào cốt gỗ mít, cẩn trọng lách qua từng mối ghép, nạo sạch lớp bùn ao cổ kết dính để tìm ra các then chốt ngầm giấu kín dưới thớ gỗ. Bằng kinh nghiệm nửa đời người gắn bó với tượng thờ, ngón tay chai sạn của Chúc Đình Tín lần đúng vị trí huyệt mộng then chốt nơi mạn sườn tượng. Ông tra mũi dao thép vào khe hở, dồn kình lực vào cổ tay rồi bẩy mạnh.
“Rắc!”
Một tiếng gãy giòn vang lên đanh gọn xé toạc không gian ngột ngạt. Khối chốt then bằng gỗ mít bung ra, kéo theo toàn bộ mảng ngực trước của pho tượng hộ pháp từ từ bật mở, đổ sụp xuống bệ đá.
Một làn chướng khí đen mờ tựa sương lam bốc lên rồi lập tức bị làn khói trầm thơm ngát hóa giải. Bên trong ruột tượng rỗng, cảnh tượng rùng rợn và bi thương cùng cực phơi bày trọn vẹn trước ánh sáng công lý.
Một bộ hài cốt thiếu phụ khô khốc hiện ra trong tư thế bị ép quỳ gập người đau đớn. Hai cổ tay và hai cổ chân của nàng bị trói ghì chặt vào các thanh cọc gỗ bằng những vòng gông sắt nặng trịch, nay đã han gỉ xỉn màu qua năm tháng. Trong lồng ngực trơ những dải xương sườn xám ngắt, đôi cánh tay xương xẩu của người mẹ vẫn vòng lại, ôm ghì lấy một bọc xương nhỏ bé co ro của đứa con thơ chưa kịp cất tiếng khóc chào đời. Dưới đáy ruột tượng, những vệt sơn ta đen đặc từng dìm ngập thân thể mẹ con nàng ba mươi năm trước nay đã trơ cứng thành những rãnh sâu gớm ghiếc, giữ nguyên dấu vết của những rãnh sâu gớm ghiếc, giữ nguyên dấu vết của một cuộc táng sống trái đạo trời không thể dung tha..
Nhưng chi tiết khiến hàng trăm người có mặt phải rùng mình kinh hãi tột độ chính là trên đỉnh hộp sọ của bộ hài cốt thiếu phụ: một cây trâm ngọc nạm vàng tinh xảo, chạm trổ hình hoa mai gia bảo của dòng họ Bạch, đang găm sâu ngập quá nửa vào xương sọ, chứng tích man rợ của nhát đâm chí mạng đoạt mạng nạn nhân trước khi nhét vào ruột gỗ.
Tiếng khóc nghẹn ngào thương xót của vài bô lão và phụ nữ trong đám đông bá tánh bật ra xé lòng. Đám gia đinh Nghiêm phủ sợ hãi quỳ rạp xuống, dập đầu lia lịa xin tha tội.
Lý Văn Khâm tiến lên một bước dài, tay chỉ thẳng vào thi cốt oan khiên, cất giọng sang sảng kết tội “Nghiêm Bá Hoài! Cây trâm ngọc hoa mai này chính là vật đính ước gia bảo họ Bạch trao cho ngươi ba mươi năm trước! Dưới sự chứng giám của trời đất, công đường và trăm họ, ngươi còn lời nào để chối cãi nữa chăng?”
Nhìn cây trâm ngọc đẫm vết máu khô ba mươi năm phát sáng dưới ánh đuốc quan nha, Nghiêm Bá Hoài ngã quỵ xuống nền đá rêu phong, đôi mắt trợn ngược trắng dã trong cơn co giật kinh hoàng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
