Chương 7: Ủ Lá đón Sương đêm

Gian nhà tranh ven bãi sông Lam chìm dần vào bóng đêm tĩnh mịch khi canh ba vừa điểm. Tiếng dế rả rích bên rặng dâu tằm cất lên từng chập đều đặn, hòa cùng tiếng nước sông vỗ bì bọp vào bờ đất phù sa. Trên chiếc giường tre trải manh chiếu hẹp, Nông Tú Trân trằn trọc trở mình hết bên nọ sang bên kia. Đã qua hai tuần trà kể từ lúc ngọn đèn dầu lạc trên bàn nước lụi tắt, nhưng giấc ngủ tuổi trăm hai mươi sáu vẫn chẳng chịu tìm về.

Mỗi lần nhắm mắt lại, hình bóng lưng còng run rẩy của cụ Chung lúc đứng lặng ngoài hàng rào giâm bụt ban chiều lại hiện lên mồn một. Ánh mắt đục mờ của ông khi nhìn bà qua làn khói bếp mù u cứ chập chờn bám riết lấy tâm trí bà, mang theo nỗi day dứt khôn nguôi suốt mười năm ròng rã. Bà Trân khẽ đưa bàn tay gầy gò sờ lên ngực áo, nơi vết hờn tủi tưởng chừng đã đóng vảy nay lại nhói lên một nhịp cay đắng.

“Lão già lẩm cẩm… gió bấc đầu mùa buốt như kim châm, tuổi ấy rồi còn lặn lội sang đây chịu khổ làm chi không biết.”

Bà lẩm bẩm buông một tiếng thở dài khô khốc. Khớp gối nhức mỏi khẽ kêu răng rắc khi bà gượng ngồi dậy, lần tìm đôi dép cói dưới gậm giường. Căn nhà tranh tối om, chỉ có vệt trăng muộn xuyên qua kẽ liếp hắt xuống nền đất một vệt sáng mỏng manh. Đôi chân già nua bước từng bước khẽ khàng, chậm rãi tiến về phía cánh cửa liếp nhìn sang bến sông.

Bà Trân khẽ khàng nhấc chiếc chốt tre, hé mở một khe nhỏ vừa đủ tầm mắt nhìn ra ngoài.

Gió lạnh từ mặt sông Lam thốc vào mặt mang theo hơi nước ngai ngái cùng mùi bùn non. Ở gian chái phụ của bà con vạn chài cách đó chừng vài chục bước chân, ngọn đèn dầu lạc leo lét hắt ra khoảng sáng vàng đục, run rẩy chao đảo giữa màn sương đêm dày đặc. Dưới bóng sáng nhạt nhòa ấy, hai bóng người một già một trẻ đang cặm cụi bên chiếc giàn tre dựng tạm ngoài mép sân.

Chung Vĩnh khoác manh áo nâu sờn, hai tay cẩn thận đỡ từng bó lá kè non xanh mướt lấy ra từ chiếc hòm gỗ cổ của gia đình, nhẹ nhàng đặt lên mặt chõng. Cậu thiếu niên vừa làm vừa khẽ khàng thưa chuyện “Ông nội vào nghỉ một lát đi kẻo sương xuống ngấm lạnh. Chỗ lá này cứ để cháu trải ra giàn cho.”

Chung Phục Lễ đứng cạnh mép giàn, đầu hơi lắc nhẹ, bàn tay gầy guộc chằng chịt vết chai sạn khẽ gạt lời cháu nội. Giọng cụ ông trầm đục, đứt quãng bay qua làn gió đêm “Nghề này… không làm ẩu được đâu cháu. Đón sương đêm sông Lam phải đúng lúc sương đọng thành hạt trên ngọn cỏ, trải lá úp mặt cong xuống dưới để hơi sương ngấm đều vào từng thớ gân. Chậm một khắc thì lá khô giòn, vội một khắc thì lá ủng nước, mai này lên nón chẳng thể nào trắng muốt được.”

Bên khe cửa liếp, tim bà Trân khẽ thắt lại. Từng lời, từng câu ấy sao mà quen thuộc đến nao lòng. Mấy mươi năm cùng ông đầu ấp tay gối nơi làng Cổ Mộc, có mùa nón nào mà bà không thức cùng ông qua những đêm sương buốt giá thế này. Thuở ấy, ông cũng đứng tỉ mẩn so từng chiếc lá, còn bà ngồi bên bếp than hồng ủ cho ông bát nước chè xanh ấm nóng. Nay tóc cả hai đã bạc trắng như cước, răng long mắt mờ, vậy mà cái nết cẩn trọng, nâng niu từng phiến lá của ông vẫn chẳng hề đổi thay một mảy may.Dưới ánh đèn le lói, bà thấy cụ Chung khẽ khom lưng. Bàn tay trăm tuổi run run đón lấy từng tệp lá kè non từ tay Chung Vĩnh. Cụ nâng niu từng phiến lá mỏng manh như sợ làm rách đi lớp phấn trắng tự nhiên còn vương trên mặt lá. Đôi mắt mờ đục nheo lại, ngắm nghía từng đường sống lá dưới ánh sáng hắt ra từ ngọn đèn leo lét, rồi cẩn trọng dàn đều từng chiếc lên mặt dát tre thưa. Mỗi động tác vuốt lá, so mép của cụ đều chậm rãi, chuẩn xác đến lạ kỳ, như thể đôi bàn tay kia đã khắc ghi từng đường gân phiến lá vào tận máu thịt.

Một cơn gió bấc bất chợt thổi thốc qua bãi bồi, cuốn theo những giọt sương đêm buốt giá táp thẳng vào gian chái phụ. Ngọn đèn dầu lạc chao nghiêng muốn tắt, bóng cụ Chung in trên vách đất bỗng chao đảo dữ dội. Tấm lưng còng của cụ run lên bần bật, cụ khẽ co ro bờ vai gầy trong manh áo vải thô nhuộm màu nâu sồng đã bạc phếch. Tiếng ho húng hắng bị cụ kìm nén trong cổ họng, nghẹn lại thành từng hơi th* d*c nhọc nhằn giữa đêm khuya thanh vắng.

Bà Trân đứng chôn chân sau cánh liếp, hai bàn tay vô thức bấu chặt vào gờ cửa tre. Từng khớp ngón tay bà trắng bệch vì siết mạnh, khóe mắt già nua bỗng chốc cay xè. Mười năm xa cách, bà dặn lòng phải sắt đá, phải để cho ông nếm trải nỗi cô quạnh của kẻ bội ước. Nhưng giờ đây, nhìn dáng vẻ đơn độc, gầy guộc của người chồng đã ở tuổi trăm hai mươi chín đang gồng mình chịu đựng cái lạnh cắt da chỉ để phơi từng mảnh lá chằm nón tạ tội với mình, lòng bà trào dâng một nỗi xót xa nghẹn ngào. Cơn giận dỗi dường như bị làn sương lạnh sông Lam cuốn đi quá nửa, chỉ còn lại sự xót thương dâng lên ngập tràn lồng ngực.

Cụ Chung đưa tay quệt ngang giọt sương đọng trên chòm râu bạc, quay sang dặn dò đứa cháu đích tôn “Vĩnh con, lấy thêm nắm tro rơm rắc quanh chân giàn tre đi, tránh cho hơi ẩm dưới đất xông lên làm sẫm màu lá. Lá này là để làm nón cho bà nội con đội đi vãng cảnh chùa non… phải giữ cho thật tinh khiết, thật trắng trong mới được.”

Chung Vĩnh dạ ran, vội vàng bước vòng ra phía sau chái bếp tìm tro rơm. Cụ Chung vẫn đứng trơ trọi bên giàn lá, hai bàn tay thô ráp khẽ áp vào nhau rồi đưa lên miệng phà hơi ấm, đôi mắt vẫn đăm đăm nhìn về phía căn nhà tranh của bà Trân với nỗi khắc khoải khôn cùng.

Chứng kiến cảnh tượng ấy, lồng ngực bà Trân rung lên từng chặp nghẹn ngào. Bà không đành lòng nhìn ông đứng rét mướt giữa trời đêm thêm nữa. Quay ngoắt người lại, bà bước vội về phía chiếc chõng tre của mình, run run ôm lấy tấm chiếu cói dày còn vương hơi ấm và tấm chăn bông cũ cuộn gọn ghẽ trong tay nải. Bà định bụng sẽ mở toang cánh cửa này, bước sang bên ấy, ném tấm chăn vào lòng ông rồi mắng cho một trận nên thân vì cái tội già cả mà còn làm chuyện dại dột.

Thế nhưng, khi đôi chân vừa bước tới chạm vào bậu cửa gỗ xoan mát lạnh, bước chân bà bỗng khựng lại.

Bàn tay đang giữ then cửa khẽ run rẩy. Lời thề năm xưa khi dứt áo rời làng Cổ Mộc lại bất chợt ùa về, như một chiếc rào vô hình chắn ngang trước mặt. Mười năm trời đằng đẵng một mình bên bến sông quạnh quẽ, nếu giờ đây dễ dàng bước sang, liệu ông có thực sự hiểu thấu nỗi đau đáu mà bà đã phải ôm ấp suốt bao mùa hoa nở hoa tàn? Cái tính ngang ngạnh vốn có trong người đàn bà trăm tuổi lại khẽ cựa mình, níu chặt lấy đôi chân bà.

Bà Trân đứng lặng bên bậu cửa hồi lâu, nghe tiếng gió ngoài sông thổi qua rặng dâu mỗi lúc một lạnh buốt. Bà từ từ buông thõng tấm chăn bông xuống mép ghế tre, khẽ thở dài một tiếng thật sâu trong bóng tối rồi lặng lẽ khép chặt cánh cửa liếp lại, gài then gỗ vào then cài.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.