Chương 5: Mái Chái Ven Bến đò

Tiếng then gỗ khép vào ổ cối dội lại giữa khoang ngực Chung Phục Lễ một nỗi đau buốt nhói. Gió sông Lam thổi thốc qua bờ giâm bụt, lay động dải áo đay đã sờn rách nơi bờ vai gầy guộc. Cụ đứng chết lặng trước cổng rào tre thưa, hai bàn tay run lẩy bẩy tì chặt lên đầu gậy trúc vàng, ngực phập phồng nghẹn ứ. Từng lời người vợ tào khang vừa buông ra tựa như nhát dao cứa vào vết thương lòng mười năm qua cụ hằng che giấu. Cụ không giận, chỉ thấy từng thớ thịt xót xa cho nỗi ấm ức chất chồng mà bà Trân đã chịu đựng một mình nơi xóm đò hoang vắng này.

Chung Vĩnh đứng chơ vơ giữa khoảnh sân phơi thuốc, ngơ ngác nhìn cánh cửa liếp đóng chặt rồi quay sang phía cổng. Thấy ông nội loạng choạng như sắp ngã, chàng trai trẻ vội vã chạy lướt qua rặng cúc dại, giơ hai tay đỡ lấy cánh tay xương xẩu của cụ “Ông nội! Bà nội… bà giận thật rồi. Gió bến sông thổi lạnh lắm, hay là cháu dìu ông vào bóng râm ngồi nghỉ?”

Cụ Chung hít một hơi sâu, kìm nén cơn xúc động đang dâng lên cay xè nơi sống mũi. Cụ khẽ lắc đầu, đưa bàn tay nổi đầy gân xanh vỗ nhẹ lên mu bàn tay cháu đích tôn. Đôi mắt già nua ngước nhìn nếp nhà tranh mái rạ bình yên, rồi lại nhìn bờ đất bồi ven mép sóng.

“Vĩnh con… chớ có nản lòng.” Giọng cụ Chung khàn đặc, chậm rãi từng tiếng: “Mười năm trời đằng đẵng, một câu ‘khách lạ’ của bà ấy sao sánh được với nỗi tủi hờn phải dứt áo ra đi. Ta sang đây tạ tội, không thể vừa gặp chút trắc trở đã thoái lui. Ta nhớ ở mé dưới bến nước, chếch về hướng cây đa cổ thụ có một gian chái phụ bỏ không của bà con làng chài. Con sang thưa gửi một lời, xin người ta cho hai ông cháu mình tá túc vài tuần trăng.”

Chung Vĩnh nghe ông dặn dò rành rọt, trong lòng dâng lên niềm khâm phục và thương xót vô ngần. Chàng trai gật đầu thật mạnh “Dạ, cháu hiểu rồi. Cháu sẽ sang gặp bác trưởng xóm xin phép ngay, ông cứ đứng tựa tạm vào gốc cây dâu này đợi cháu một lát.”

Nói đoạn, Chung Vĩnh chạy thoăn thoắt về phía bờ xóm. Chỉ một tuần trà sau, chàng trai đã quay lại với nụ cười tươi tắn trên môi, tay cầm theo bó rơm khô và một chiếc chổi đót. Bà con xóm đò Thạch Thất vốn chất phác, nghe cháu nội cụ đại thọ trăm tuổi làng Cổ Mộc sang thăm người thân muốn mượn tạm chái nhà chứa lưới rách để ở vài hôm thì niềm nở đồng ý ngay, lại còn nhiệt tình chỉ đường.

Chung Vĩnh cẩn thận quẩy đòn gánh, một đầu là rương gỗ lim bọc đồng, một đầu là manh chiếu cói, một tay vững vàng dìu cụ Chung men theo con đường mòn phủ đầy hoa xuyến chi dẫn xuống gian chái phụ. Đó là một gian nhà nhỏ vách đất lợp mái lá cọ, tuy đơn sơ bụi bặm nhưng nền đất nện rất khô ráo, cửa sổ ngó thẳng ra rặng bần soi bóng xuống mặt nước lấp lánh.

Vừa bước qua bậu cửa, cụ Chung chậm rãi tựa gậy vào vách, không chịu ngồi nghỉ mà lập tức xắn tay áo cùng cháu dọn dẹp. Đôi bàn tay trăm năm quen nắn nót từng mũi kim khẽ khàng nhặt từng mảnh rác lá, lau bụi trên chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách. Hai ông cháu quét tước sạch sẽ mạng nhện, trải phẳng phiu tấm chiếu cói thơm mùi nắng mới.

Khi Chung Vĩnh nhẹ nhàng hạ chiếc rương gỗ lim bọc đồng xuống đặt ngay giữa gian phòng, cụ Chung khẽ quỳ một gối xuống nền đất nện, run run lần mở chốt khóa đồng. Nắp rương bật mở, tỏa ra mùi gỗ trầm bài hương quyện lẫn hương ngai ngái của thảo mộc phơi sương. Cụ nâng niu từng món đồ nghề: chiếc cưa nhỏ tiện nan tre sáng loáng, kéo xén lá thép đúc, nạo nhỏ vót vành và hộp đồng thau đựng mũi kim chằm. Dưới đáy rương, bó lá kè non xanh mướt vẫn được bọc kỹ trong lớp vải ướt, mơn mởn sức sống như chờ đợi bàn tay người nghệ nhân đánh thức.

Đang lúc hai ông cháu xếp đặt đồ đạc thì ngoài ngõ có tiếng bước chân giẫm lạo xạo trên sỏi đá, kèm theo tiếng ho hắng quen thuộc. Lão chèo đò Trần Thúc xăm xăm bước vào, trên tay bưng một chiếc rổ tre nhỏ bốc khói nghi ngút cùng ấm tích đất nung bọc trong giành mây giữ nhiệt.“Cụ Chung ơi! Lão vừa buông chuyến đò trưa, nghe tin hai ông cháu dọn vào đây nên ghé qua xem thế nào.” Trần Thúc xởi lởi cười, đặt rổ khoai nướng vỏ nứt vàng ươm cùng ấm tích lên mặt chõng: “Có mấy củ khoai mật xóm bãi vừa vùi tro nóng hổi với ấm chè xanh vừa hái ngoài vườn, mời cụ và cháu Vĩnh dùng tạm cho ấm bụng.”

Cụ Chung xúc động, vội chắp tay đáp lễ “Đa tạ chú Thúc. Chú chu đáo quá, lão già này thật chẳng biết lấy chi đền đáp.”

Trần Thúc rót một bát nước chè xanh sóng sánh màu hổ phách, hai tay cung kính dâng lên cụ Chung. Nhìn thần sắc trầm mặc pha lẫn âu lo của cụ già trăm tuổi, lão chèo đò thở dài một tiếng, cất giọng khuyên nhủ chân tình “Hồi nãy lão sang bến đưa khách, có trông thấy cánh cửa liếp bên nhà cụ bà khép chặt. Cụ chớ có buồn lòng mà sinh bệnh. Tính cụ bà xưa nay cả cái xóm đò này ai chẳng rõ, miệng lưỡi thì sắc sảo, dứt khoát như đao chém đá, nhưng tấm lòng thì thơm thảo như củ sâm nhánh thuốc. Người ta bảo khẩu xà tâm phật là thế đấy cụ ạ. Cụ bà giận mười năm, cái giận ấy sâu cay bởi vì thương nhiều, trông ngóng nhiều. Cụ cứ bền gan, nhẫn nại thêm ít bữa, mưa dầm ắt sẽ thấm lâu.”

Nghe lời gan ruột của người chèo đò thông hiểu tình đời, cụ Chung khẽ nhấp một ngụm nước chè chát ngọt nơi đầu lưỡi. Vị chè ấm áp lan tỏa khắp cơ thể, cụ gật đầu, giọng trầm đục “Chú Thúc nói phải lắm. Lão già này vụng về chuyện ăn nói, lại để lỡ hẹn cả một đời người, dẫu có phải đứng ngoài hiên chịu gió sương thêm trăm lần nữa cũng là điều nên làm.”

Trần Thúc ngồi trò chuyện thêm đôi ba câu chuyện mùa màng bến bãi rồi cáo từ ra về để kịp đón chuyến đò chiều.

Khi mặt trời lặn sau dãy núi phía xa, bóng tối dần dà nuốt trọn bờ dâu bãi mía. Đêm buông xuống xóm đò Thạch Thất tĩnh mịch đến nao lòng, chỉ còn nghe tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền dưới bến và tiếng dế rỉ rả trong bờ bụi. Sau khi giục Chung Vĩnh ăn củ khoai lót dạ rồi đi ngủ sớm để lấy lại sức sau chặng đường dài, cụ Chung chậm rãi bước đến bên chiếc bàn tre nhỏ.

Cụ bật đá lửa, thắp lên ngọn đèn dầu lạc le lói nhỏ bằng hạt đỗ. Ánh sáng vàng vọt run rẩy trong gió đêm, xua đi phần nào cái lạnh lẽo của gian chái ẩm thấp. Cụ Chung ngồi xuống mép chõng, run run mở chiếc bọc vải thô, lấy ra mười sáu thanh tre cật đã được vót nhẵn thín từ làng Cổ Mộc. Mười sáu nan tre tròn trịa, uốn cong mềm mại tượng trưng cho mười sáu vành của vầng trăng rằm trọn vẹn, không một vết xước, tấc nào cũng đều tăm tắp.

Cụ đưa ngón tay gầy guộc chằng chịt vết kim chằm khẽ v**t v* từng nan tre mát rượi. Từng đường uốn lượn này là tất cả tinh hoa, tâm huyết và cả chuỗi ngày sám hối của một đời người. Khung nón bài thơ này, cụ sẽ dùng từng sợi cước trong suốt, từng mũi kim thép để đan cài lại mối duyên xưa.

Gió sông ngoài khe liếp thổi lùa vào làm ngọn đèn dầu chập chờn chao đảo. Ánh đèn hắt bóng lưng còng của cụ Chung lên vách đất, soi rõ từng giọt nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo khi cụ lẩm bẩm: “Bà nó giận là phải, lỗi tại tôi cả…”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.